Xem Nhiều 2/2023 #️ 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3) # Top 6 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3) # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3) mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

“Một giáo hội tự thiết lập là “trung tâm” sẽ rơi vào thuyết chức năng”

Năm 2015, nhân kỷ niệm hai năm Đức Phanxicô được bầu chọn làm giáo hoàng thứ 266 của Giáo hội, Nguyệt san Công giáo “Documentations Catholiques” đã chọn 13 bài diễn văn của ngài mà họ nhận định là thiết yếu và có thể xem đó là “chữ ký chính thức” của Đức Thánh Cha.

3. Ý thức hệ hóa sứ điệp Tin Mừng:

Ngay từ nguyên thủy, Giáo Hội đã gặp cám dỗ này : tìm giải thích sứ điệp Tin Mừng cách cổ truyền ngoài sứ điệp của Tin Mừng và ngoài Giáo Hội. Ví dụ: Aparecida có một lúc đã gặp cám dỗ dưới hình thức “khử trùng”. Người ta đã dùng phương pháp “xem, xét, làm” và đúng như vậy. Cám dỗ nằm ở sự việc là chọn “xem” một cách trung lập, như một thứ khử trùng và điều này thật sự không thực tế. Việc “xem” đúng là ảnh hưởng đến cái nhìn. Nhưng không có loại giải thích cổ điển theo cách “khử trùng”, vì vậy câu hỏi sẽ là: chúng ta nhìn thực tế với cái nhìn nào? Aparecida đã trả lời: với 4 trên 6 người, họ đã trả lời phải nhìn với cái nhìn của người môn đệ. Có những cách nhìn khác nữa để tư tưởng hóa sứ điệp và hiện nay tại châu Mỹ Latin và Caribe đã có những lời đề nghị theo kiểu đó. Tôi chỉ muốn nêu lên một vài đề nghị :

Hiện tượng giáo sĩ hoá giải thích phần nhiền tính thiếu trưởng thành và tụ do Kitô giáo mà hàng giáo dân châu Mỹ Latin đang sống

a) Kiểu thu gọn chủ nghĩa xã hội : đây là loại tư tưởng hóa dễ khám phá nhất. Có những lúc tư tưởng này rất mạnh, nó liên hệ đến sự tự phụ giải thích dựa trên nền tảng cổ theo lối nhìn của các khoa học xã hội. Tư tưởng này đụng đến nhiều phạm trù khác nhau, từ chủ nghĩa tự do thị trường đến các loại mác xít.

b) Tư tưởng hóa tâm lý : đây là loại tinh hoa cổ điển cuối cùng tóm gọn trong “việc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô” và tiến trình phát triển của nó dẫn đến một sự năng động hiểu biết về chính mình. Điểm này chúng ta thường gặp trong những lớp về linh đạo học, về những cuộc tĩnh tâm thiêng liêng… Cuối cùng điều này đưa đến kết quả dựa trên một cách hành xử tự quy chiếu về mình, làm con người tự tại. Ở đây, chúng ta không tìm thấy tính siêu việt cũng như cách hành xử truyền giáo.

c) Việc đề nghị ngộ đạo : điểm này khá tương tự với cám dỗ trên. Chúng ta thường gặp trong những nhóm tinh hoa đưa ra đề nghị của một linh đạo cao hơn, khá phi nhập thể và dẫn đến những thái độ mục vụ xuất phát từ “những vấn đề đang tranh cãi”, đây là lệch lạc đầu tiên của cộng đoàn tiên khởi và trong suốt thời gian của lịch sử Giáo Hội dưới hình thức của nhiều bản dịch được xem lại và chỉnh sửa. Người ta thường gọi nó nôm na là “những người tín hữu của Ánh Sáng” (bởi họ là những người tiếp nối văn hóa của Ánh Sáng).

d) Lời đề nghị theo Pilage : lời đề nghị lộ diện cách căn bản dưới hình thức của một sự phục hưng trước những tai họa của Giáo Hội, người ta tìm một phương pháp chỉ dựa trên kỷ luật bằng cách phục hưng những cách hành xử và hình thức lỗi thời mà nói một cách nào đó về mặt văn hóa cũng không có ý nghĩa gì. Tại châu Mỹ Latin, chúng ta gặp điều này trong những nhóm nhỏ của một số hội dòng mới mà các nữ tu tìm đến “một sự an toàn” tín lý hay kỷ luật. Điều này thực chất thật là thụ động, cho dù nó hứa hẹn một sự năng động ad intra (nội tại). Nó trở về quá khứ, tìm “lấy lại” quá khứ đã qua.

