Xem Nhiều 1/2023 #️ 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1) # Top 7 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1) # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1) mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

“EM CON Ở ĐÂU”? Lampedusa, Ý

Ngày thứ hai mùng 8 tháng 7 năm 2013, Đức Giáo Hoàng đến Lampedusa, một hòn đảo của nước Ý. Nơi đó đã đón nhận hàng ngàn di dân trôi nổi trên biển, qua những lần vượt biển mà hàng trăm người đã phải chết. Ngài đã cử hành một phụng vụ thánh thể “hoán cải” và trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã tố cáo “sự toàn cầu hóa của tính vô cảm”, đồng thời nói lên lòng kính trọng đối với những dân cư thành Lampedusa, những tổ chức, hiệp hội… đã quan tâm đến những di dân. Ngài kêu gọi sống tính trách nhiệm và hoán cải. “Có những di dân đã chết trên biển cả trong những chiếc tàu, thay vì là con đường đi đến niềm hy vọng thì đã trở thành con đường dẫn họ tới cái chết”, câu nói của ĐTC lúc đó đã được báo chí đưa lên hàng đầu.

Nhưng trước tiên, tôi muốn nói một lời cảm ơn chân thành và khuyến khích với các đồng bào, anh chị em ở Lampedusa và Linosa, với những hiệp hội, với những tình nguyện viên, lực lượng an ninh… Các anh chị là một thực tại bé nhỏ song đã đưa ra một gương dũng cảm về liên đới ! Xin cảm ơn Tổng Giám mục Francesco Montenegro về sự giúp đỡ của ngài, về công trình và mục vụ gần gũi của ngài. Tôi xin thân thương chào thị trưởng, bà Giusi Nicolini, cảm ơn bà nhiều về tất cả những gì bà đã và đang làm. Tôi cũng ước muốn trở về trong tâm trí tôi đối với những người di dân Hồi giáo thân yêu mà chiều hôm nay bắt đầu tháng chay Rahmadan với lời chúc thu lượm được nhiều hoa quả thiêng liêng. Giáo hội gần gũi với các vị trong việc tìm kiếm một cuộc sống xứng đáng hơn cho quý vị và gia đình quý vị ! Sáng nay, dưới ánh sáng của lời Chúa mà chúng ta đã nghe, tôi ước mong đề nghị những lời chắc chắn sẽ khiêu khích lương tâm của tất cả chúng ta, thúc giục chúng ta phải suy nghĩ và thay đổi cụ thể một số thái độ…

Di dân Syria trên biển

“Adong, ngươi ở đâu?”. Đó là yêu cầu đầu tiên mà Thiên Chúa nói với con người sau khi phạm tội. Adong là một con người mất hướng đã đánh mất vị trí của mình trong vũ trụ bởi vì ông ta tưởng rằng mình sẽ đầy quyền lực để thống trị mọi chuyện và mọi loài, ước mong trở thành Thiên Chúa. Và sự hòa hợp đã bị rạn nứt, con người đã lầm lạc và ngày nay vẫn còn lặp lại trong tương giao với tha nhân, một tha nhân không còn là người anh em để yêu thương nhưng chỉ là người quấy rầy cuộc sống của tôi, sự tiện nghi của tôi. Và Thiên Chúa đặt câu hỏi thứ hai:

“Cain em ngươi ở đâu?”. Ước mơ trở thành lớn, vĩ đại như Thiên Chúa hay là trở thành chính Thiên Chúa, làm thành cả một chuỗi dài sai lầm, chuỗi dài đưa đến cái chết, vì đó là ngưỡng cửa làm đổ máu người anh em !

Hai câu hỏi đó của Thiên Chúa vẫn còn vang dội đến ngày hôm nay với tất cả sự mãnh liệt của nó ! Rất nhiều người trong chúng ta bao gồm cả chính tôi thực sự bị lạc hướng, chúng ta không còn lưu tâm đến thế giới mình đang sống, không băng bó cho nhau, không gìn giữ những gì Thiên Chúa đã tạo dựng cho chúng ta và cũng không còn có khả năng để gìn giữ chính mình cho nhau. Khi sự lạc hướng này mang những chiều kích của thế giới thì đương nhiên xảy đến những bi kịch như sự lạc hướng của Adong xưa.

“Em ngươi ở đâu?”

Đó là tiếng kêu trong máu mủ đã thấu đến ta, Thiên Chúa nói. Đây không phải là một câu hỏi cho người khác, nhưng là một câu hỏi cho chính tôi, cho chính anh, chị và tất cả mỗi người. Di dân là những người đang tìm kiếm để ra khỏi những tình huống khó khăn, để tìm gặp được chút ít thanh nhàn và bình an; họ tìm kiếm một vị trí tốt hơn cho chính họ và cho gia đình họ, nhưng họ lại tìm gặp cái chết. Biết bao nhiêu lần những người đó đã không tìm gặp được sự cảm thông, không tìm được sự đón tiếp, không thấy được tình liên đới. Và tiếng kêu của họ thấu Thiên Chúa ! Một lần nữa tôi xin cảm ơn những người dân thành Lampedusa về tính liên đới, vừa qua tôi đã lắng nghe được một trong những người anh em đó. Trước khi đến đây, họ đã ngang qua những người buôn lậu, những người khai thác sự nghèo khổ của người khác, những người mà sự nghèo khổ của người khác là một nguồn lợi ích cho chính mình. Thật là đau đớn thay ! Như vậy, một số người đã không đi đến được nơi mình ước mơ. “Em ngươi ở đâu?”, ai là người trách nhiệm về sự đổ máu này ? Trong văn chương Tây Ban Nha có một vở kịch của Lope de Vega giải thích lý do những người dân thành Fuente Ovejuna đã giết vị toàn quyền, bởi vì ông ta là một bạo chúa và bị giết bí mật. Khi vị thẩm phán của đức vua hỏi: “Ai đã giết vị toàn quyền?”, tất cả mọi người trả lời “Fuente Ovejuna thưa ngài”. Tất cả, mà không là ai ! Ngày hôm nay cũng vậy, câu hỏi này được lộ ra cách mãnh liệt: “Ai là người trách nhiệm về máu của những người anh chị em này?” – “Không ai”, bởi ai trong chúng ta cũng nói “không phải tôi, tôi không phải là người ở đây, là do những người khác, chắc chắn không phải tôi…”. Nhưng Thiên Chúa lại hỏi mỗi người trong chúng ta: “Máu của em ngươi ở đâu mà thấu đến ta?”.

ĐTC viếng thăm người tị nạn

Không một ai trong thế giới cảm thấy mình có trách nhiệm về điều đó; chúng ta đã đánh mất đi khái niệm về sự trách nhiệm huynh đệ; chúng ta đã rơi vào trong thái độ giả hình của vị tư tế và của người phục vụ bàn thờ mà Đức Giêsu đã nói trong dụ ngôn người Samaritano nhân hậu; chúng ta nhìn người anh em nửa sống nửa chết trên đường đi, có thể chúng ta nghĩ rằng: “Tội nghiệp thay”, và rồi chúng ta tiếp tục con đường của mình, vì “đó không phải là việc của tôi”; và từ đó chúng ta cảm thấy tâm hồn được bình an, chúng ta cảm thấy là chúng ta không sai luật. Nền văn hóa của sự sung túc, thoải mái làm cho chúng ta chỉ nghĩ đến chúng ta mà thôi, vô cảm với những tiếng kêu của người khác, sống trong những bong bóng xà phòng đẹp nhưng thực sự không có giá trị gì; chúng là ảo tưởng của sự phù phiếm, của sự tạm bợ, và vì ảo tưởng nên thờ ơ với người khác… Trong thế giới toàn cầu hóa này, chúng ta đã rơi vào sự toàn cầu hóa của vô cảm, quen với sự khổ đau của người khác, làm cho chúng ta trở thành “vô danh”, là những người trách nhiệm không tên, không dung mạo.

Ai trong chúng ta đã khóc “Adong, ngươi ở đâu?”, “Em của ngươi ở đâu?”, hai câu hỏi mà Thiên Chúa đặt cho lịch sử loài người ngay từ nguyên thủy, và ngày hôm nay, Ngài tiếp tục đặt cho mỗi người chúng ta. Tôi ước mong chúng ta phải tự đặt một câu hỏi thứ ba : “Ai trong chúng ta đã khóc cho sự kiện này và cho những sự kiện tương tự như vậy ? Ai đã khóc vì những người anh chị em mình đã chết? Ai đã khóc cho những người đi trong chiếc thuyền trên biển cả ? Ai đã khóc cho những người mẹ trẻ ôm con mình ? Ai đã khóc cho những người đàn ông khi họ ước muốn có được một cái gì đó để nâng đỡ chính gia đình của mình ?”. Chúng ta là một xã hội đã quên đi kinh nghiệm khóc, quên đi sự “cùng khổ đau” với người khác. Trong Phúc âm, chúng ta đã nghe tiếng hét, tiếng khóc, lời kêu van lâu dài: “Rasen khóc con cái mình… bởi chúng không còn nữa”, “Herode đã gieo rắc cái chết để bênh vực cho chính sự sung túc thoải mái của mình, để bảo vệ chính bong bóng xà phòng của mình”, và ngày hôm nay, điều đó vẫn còn tiếp diễn…

Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa bôi đi tất cả những gì vua Herode còn để lại trong tâm hồn chúng ta, cho chúng ta ơn biết khóc trên chính sự vô cảm của mình, biết khóc trên nỗi độc ác còn hiện diện trên thế giới, trong từng người vô tư, không lưu tâm đến những người đã lấy quyết định xã hội kinh tế mở ra con đường của những bi kịch như chúng ta đang thấy đây.