4. Thuyết chức năng :

Điểm này tự hân hoan với “tập nhật ký đi đường” hơn là sống thực tại của lịch trình đó. Quan niệm chức năng này không chấp nhận mầu nhiệm, chỉ nhìn đến năng suất, giới hạn thực tại của Giáo Hội vào một cơ cấu của một tổ chức phi chính phủ. Đối với họ, điều quan trọng là kết quả thấy được và những con số thống kê, từ đó đi đến mọi cách thức của những người thầu khoán trong Giáo Hội, thiết lập một loại “thần học của sự sung mãn” trong vấn đề tổ chức mục vụ. Quan niện này có nguy cơ làm cho Giáo Hội tê liệt.

Tượng chúa Kitô tại Rio de Janeiro, Brazil

Nt QUỲNH GIAO Fmm

chuyển ngữ

13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1)

“EM CON Ở ĐÂU”? Lampedusa, Ý

Ngày thứ hai mùng 8 tháng 7 năm 2013, Đức Giáo Hoàng đến Lampedusa, một hòn đảo của nước Ý. Nơi đó đã đón nhận hàng ngàn di dân trôi nổi trên biển, qua những lần vượt biển mà hàng trăm người đã phải chết. Ngài đã cử hành một phụng vụ thánh thể “hoán cải” và trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã tố cáo “sự toàn cầu hóa của tính vô cảm”, đồng thời nói lên lòng kính trọng đối với những dân cư thành Lampedusa, những tổ chức, hiệp hội… đã quan tâm đến những di dân. Ngài kêu gọi sống tính trách nhiệm và hoán cải. “Có những di dân đã chết trên biển cả trong những chiếc tàu, thay vì là con đường đi đến niềm hy vọng thì đã trở thành con đường dẫn họ tới cái chết”, câu nói của ĐTC lúc đó đã được báo chí đưa lên hàng đầu.

Nhưng trước tiên, tôi muốn nói một lời cảm ơn chân thành và khuyến khích với các đồng bào, anh chị em ở Lampedusa và Linosa, với những hiệp hội, với những tình nguyện viên, lực lượng an ninh… Các anh chị là một thực tại bé nhỏ song đã đưa ra một gương dũng cảm về liên đới ! Xin cảm ơn Tổng Giám mục Francesco Montenegro về sự giúp đỡ của ngài, về công trình và mục vụ gần gũi của ngài. Tôi xin thân thương chào thị trưởng, bà Giusi Nicolini, cảm ơn bà nhiều về tất cả những gì bà đã và đang làm. Tôi cũng ước muốn trở về trong tâm trí tôi đối với những người di dân Hồi giáo thân yêu mà chiều hôm nay bắt đầu tháng chay Rahmadan với lời chúc thu lượm được nhiều hoa quả thiêng liêng. Giáo hội gần gũi với các vị trong việc tìm kiếm một cuộc sống xứng đáng hơn cho quý vị và gia đình quý vị ! Sáng nay, dưới ánh sáng của lời Chúa mà chúng ta đã nghe, tôi ước mong đề nghị những lời chắc chắn sẽ khiêu khích lương tâm của tất cả chúng ta, thúc giục chúng ta phải suy nghĩ và thay đổi cụ thể một số thái độ…

Di dân Syria trên biển

“Adong, ngươi ở đâu?”. Đó là yêu cầu đầu tiên mà Thiên Chúa nói với con người sau khi phạm tội. Adong là một con người mất hướng đã đánh mất vị trí của mình trong vũ trụ bởi vì ông ta tưởng rằng mình sẽ đầy quyền lực để thống trị mọi chuyện và mọi loài, ước mong trở thành Thiên Chúa. Và sự hòa hợp đã bị rạn nứt, con người đã lầm lạc và ngày nay vẫn còn lặp lại trong tương giao với tha nhân, một tha nhân không còn là người anh em để yêu thương nhưng chỉ là người quấy rầy cuộc sống của tôi, sự tiện nghi của tôi. Và Thiên Chúa đặt câu hỏi thứ hai:

“Cain em ngươi ở đâu?”. Ước mơ trở thành lớn, vĩ đại như Thiên Chúa hay là trở thành chính Thiên Chúa, làm thành cả một chuỗi dài sai lầm, chuỗi dài đưa đến cái chết, vì đó là ngưỡng cửa làm đổ máu người anh em !