“Ai đã khóc ?” “Ai đã khóc ngày hôm nay trong thế giới ?”. Lạy Thiên Chúa, trong phụng vụ này là một phụng vụ hối cải, chúng con nài xin sự tha thứ về sự vô cảm của chúng con đối với nhiều người anh chị em của chúng con; lạy Cha, chúng con xin Cha tha thứ cho những người đã quen sống trong tiện nghi, đã khép lòng mình trong sự thoải mái sung túc của mình làm cho con tim của họ bị tê liệt, chúng con xin Cha tha thứ cho những người, qua các quyết định của họ trên bình diện quốc tế đã đưa đến những tình huống gây ra những bi kịch này. Xin Cha tha thứ ! Xin Cha cũng cho chúng con biết lắng nghe ngày hôm nay những câu hỏi của Cha : “Adong, ngươi ở đâu?” “Máu của anh em ngươi ở đâu ?”.

NT QUỲNH GIAO Fmm chuyển ngữ

13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3)

“Một giáo hội tự thiết lập là “trung tâm” sẽ rơi vào thuyết chức năng”

Năm 2015, nhân kỷ niệm hai năm Đức Phanxicô được bầu chọn làm giáo hoàng thứ 266 của Giáo hội, Nguyệt san Công giáo “Documentations Catholiques” đã chọn 13 bài diễn văn của ngài mà họ nhận định là thiết yếu và có thể xem đó là “chữ ký chính thức” của Đức Thánh Cha.

3. Ý thức hệ hóa sứ điệp Tin Mừng:

Ngay từ nguyên thủy, Giáo Hội đã gặp cám dỗ này : tìm giải thích sứ điệp Tin Mừng cách cổ truyền ngoài sứ điệp của Tin Mừng và ngoài Giáo Hội. Ví dụ: Aparecida có một lúc đã gặp cám dỗ dưới hình thức “khử trùng”. Người ta đã dùng phương pháp “xem, xét, làm” và đúng như vậy. Cám dỗ nằm ở sự việc là chọn “xem” một cách trung lập, như một thứ khử trùng và điều này thật sự không thực tế. Việc “xem” đúng là ảnh hưởng đến cái nhìn. Nhưng không có loại giải thích cổ điển theo cách “khử trùng”, vì vậy câu hỏi sẽ là: chúng ta nhìn thực tế với cái nhìn nào? Aparecida đã trả lời: với 4 trên 6 người, họ đã trả lời phải nhìn với cái nhìn của người môn đệ. Có những cách nhìn khác nữa để tư tưởng hóa sứ điệp và hiện nay tại châu Mỹ Latin và Caribe đã có những lời đề nghị theo kiểu đó. Tôi chỉ muốn nêu lên một vài đề nghị :

Hiện tượng giáo sĩ hoá giải thích phần nhiền tính thiếu trưởng thành và tụ do Kitô giáo mà hàng giáo dân châu Mỹ Latin đang sống

a) Kiểu thu gọn chủ nghĩa xã hội : đây là loại tư tưởng hóa dễ khám phá nhất. Có những lúc tư tưởng này rất mạnh, nó liên hệ đến sự tự phụ giải thích dựa trên nền tảng cổ theo lối nhìn của các khoa học xã hội. Tư tưởng này đụng đến nhiều phạm trù khác nhau, từ chủ nghĩa tự do thị trường đến các loại mác xít.

b) Tư tưởng hóa tâm lý : đây là loại tinh hoa cổ điển cuối cùng tóm gọn trong “việc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô” và tiến trình phát triển của nó dẫn đến một sự năng động hiểu biết về chính mình. Điểm này chúng ta thường gặp trong những lớp về linh đạo học, về những cuộc tĩnh tâm thiêng liêng… Cuối cùng điều này đưa đến kết quả dựa trên một cách hành xử tự quy chiếu về mình, làm con người tự tại. Ở đây, chúng ta không tìm thấy tính siêu việt cũng như cách hành xử truyền giáo.