Hai câu hỏi đó của Thiên Chúa vẫn còn vang dội đến ngày hôm nay với tất cả sự mãnh liệt của nó ! Rất nhiều người trong chúng ta bao gồm cả chính tôi thực sự bị lạc hướng, chúng ta không còn lưu tâm đến thế giới mình đang sống, không băng bó cho nhau, không gìn giữ những gì Thiên Chúa đã tạo dựng cho chúng ta và cũng không còn có khả năng để gìn giữ chính mình cho nhau. Khi sự lạc hướng này mang những chiều kích của thế giới thì đương nhiên xảy đến những bi kịch như sự lạc hướng của Adong xưa.

“Em ngươi ở đâu?”

Đó là tiếng kêu trong máu mủ đã thấu đến ta, Thiên Chúa nói. Đây không phải là một câu hỏi cho người khác, nhưng là một câu hỏi cho chính tôi, cho chính anh, chị và tất cả mỗi người. Di dân là những người đang tìm kiếm để ra khỏi những tình huống khó khăn, để tìm gặp được chút ít thanh nhàn và bình an; họ tìm kiếm một vị trí tốt hơn cho chính họ và cho gia đình họ, nhưng họ lại tìm gặp cái chết. Biết bao nhiêu lần những người đó đã không tìm gặp được sự cảm thông, không tìm được sự đón tiếp, không thấy được tình liên đới. Và tiếng kêu của họ thấu Thiên Chúa ! Một lần nữa tôi xin cảm ơn những người dân thành Lampedusa về tính liên đới, vừa qua tôi đã lắng nghe được một trong những người anh em đó. Trước khi đến đây, họ đã ngang qua những người buôn lậu, những người khai thác sự nghèo khổ của người khác, những người mà sự nghèo khổ của người khác là một nguồn lợi ích cho chính mình. Thật là đau đớn thay ! Như vậy, một số người đã không đi đến được nơi mình ước mơ. “Em ngươi ở đâu?”, ai là người trách nhiệm về sự đổ máu này ? Trong văn chương Tây Ban Nha có một vở kịch của Lope de Vega giải thích lý do những người dân thành Fuente Ovejuna đã giết vị toàn quyền, bởi vì ông ta là một bạo chúa và bị giết bí mật. Khi vị thẩm phán của đức vua hỏi: “Ai đã giết vị toàn quyền?”, tất cả mọi người trả lời “Fuente Ovejuna thưa ngài”. Tất cả, mà không là ai ! Ngày hôm nay cũng vậy, câu hỏi này được lộ ra cách mãnh liệt: “Ai là người trách nhiệm về máu của những người anh chị em này?” – “Không ai”, bởi ai trong chúng ta cũng nói “không phải tôi, tôi không phải là người ở đây, là do những người khác, chắc chắn không phải tôi…”. Nhưng Thiên Chúa lại hỏi mỗi người trong chúng ta: “Máu của em ngươi ở đâu mà thấu đến ta?”.

ĐTC viếng thăm người tị nạn

Không một ai trong thế giới cảm thấy mình có trách nhiệm về điều đó; chúng ta đã đánh mất đi khái niệm về sự trách nhiệm huynh đệ; chúng ta đã rơi vào trong thái độ giả hình của vị tư tế và của người phục vụ bàn thờ mà Đức Giêsu đã nói trong dụ ngôn người Samaritano nhân hậu; chúng ta nhìn người anh em nửa sống nửa chết trên đường đi, có thể chúng ta nghĩ rằng: “Tội nghiệp thay”, và rồi chúng ta tiếp tục con đường của mình, vì “đó không phải là việc của tôi”; và từ đó chúng ta cảm thấy tâm hồn được bình an, chúng ta cảm thấy là chúng ta không sai luật. Nền văn hóa của sự sung túc, thoải mái làm cho chúng ta chỉ nghĩ đến chúng ta mà thôi, vô cảm với những tiếng kêu của người khác, sống trong những bong bóng xà phòng đẹp nhưng thực sự không có giá trị gì; chúng là ảo tưởng của sự phù phiếm, của sự tạm bợ, và vì ảo tưởng nên thờ ơ với người khác… Trong thế giới toàn cầu hóa này, chúng ta đã rơi vào sự toàn cầu hóa của vô cảm, quen với sự khổ đau của người khác, làm cho chúng ta trở thành “vô danh”, là những người trách nhiệm không tên, không dung mạo.

Ai trong chúng ta đã khóc “Adong, ngươi ở đâu?”, “Em của ngươi ở đâu?”, hai câu hỏi mà Thiên Chúa đặt cho lịch sử loài người ngay từ nguyên thủy, và ngày hôm nay, Ngài tiếp tục đặt cho mỗi người chúng ta. Tôi ước mong chúng ta phải tự đặt một câu hỏi thứ ba : “Ai trong chúng ta đã khóc cho sự kiện này và cho những sự kiện tương tự như vậy ? Ai đã khóc vì những người anh chị em mình đã chết? Ai đã khóc cho những người đi trong chiếc thuyền trên biển cả ? Ai đã khóc cho những người mẹ trẻ ôm con mình ? Ai đã khóc cho những người đàn ông khi họ ước muốn có được một cái gì đó để nâng đỡ chính gia đình của mình ?”. Chúng ta là một xã hội đã quên đi kinh nghiệm khóc, quên đi sự “cùng khổ đau” với người khác. Trong Phúc âm, chúng ta đã nghe tiếng hét, tiếng khóc, lời kêu van lâu dài: “Rasen khóc con cái mình… bởi chúng không còn nữa”, “Herode đã gieo rắc cái chết để bênh vực cho chính sự sung túc thoải mái của mình, để bảo vệ chính bong bóng xà phòng của mình”, và ngày hôm nay, điều đó vẫn còn tiếp diễn…

Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa bôi đi tất cả những gì vua Herode còn để lại trong tâm hồn chúng ta, cho chúng ta ơn biết khóc trên chính sự vô cảm của mình, biết khóc trên nỗi độc ác còn hiện diện trên thế giới, trong từng người vô tư, không lưu tâm đến những người đã lấy quyết định xã hội kinh tế mở ra con đường của những bi kịch như chúng ta đang thấy đây.

“Ai đã khóc ?” “Ai đã khóc ngày hôm nay trong thế giới ?”. Lạy Thiên Chúa, trong phụng vụ này là một phụng vụ hối cải, chúng con nài xin sự tha thứ về sự vô cảm của chúng con đối với nhiều người anh chị em của chúng con; lạy Cha, chúng con xin Cha tha thứ cho những người đã quen sống trong tiện nghi, đã khép lòng mình trong sự thoải mái sung túc của mình làm cho con tim của họ bị tê liệt, chúng con xin Cha tha thứ cho những người, qua các quyết định của họ trên bình diện quốc tế đã đưa đến những tình huống gây ra những bi kịch này. Xin Cha tha thứ ! Xin Cha cũng cho chúng con biết lắng nghe ngày hôm nay những câu hỏi của Cha : “Adong, ngươi ở đâu?” “Máu của anh em ngươi ở đâu ?”.

NT QUỲNH GIAO Fmm chuyển ngữ

Bồi Ưoỡng Cbql Nâng Cao Năng Lực Qltc( P3)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TP.HCM

LỚP BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH, TÀI SẢN TRONG GIÁO DỤC

CHUYÊN ĐỀ 2:QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ GIÁO DỤC, CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ NHÀ TRƯỜNG Giảng viên: TS Vũ Lan Hương Th.S Đỗ Thị Ngọc Liên Th.S Phan Thị Thúy Ngọc Th.S Mai Thanh Thủy