c) Việc đề nghị ngộ đạo : điểm này khá tương tự với cám dỗ trên. Chúng ta thường gặp trong những nhóm tinh hoa đưa ra đề nghị của một linh đạo cao hơn, khá phi nhập thể và dẫn đến những thái độ mục vụ xuất phát từ “những vấn đề đang tranh cãi”, đây là lệch lạc đầu tiên của cộng đoàn tiên khởi và trong suốt thời gian của lịch sử Giáo Hội dưới hình thức của nhiều bản dịch được xem lại và chỉnh sửa. Người ta thường gọi nó nôm na là “những người tín hữu của Ánh Sáng” (bởi họ là những người tiếp nối văn hóa của Ánh Sáng).

d) Lời đề nghị theo Pilage : lời đề nghị lộ diện cách căn bản dưới hình thức của một sự phục hưng trước những tai họa của Giáo Hội, người ta tìm một phương pháp chỉ dựa trên kỷ luật bằng cách phục hưng những cách hành xử và hình thức lỗi thời mà nói một cách nào đó về mặt văn hóa cũng không có ý nghĩa gì. Tại châu Mỹ Latin, chúng ta gặp điều này trong những nhóm nhỏ của một số hội dòng mới mà các nữ tu tìm đến “một sự an toàn” tín lý hay kỷ luật. Điều này thực chất thật là thụ động, cho dù nó hứa hẹn một sự năng động ad intra (nội tại). Nó trở về quá khứ, tìm “lấy lại” quá khứ đã qua.

4. Thuyết chức năng :

Điểm này tự hân hoan với “tập nhật ký đi đường” hơn là sống thực tại của lịch trình đó. Quan niệm chức năng này không chấp nhận mầu nhiệm, chỉ nhìn đến năng suất, giới hạn thực tại của Giáo Hội vào một cơ cấu của một tổ chức phi chính phủ. Đối với họ, điều quan trọng là kết quả thấy được và những con số thống kê, từ đó đi đến mọi cách thức của những người thầu khoán trong Giáo Hội, thiết lập một loại “thần học của sự sung mãn” trong vấn đề tổ chức mục vụ. Quan niện này có nguy cơ làm cho Giáo Hội tê liệt.

Tượng chúa Kitô tại Rio de Janeiro, Brazil

Nt QUỲNH GIAO Fmm

chuyển ngữ

Đưa Ra Quyết Đinh: Khái Niệm Cơ Bản (P1)

I. KHÁI NIỆM CHUNG

1. Khái niệm

Nhà quản trị luôn luôn ra quyết định, và ra quyết định là một trong những kỹ năng chủ yếu của nhà quản trị. Bạn luôn luôn được mời ra quyết định và thực hiện quyết định. Chất lượng và kết quả của quyết định của bạn có khả năng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhân viên và tổ chức của bạn. Điều chủ yếu là bạn phải biết tối đa hóa khả năng ra quyết định của bạn nếu bạn muốn trở thành một thà quản trị thực sự có hiệu quả.

2. Phân loại:

– Quyết định theo chuẩn : các quyết định có tính hằng ngày, dựa vào qui trình có sẵn, đã hình thành tiền lệ.

– Quyết định cấp thời.

– Quyết định có chiều sâu : cần suy nghĩ, ra kế hoạch.

Ví dụ

Chuyến bay đến trễ. Giám đốc hãng hàng không Vietnam Airlines phải gặp hành khách và quyết định xem nên để họ chờ / cho họ về nhà. (cấp thời)

Mua 1 máy in cho cô thư ký đánh máy vi tính. (theo chuẩn)

Mua 10 máy vi tính cho các nhân viên gồm 6 kỹ sư & 4 cô thư ký. (có chiều sâu) 

2.1 Quyết định theo chuẩn

Quyết định theo chuẩn bao gồm những quyết định hàng ngày theo lệ thường và có tính chất lặp đi lặp lại. Giải pháp cho những quyết định loại này thường là những thủ tục, luật lệ và chính sách đã được quy định sẵn. Quyết định loại này tương đối đơn giản do đặc tính lặp đi lặp lại của chúng. Bạn có khuynh hướng ra những quyết định này bàng cách suy luận logic và tham khảo các qui định có sẵn. Vấn đề có thể phát sinh nếu bạn không thực hiện theo đúng các qui tắc sẵn có.

Dĩ nhiên là có những quyết định theo chuẩn không được trực tiếp giải quyết bằng những qui trình của tổ chức. Nhưng bạn vẫn có khuynh hướng ra những quyết định loại này gần như một cách tự động. Vấn đề thường chỉ nẩy sinh nếu bạn không nhạy cảm và không biết tác động đúng lúc. Một lời cảnh giác cho bạn : không nên để những quyết định theo chuẩn trở thành những chứng cứ biện hộ cho những quyết định cẩu thả hoặc tránh né.