Thành phố Hồ Chí Minh 2009MỤC TIÊU1. Giúp người học nắm vững và nâng cao hiểu biết các kiến thức về: – Những vấn đề cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường, trong giáo dục;Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. 2. Kỹ năng sử dụng kết quả hoạt động tài chính và quỹ;3. Nâng cao ý thức trách nhiệm và thái độ khách quan, khoa học trong việc quản lý tài chính tại cơ quan giáo dục và nhà trường. NỘI DUNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC II. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ GIÁO DỤC, CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ NHÀ TRƯỜNGPHƯƠNG PHÁPDiễn giảngNêu vấn đềLàm việc nhómBài tập trắc nghiệmBài tập tình huốngMỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC Tài chính trong nền kinh tế thị trườngTài chính là một phạm trù giá trị tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa.Tài chính xuất hiện trên cơ sở sự vận động tiền tệ, quan hệ tiền hàng của nền sản xuất hàng hóa Tài chính luôn gắn liền với nhà nước Sự ra đời và phát triển của tài chínhKhi Nhà nước ra đời, để duy trì hoạt động, Nhà nước đã dùng quyền lực chính trị để quy định sự đóng góp của cải của các tổ chức, đơn vị kinh tế và của cá nhân dân cư cho Nhà nước. Sự ra đời của Nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế mà trước đó chưa có. Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới dạng hình thái hiện vật. Đó chính là hình thái phôi thai của tài chính.Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa và sự phát triển của các hình thái giá trị dẫn đến sự ra đời của tiền tệ. Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, từ phần phối bằng hiện vật (phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài chính).Cùng với sự phát triển của Nhà nước và nền sản xuất hàng hóa, tài chính cũng phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ quan hệ phân phối bằng hiện vật lên quan hệ phân phối giá trị. Tài chính là gì? Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Tài chính phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.Bản chất của tài chính trong nền kinh tế thị trườngBản chất nhà nước quyết định bản chất của tài chính.Tài chính là công cụ tổ chức sản xuất và quản lý tổng hợp, là công cụ kiểm tra, kiểm soát của nhà nước với sản xuất và phân phối tổng sản phẩm xã hội nhằm thực hiện công bằng xã hội. Tài chính bao gồm những quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Căn cứ vào những hoạt động kinh tế – xã hội thường có các dạng quan hệ tài chính sau:Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và doanh nghiệpQuan hệ tài chính giữa Nhà nước với hộ kinh tế gia đìnhQuan hệ tài chính giữa đơn vị này với đơn vị khácQuan hệ tài chính giữa Nhà nước với các nước khác và các tổ chức quốc tế.Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.GNPQuỹ bù đắp Quỹ tích luỹQuỹ tiêu dùngTái SXMở rộng Quỹ tiêu dùngNhà nướcQuỹ tiêu dùngCá nhânHệ thống các mối quan hệ tài chínhVai trò của tài chínhTài chính, tiền tệ là công cụ quan trọng trong việc bảo đảm ổn định và tăng trưởng kinh tế.Tài chính, tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc phân phối tổng sản phẩm xã hội, điều tiết và quản lý vĩ mô của Nhà nước.Tài chính, tiền tệ là nguồn vật chất quyết định trong ổn định chính trị, bảo vệ đất nuớcTài chính, tiền tệ thực hiện kiểm tra tài chính đối với mọi họat động kinh tế – xã hội, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hiện tưởng tiêu cực trong đời sống xã hội.Các chức năng cơ bản của tài chínhChức năng phân phối Chức năng giám sátChức năng phân phốiPhân phối là gì? Là sự phân chia tổng sản phẩm quốc dân theo những tỉ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của Nhà nước, xã hội và cá nhân.Phân phối tài chính có đặc điểm:– Gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định.Diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo với sự thay đổi hình thái giá trị.Bao gồm cả quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lại.  Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân phối. Chức năng giám sát (giám đốc)Giám sát tài chính là gì? Là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu, nhược điểm trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân. Giám sát tài chính có đặc điểm:– Sử dụng tài chính như công cụ phân phối.– Có tính toàn diện, thường xuyên, liên tục, rộng rãi, kịp thời.Cơ chế QL kinh tế và cơ chế QL tài chínhCơ chế quản lý kinh tế là cách thức tổ chức, điều khiển vận hành nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với những quy luật khách quan, với những mục tiêu và những điều kiện kinh tế xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp.Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp và tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế quản lý tài chính phải phù hợp và thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế của cùng thời kìCơ chế quản lý kinh tế Kế hoạch hóa tập trungThị trườngCơ chế quản lý tài chínhCấp phát, giao nộpTự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự hạch toánTài chính trong giáo dụcHoạt động 1Ông/Bà hãy cho biết mục đích sử dụng tài chính trong giáo dục hiện nay?Theo Ông/Bà yêu cầu chủ yếu của quản lý tài chính trong giáo dục là gì?Nêu một số điều cần tránh trong quản lý tài chính?

Tài chính trong giáo dục: Tài chính trong giáo dục là chính sách sử dụng tiền, quản lý tiền theo các mục đích của nền giáo dục mà nhà nước đã đề ra. Mục đích của tài chính trong giáo dục: Mục đích của tài chính trong giáo dục là nhằm phục vụ cho các nhu cầu của quá trình đào tạo nhằm hình thành nhân cách và sức lao động cho thế hệ trẻ, các chủ nhân tương lai của quốc gia. Yêu cầu chủ yếu của quản lý tài chính trong giáo dục: – Tạo được chất lượng giáo dục – đào tạo đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội – Tuân thủ đúng các quy định về quản lý tài chính của Nhà nước.Một số vấn đề cần tránh: – Đạt chất lượng GD-ĐT nhưng thu chi sai quy định – Thu chi đúng quy định nhưng không đạt chất lượng GD-ĐT Những nhân tố chủ yếu trong hoạt động QLGDLuận đề