2.2 Quyết định cấp thời

Quyết định cấp thời là những quyết định đòi hỏi tác động nhanh và chính xác và cần phải được thực hiện gần như tức thời. 

Đây là loại quyết định thường nảy sinh bất ngờ không được báo trước và đòi hỏi bạn phải chú ý tức thời và trọn vẹn. 

Tình huống của quyết định cấp thời cho phép rất ít thời gian để hoạch định hoặc lôi kéo người khác vào quyết định.

2.3 Quyết định có chiều sâu

Quyết định có chiều sâu bao gồm quá trình chọn lọc, thích ứng, và sáng tạo hoặc đổi mới. Việc chọn lọc từ những phương án của quyết định cho phép đạt được sự thích hợp tốt nhất giữa quyết định sẽ được thực hiện và một số giải pháp đã được đem thực nghiệm. Tính hiệu quả của bạn tùy thuộc vào việc bạn chọn quyết định, quyết định này phải được chấp thuận nhiều nhất, sinh lợi và hiệu quả nhất.

II. MÔ HÌNH RA QUYẾT ĐỊNH

– Xác định vấn đề. 

– Phân tích nguyên nhân 

– Đưa ra các phương án / giải pháp

– Chọn giải pháp tối ưu.

– Thực hiện quyết định. 

– Đánh giá quyết định.

1. Xác định vấn đề

Giai đoạn đầu tiên khi ra quyết định là phải nhận ra được rằng vấn đề đang tồn tại đòi hỏi một quyết định. 

Trước khi bạn bắt đầu quá trình ra quyết định, hãy chắc chắn là quyết định mà bạn sắp đưa ra thật sự là quyết định mà bạn phải làm. Nếu không là như vậy thì bạn hãy để mặc vấn đề. 

Bạn thường nghĩ rằng đã là một nhà quản trị thì mọi người rất rộng lượng chia sẽ các vấn đề cùng với bạn, và nếu có thể, họ sẽ cất dỡ gánh nặng của những vấn đề ấy!

1.1 Nhận biết vấn đề

– Tìm xem có những khác biệt nào giữa thực tế đang tồn tại và điều mà bạn cho là “tiêu biểu”.

– Xem xét nối quan hệ nhân – quả.

– Hỏi ý kiến những người trong cương vị để đưa ra được những triển vọng khác nhau hoặc để hiểu biết đúng bản chất của tình huống ra quyết định.

– Xem xét tình huống từ những góc độ khác nhau.

– Phải cởi mở khi chấp nhận rằng thậm chí bạn có thể là một phần của nguyên nhân gây ra vấn đề.

– Quan tâm theo dõi kết quả công việc nếu như nó không diễn ra như kế hoạch.

– Chú ý các vấn đề xảy ra có tình chất lặp đi lặp lại. Điều này thường cho thấy là chúng ta chưa hiểu vấn đề một cách đầy đủ

Vấn đề có thể được nhận biết sớm hơn nhờ :

– Lắng nghe và quan sát nhân viên để biết được những lo ngại của họ đối với công việc, công ty và những cảm nghĩ của họ đối với các đồng nghiệp và ban quản lý.

– Để ý đến hành vi không bình thường hoặc không nhất quán; điều này phản ánh một số vấn đề còn che đậy bên dưới.

– Nếu được, tiếp tục nắm bắt các thông tin về những việc mà đối thủ hoặc người khác đang làm.

Một khi bạn nhận biết được vấn đề hoặc tình huống “thực”, và hiểu những nguyên nhân của nó thì bạn phải đưa ra một trong những quyết định đầu tiên của bạn. 

Quyết định xem có phải :

– Không làm gì cả hay không (việc quyết định “không đưa ra quyết định gì cả” cũng là một quyết định).

– Chỉ quan sát vấn đề và trở lại vấn đề vào một ngày khác.

– Thử kiểm tra vấn đề.

– Cứ tiến tới tìm kiếm một giải pháp và đưa ra nhiều quyết định hơn.

1.2 Những khó khăn trong giai đoạn xác định vấn đề 

– Thành kiến thiên lệch do nhận thức :

+ Bảo thủ

+ Ảnh hưởng chính trị bởi người khác

+ Mô hình trí năng : mỗi người nhận thức vấn đề với một khía cạnh khác nhau.

– Kỷ năng phân tích kém :

+ Không rõ những gì đang xảy ra  hay gán cho cho nó 1 vấn đề gì đó.