Hoạt động 2: Đánh giá trạng thái sau đây về công tác quản lý tài chính tại đơn vị công tác:a) thực hiện tốt chất lượng giáo dục – đào tạob) tuân thủ các quy định về chi tiêu tài chính của nhà nước.Theo Ông/Bà hiện nay đơn vị công tác đang ở mức nào?Suy ngẫm Trong quản lý tài chính tại đơn vị, Ông/Bà nhằm vào các tư tưởng quản lý nào sau đây? Hãy lý giải?Ổn định – củng cốỔn định – thích ứngỔn định – tăng trưởngỔn định – phát triểnĐầu tư cho giáo dục từ ngân sáchNgân sách Nhà nước (Government Budget) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.Tổng sản phẩm nội địa hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội.– Việc quản lý ngân sách giáo dục thực tế rất phân tán: các địa phương quản lý 74% ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm, các Bộ, ngành khác 21%, Bộ GD- ĐT quản lý 5%. Các địa phương và các Bộ, ngành khác không có báo cáo về tình hình và hiệu quả sử dụng ngân sách giáo dục cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo không đủ điều kiện để đánh giá hiệu quả đầu tư của nhà nước cho giáo dục trong toàn quốc. – Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp so với nhu cầu rất lớn của ngành. – Định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ giáo viên, điều kiện về cơ sở vật chất…), chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân. – Việc xây dựng định mức chi và phân bổ ngân sách cho giáo dục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm. – Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hàng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách và cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công.– Mức học phí quá thấp, dưới khả năng chi trả của người dân ở các vùng đô thị, không phù hợp với mặt bằng giá cả cùng với chính sách cải cách tiền lương trong những năm qua. Từ năm 2000 đến năm 2008, mức giá tiêu dùng đã tăng 1,84 lần.– Chỉ số giá cả tiêu dùng năm các năm qua tăng rất cao. – Cơ chế huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục chưa đồng bộ. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính trong các cơ sở giáo dục công lập nhìn chung còn hạn chế về tác dụng. Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dụcgiai đoạn 2009 – 2014- Chính phủ

Vai trò của tài chính với giáo dục? Vai trò quan trọng của tài chính với giáo dục trước hết thuộc về ngân sách nhà nướcCung cấp kinh phí cho hoạt động của hệ thống GDQDĐiều phối vĩ mô cơ cấu giáo dục về các mặt như quy mô, nội dung chương trình, thời gian, đội ngũ…Tài chính thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình phân phối và sử dụng các nguồn kinh phí đầu tư cho hệ thống GDQD để điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu chi tiêu phù hợp với các cấp học, ngành học nhằm bảo đảm chi đúng, chi đủ nội dung, mục đích, đúng chế độ, chính sách với GV, HS và các đối tượng quy định.– Tại phiên họp ngày 05 tháng 3 năm 2009, Bộ Chính trị đã kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 (Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009), trong đó có các nội dung trọng tâm về đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục như sau:– “Tăng đầu tư nhà nước cho GD-ĐT, ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải.– Không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Thực hiện tốt chủ trương xây dựng ký túc xá sinh viên và nhà công vụ cho giáo viên ở vùng khó khăn nhất. Hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách đối với trường ngoài công lập.– Đẩy mạnh việc thực hiện XHH giáo dục; Nhà nước có chính sách huy động mạnh mẽ các nguồn lực cho phát triển giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia các hoạt động phát triển GD. Xây dựng cơ chế quản lý, giám sát mọi nguồn lực đầu tư của xã hội cho giáo dục. – Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong giáo dục; thực hiện chế độ học bổng, học phí và hỗ trợ học tập theo hướng học phí ở giáo dục mầm non, trung học cơ sở và trung học phổ thông phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư và hoàn cảnh hộ gia đình; Nghị quyết 35/QH về đổi mới cơ chế tài chính đã được thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009.Mục tiêu của việc đổi mới cơ chế tài chính: Xây dựng một số cơ chế tài chính mới cho giáo dục và đào tạo, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và bảo đảm công bằng trong giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao.Hoạt động 3Ông/Bà hãy phân biệt cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp?Theo Ông/Bà điều gì mang lại sự khác biệt cơ bản này?Các văn bản QPPL điều chỉnh Cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công Cơ quan HC & đơn vị SNHoạt động trong hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước.Cung cấp dịch vụ về quản lý hành chính công và luật pháp cho xã hộiHầu hết không tạo ra nguồn thu nhập, nếu có chỉ là các loại phí theo quy định.Nguồn tài chính chủ yếu để trang trải mọi hoạt động của các cơ quan này chủ yếu là do ngân sách nhà nước cấp dựa vào dự toán được duyệt hàng năm.Tổ chức thuộc sở hữu nhà nướcCung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao…..Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà chủ yếu phục vụ cho lợi ích cộng đồng. Được phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu từ cung ứng dịch vụ để trang trải các khoản chi tiêu.Tự chủ trong cơ quan hành chính(NĐ130CP)Kinh phí giao nhưng không thực hiện chế độ tự chủQuy định tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính QUY ĐỊNH CỤ THỂ