+ Thiếu thời gian.

+ Tình huống phức tạp.

+ Coi giải pháp là vấn đề. 

1.3 Xác định vấn đề một cách hiệu quả

– Ý thức được những hạn chế về mặt nhận thức.

– Xem xét các mối quan hệ nhân quả.

– Xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau.

– Có đầu óc cởi mở, thậm chí chấp nhận rằng đôi khi chính bạn là một phần nguyên nhân của vấn đề.

– Theo dõi kết quả công việc, kịp thời phát hiện những bất thường khi việc không diễn ra theo như kế hoạch.

– Sử dụng công nghệ thông tin. 

2. Phân tích các nguyên nhân 

– Tập hợp các dữ liệu về tình huống.

– Xác định phạm vi vấn đề.

– Ước lượng hậu quả của vấn đề.

– Xem xét những hạn chế có thể có ảnh hưởng đến các giải pháp của vấn đề. 

2.1. Tập hợp dữ liệu về tình huống 

Điều này đòi hỏi khả năng phân biệt giữa sự kiện và ý kiến. Đặc biệt trong các vấn đề giữa các cá nhân với nhau, ý kiến của mọi người có thể rất mạnh mẽ và bị ảnh hưởng bởi xúc cảm. 

Bạn cần phải thu thập và tổ chức dữ liệu thích hợp cho vấn đề. Trên thực tế bạn sẽ không thể nào tập hợp được mọi thông tin mà bạn muốn, do đó bạn phải biết ưu tiên chọn cái gì là quan trọng nhất.

2.2. Xác định phạm vi của vấn đề 

Đó là một vấn đề giữa các cá nhân với nhau, một vấn đề về hệ thống hoặc một vấn đề thuộc nhóm ? Các nhân tố như vậy có thể có ảnh hưởng tới nguồn lực mà bạn cấp cho việc tìm kiếm giải pháp. 

2.3. Xác định hậu quả của vấn đề

Quyết định những hậu quả có thể có của vấn đề để thấy có phải phân tích thêm nữa hoặc nhận thêm nguồn lực nữa hay không ?

2.4. Xem xét những hạn chế có thể có ảnh hưởng đến giải pháp của vấn đề

Có những yếu tố nào có thể ngăn cản một giải pháp đạt kết quả tốt hay không ? Nếu lãnh đạo đã thiết lập một chương trình đặc biệt và phân tích ban đầu chỉ vào tính không hiệu quả, thì việc này không đáng để bạn phải mất thời gian, nguồn lực, năng lượng (hoặc công việc) vào việc cố gắng giải quyết vấn đề này.

Tập hợp dữ liệu để tách riêng rẽ những phức tạp của vấn đề.

Theo Blog Quản trị doanh nghiệp

Đức Phanxicô Đã Đúng Về Bao Cao Su Và Hiv

Nhà báo hỏi, ‘Chúng ta biết điều mấu chốt là ngăn chặn. Chúng ta biết bao cao su không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết nạn dịch này, nhưng nó là một phần giải pháp quan trọng. Có phải đến lúc Giáo hội thay đổi quan điểm về vấn đề này? Cho phép sử dụng bao cao su để ngăn chặn truyền nhiễm?

Và Đức Phanxicô nói rằng, câu hỏi này dường như quá hạn hẹp để bàn đến một vấn đề trải rộng và phức tạp như thế này. Sử dụng bao cao su, tự nó không bao giờ giải quyết được khủng hoảng HIV hay các vấn đề khác mà các quốc gia châu Phi đang phải đối mặt.

‘Vấn đề lớn hơn thế.’

Đức Giáo hoàng nói rằng, ‘Câu hỏi này khiến cha nghĩ về câu hỏi có người từng hỏi Chúa Giêsu: ‘Thưa thầy, xin nói cho tôi biết, chữa lành ngày Sabbath có hợp luật không? Có cần phải chữa bệnh ngày Sabbath không?’ Câu hỏi này, cái kiểu ‘Làm thế có hợp luật không’ … nhưng còn nạn suy dinh dưỡng, sự phát triển của con người, nạn nô lệ lao động, thiếu nước uống, các vấn đề đang có đó.’

Giáo hội Công giáo luôn luôn xác định việc dùng các biện pháp tránh thai nhân tạo là vô luân. Trong bài phỏng vấn năm 2010, Đức Bênêđictô XVI đã nói rằng, trong khi việc dùng bao cao su có thể là một bước tiến theo đường hướng đúng nếu như nó là một sự bận tâm cho tha nhân, nhưng nó vẫn là một giải pháp vô luân cho cuộc khủng hoảng HIV.