a) Nguồn kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ

Tài khoản giao dịchĐVSN mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ. 2. Huy động vốn và vay vốn tín dụng1. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động có các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. Các dự án đầu tư từ nguồn vốn vay tín dụng, vốn huy động phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, công khai, dân chủ trong đơn vị, theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và báo cáo cơ quan quản lý cấp trên biết, theo dõi, kiểm tra thực hiện. 2. Huy động vốn và vay vốn tín dụng2. Về chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động:a) Chi trả lãi tiền vay cho các tổ chức tín dụng theo lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay; b) Chi trả lãi tiền huy động của cán bộ, viên chức (huy động vốn theo hình thức vay của cán bộ, viên chức) theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay, nhưng tối đa không quá mức lãi suất để tính chi phí hợp lý quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn hiện hành.2. Huy động vốn và vay vốn tín dụng3. Nguồn vốn chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động; tiền vay, tiền huy động để làm vốn hoạt động dịch vụ:a) Nguồn vốn chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động (theo hình thức vay của cán bộ, viên chức) đơn vị được tính trong chi phí của các hoạt động dịch vụ do các khoản vay và huy động mang lại. Trường hợp huy động vốn theo hình thức cán bộ viên chức cùng tham gia góp vốn với đơn vị và được hưởng lãi phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, thì lãi tiền huy động được chi trả từ tiền lãi của hoạt động dịch vụ đó, không được tính vào chi phí.b) Nguồn vốn chi trả tiền vay, tiền huy động thực hiện theo quy định hiện hành của nhà nước.4. Đơn vị được dùng tài sản mua sắm từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và từ nguồn vốn vay, vốn huy động để thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật; không được sử dụng kinh phí, tài sản của ngân sách nhà nước để thế chấp vay vốn, chi trả tiền vay, tiền huy động.3. Quản lý tài sản1. Đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước theo quy định hiện hành về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập. Việc quản lý sử dụng đất tại đơn vị sự nghiệp phải thực hiện theo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn luật hiện hành.2. Đối với các tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ đơn vị phải thực hiện trích khấu hao tài sản cố định theo chế độ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước quy định tại Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tiền trích khấu hao và tiền thu do thanh lý (sau khi trừ chi phí thanh lý) của tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, được để lại và hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động), được để lại tăng nguồn kinh phí đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị (đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp – nếu có). Tiền trích khấu hao, tiền thu do thanh lý (sau khi trừ chi phí thanh lý) của tài sản thuộc nguồn vốn vay, vốn huy động đơn vị được dùng để trả nợ tiền vay, tiền huy động. Trường hợp đã trả đủ tiền vay, tiền huy động, số còn lại đơn vị bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. 4. Hoạt động liên doanh1. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động có hoạt động liên doanh, liên kết thực hiện theo quy định tại Chuẩn mực số 07 – Kế toán các khoản đầu tư vào Công ty liên kết, Chuẩn mực số 08 – Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh, ban hành theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành và công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 3). 2. Đơn vị sự nghiệp được sử dụng tài sản đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, tiền vay, tiền huy động để góp vốn với các đơn vị, tổ chức khác dưới hình thức liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật. Việc sử dụng đất để góp vốn liên doanh liên kết phải thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn hiện hành.4. Hoạt động liên doanh3. Kết quả hoạt động tài chính đối với hoạt động liên doanh, liên kết của đơn vị sau khi nộp thuế theo quy định của pháp luật được hạch toán là kết quả của hoạt động dịch vụ và được quản lý sử dụng theo quy định của Thông tư này.4. Các hoạt động liên doanh, liên kết phải được công khai dân chủ trong đơn vị và thực hiện chế độ báo cáo cơ quan quản lý cấp trên theo quy định.II. TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TỰ BẢO ĐẢM VÀ BẢO ĐẢM MỘT PHẦN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNGTự chủTự chịu Trách nhiệm4.Sử dụng kết quả hoạt động tài chính1.Nguồn tài chính5.Sử dụng quỹ6.Thực hiện chi đối với khoản thu nhập tăng thêm2.Nội dung chi 3.Tiền lương, tiền công & thu nhập tăng thêm1. Nguồn tài chính1.1. Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm: a) Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;b) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);c) Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;d) Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;đ) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác);e) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;g) Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);h) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;i) Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;k) Kinh phí khác (nếu có).1. Nguồn tài chính1.2. Nguồn thu sự nghiệp:a) Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước; b) Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể: Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. c) Thu khác (nếu có).d) Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ. 1.3. Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.1.4. Nguồn khác: a) Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng và vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị.b) Nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.2. Nội dung chi2.1. Chi thường xuyên:a) Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định.b) Chi hoạt động thường xuyên phục vụ ch