Nhưng Đức Giáo hoàng Phanxicô có đúng khi bỏ qua việc dùng bao cao su? Bao cao su có thực sự đóng một vai trò quan trọng và thực tế trong cuộc chiến chống HIV?

Nhiều chứng thực nói rằng ‘không’.

Tiết chế và chung thủy ở Uganda

Khi đại nạn HIV nổ ra vào thập niên 1980, đất nước Uganda là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất, theo Washington Post, đến năm 1991, có gần 25% dân số dương tính HIV.

Với sự hỗ trợ của các lãnh đạo tôn giáo trong nước, tổng thống Yoweri Museveni đã áp dụng sự can thiệp đơn giản và ít tốn kém nhất cho đất nước nghèo và bị chiến tranh giằng xé này, đó là một chương trình giáo dục công tiền hôn nhân, nhấn mạnh về sự tiết độ và chung thủy, và không cần dùng bao cao su trừ những trường hợp nguy cơ cao.

Trong vòng 8 năm, đất nước này đã tạo dược sự tụt giảm tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất thế giới.

Theo bài báo năm 2004 của tờ ‘Nhật báo Phát triển Thế giới,’ thì ‘việc ít cổ vũ sử dụng bao cao su trong thập niên 1980 và đầu 1990, đã góp phần trong thành công tương đối của chiến lược thay đổi hành vi ở Uganda.’

Nhưng ngay khi Uganda đang chứng kiến sự thoái trào của HIV, thì Hoa Kỳ lại can thiệp, tái cấu trúc đường lối của đất nước này, tập trung hơn vào bao cao su chứ không phải sự tiết chế và sống một vợ một chồng. Trong một bài viết trên Washington Post, nhà nghiên cứu HIV hàng đầu của Harvard, tiến sỹ Edward Green cùng với Wilfred Mlay, cựu phó chủ tịch của World Vision châu Phi, đã viết rằng trong khi Hoa Kỳ thật rộng tay giúp đỡ, nhưng các hệ tư tưởng và cách tiếp cận của Tây phương thực sự đã làm xóa mòn thành công trước đó của Uganda.

‘Sự thay đổi toàn diện của Uganda đang diễn tiến, thì các chuyên gia AIDS nước ngoài đến hồi đầu thập niên 1990, đem theo những cách tiếp cận y tế công, và cả các giá trị của Tây phương. Họ bắt đầu thay đổi các nỗ lực ngăn chặn dịch AIDS của Uganda, bỏ đi sự tiết chế và chung thủy, những mục tiêu mà nhiều người phương Tây thấy là không thực tế. Khi việc sử dụng bao cao su ngày càng phổ biến, thì tỷ lệ thanh niên độc thân quan hệ tình dục tăng từ 27% lên 7% từ năm 1995 đến 2000. Các viên chức y tế lo lắng rằng tỷ lệ nhiễm HIV cũng sẽ tăng theo.’

Vấn đề với bao cao su

Không bàn đến niềm tin tôn giáo, thì việc sử dụng bao cao su để hạn chế nhiễm HIV, đang cho thấy nhiều vấn đề vì nhiều lý do.

Một trong những vấn đề lớn nhất với việc khuyến khích dùng bao cao su như giải pháp đối với HIV, là việc hầu hết mọi người không phải lúc cũng dùng hay dùng cho đúng bao cao su, dù cho họ đã được giáo dục về tình dục.

Một nghiên cứu của ‘Biên niên Dược Trị liệu’ [The Annals of Pharmacotherapy] cho thấy trong số 500 cặp được bác sỹ nhắc đi nhắc lại là hãy dùng bao cao su, thì chỉ có 8 cặp lúc nào cũng dùng, còn những người khác thì không có dù biết đối tác của mình mang sùi mào gà. Một nghiên cứu khác cho thấy chỉ có 50% các cặp có một trong hai người mang HIV, sử dụng bao cao su không gián đoạn.

Một phần nữa của vấn đề là nguy cơ bù trừ. Trong một bài phỏng vấn với BBC, tiến sỹ Green nói rằng nguy cơ bù trừ xảy ra khi người ta dùng các công nghệ hạn chế nguy cơ nhưng lại nghĩ là nó tiệt trừ hết mọi nguy cơ.

Để làm ví dụ, tiến sỹ so sánh việc dùng bao cao su với kem chống nắng. Ông nói rằng, sự bảo vệ của kem chống nắng không còn nữa, khi mà người sử dụng cho rằng họ được bảo vệ hoàn toàn và do đó tắm nắng nhiều hơn thời gian chuẩn.

Cũng tương tự như thế, người dùng bao cao su cũng dấn vào các hành vi tình dục nguy cơ hơn, bởi vì họ tưởng mình được bảo vệ hoàn toàn, trong khi sự thật là việc cứ lao vào những người đã bị nhiễm HIV sẽ làm giảm tỷ lệ bảo vệ của bao cao su.

Hiện tượng nguy cơ bù trừ này cũng có nghĩa là những người sử dụng bao cao su có con số bạn tình lớn hơn, làm tăng nguy cơ lây nhiễm qua đường tình dục hơn. Nhiều bệnh lây nhiễm qua đường tình dục gây nên các vết nhiễm trùng hở miệng, là cổng vào thuận tiện cho HIV lây nhiễm.

Một lý do khác khiến cho việc dùng bao cao su không thể bảo vệ người ta khỏi HIV, là bởi khả năng truyền nhiễm của nó qua thời gian. Theo bài báo trên TheLancet năm 2001, người ta càng đổi bạn tình thường xuyên, thì càng dễ lây truyền HIV.

Điều này là bởi HIV có tính lây nhiễm cao ngay từ lần quan hệ đầu tiên, nhưng lại lặn và chỉ phát tác một thời gian về sau. Do đó, một người đã nhiễm, có thể nghĩ là mình không mắc HIV, và họ cứ tiếp tục lây lan cho người khác cho đến khi biết được sự thật. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu thời gian đổi bạn tình, ít nhất là 6 tháng, thì sẽ hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV rất nhiều.

Câu chuyện của hai quốc gia: Phi Luật Tân và Thái Lan

Hai đất nước khác nhau ở châu Á sẽ giúp minh họa rõ hơn về hiệu lực của chương trình khuyến khích tiết chế và chung thủy hơn là chương trình khuyến khích dùng bao cao su.

Năm 1984, cả hai quốc gia đều báo cáo ca nhiễm HIV đầu tiên. Nhưng, chính phủ hai nước đã có các phản ứng khác nhau về căn bản.

Phản ứng của Thái Lan là khuyến khích dùng bao cao su khắp cả nước, còn quốc gia Phi Luật Tân, phần đông là người Công giáo, lại tập trung vào việc khuyến khích tiết chế trước hôn nhân và chung thủy sau khi kết hôn.

Đến năm 2005, tỷ lệ nhiễm HIV ở Thái Lan cao hơn ở Phi Luật Tân đến 50 lần.

Và trong khi một vài chuyên gia khen ngợi Thái Lan thành công hơn Phi Luật Tân, bởi trước đó tình trạng của nước này còn nghiêm trọng hơn nhiều, nhưng các chuyên gia khác đã khẳng định không phải ngẫu nhiên khi đạo Công giáo thâm căn trong văn hóa Phi Luật Tân đã dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV thấp.

Công giáo và tỷ lệ nhiễm HIV

Dù cho một vài chuyên gia ngại ngần công nhận hiệu lực của các chương trình tiết chế và chung thủy được Giáo hội Công giáo khuyến khích, nhưng bài báo năm 2005 trên British Medical Journal đã khen ngợi thành công này.

‘Tỷ lệ người Công giáo ở một quốc gia càng lớn, thì tỷ lệ nhiễm HIV càng thấp.’ Nếu Giáo hội Công giáo đang thúc đẩy thông điệp về HIV ở các quốc gia này, thì có vẻ nó đang hoạt động tốt.

Theo cơ sở dữ liệu từ WHO, ở Swaziland, nơi 42.6% dân số nhiễm HIV, thì chỉ có 5% dân số là người Công giáo. Ở Botswana, nơi có 37% dân số nhiễm HIV, thì chỉ có 4% dân số là người Công giáo. Ở Nam Phi, 22% nhiễm HIV, chỉ có 6% dân số là Công giáo. Ở Uganda, với 43% dân số là Công giáo, tỷ lệ nhiễm HIV là 4%.’

‘Tôi là một người theo chủ nghĩa tự do nồng nhiệt, tôi không đi lễ, không bao giờ bầu cho một người đảng Cộng hòa.’

Trong bài báo ở phần trước của bài này, ông cũng thêm rằng thật sai lầm ki đặt chính trị và hệ tư tưởng lên trên mạng sống của những người đang gặp nguy cơ.

‘Hàng tỷ đôla và mạng sống của vô số đàn ông, đàn bà, và trẻ em, sẽ bị vứt đi, nếu như để cho hệ tư tưởng thắng thế trên một chính sách y tế đã được chứng minh là đúng đắn.’

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Bạn đang xem bài viết 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1) trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!