Tiếng Trung Giao Tiếp Hay Mà Dễ ( P4 )

151. 对不起。Duìbùqǐ.Xin lỗi. 15 我对不住你。Wǒ duì bù zhù nǐ. Tôi có lỗi với bạn. 153. 抱歉。Bàoqiàn. Xin lỗi. 154. 我再次向您表示歉意。Wǒ zài cì xiàng nín biǎoshì qiànyì. Tôi thành thật xin lỗi ông lần nữa. 155. 还行。Hái xíng. Cũng được. 156. 别傻!Bié shǎ! Đừng có ngốc thế! 157. 请再说一次。Qǐng zài shuō yí cì. Xin nói lại lần nữa. 158. 可不是嘛!Kě bú shì ma! Đúng là như thế! 159. 正是如此。Zhèng shì rúcǐ. Chính xác như vậy. 160. 恰是如此。Qià shì rúcǐ. Hoàn toàn như vậy. 161. 当然。Dāngrán. Đương nhiên, tất nhiên. 162. 是的/ 对了/ 不错Shì de/ duì le/ bú cuò. Đúng rồi (không sai). 163. 确实不对。Quèshí bùduì. Chắc chắn là sai rồi. 164. 你过奖了。Nǐ guòjiǎng le. Bạn quá khen rồi. 165. 请。。。多多指教Qǐng… duōduō zhǐjiào . Mong … chỉ bảo. 166. 不要怕。/别怕。Bùyào pà./Bié pà. Đừng sợ. 167. 不好意思!Bùhǎoyìsi! Thật là ngại! 168. 麻烦你了!Máfan nǐ le! Làm phiền bạn rồi! 169. 我给你添麻烦了!Wǒ gěi nǐ tiān máfan le! Tôi làm phiền bạn rồi! 170. 不要拘礼!Bùyào jūlǐ! Không phải giữ lễ!

171. 一定要这样Yí dìng yào zhèyàng. Nhất định phải như vậy. 172. 决不。。。Jué bù… Quyết không…, nhất định không… 173.荣幸之至。Róngxìng zhī zhì. Thật vinh hạnh. 174. 真的。Zhēn de. Đúng vậy./ Thật đấy. 175. 可以。Kěyǐ. Có thể/ đồng ý. 176. 赶快。Gǎnkuài. Nhanh lên. 177. 我也如此。Wǒ yě rúcǐ. Tôi cũng như vậy. 178. 有可能。Yǒu kěnéng. Có khả năng. 179. 胡说。Húshuō. Vô lý/ Nói láo. 180. 不可能。Bù kěnéng. Không thể. 181.永不。。。Yǒng bù… Không bao giờ… 182. 那不行。(那办不通)Nà bù xíng.(Nà bàn bù tōng). Thế thì không được. 183. 那没有用。Nà méi yǒu yòng. Không có tác dụng. 184. 不切实际。Bú qiè shíjì. Không thiết thực, không sát thực tế. 185. 你先息怒。Nǐ xiān xīnù. Bạn hãy bớt giận đã. 186. 够了。Gòu le. Đủ rồi. 187. 就这样决定。Jiù zhèyàng juédìng. Cứ quyết định như vậy đi. 188. 对极了。Duì jí le. Rất đúng. 189. 好主意。Hǎo zhǔyì. Ý kiến hay. 190. 一点也不。。。Yìdiǎn yě bù… Không hề/ Một chút cũng không.

191. 。。。反之。。。… Fǎnzhī… …ngược lại… 192. 我不知道。Wǒ bù zhīdào.Tôi không biết. 193. 不要紧。Bú yàojǐn.Đừng vội/ Đừng lo lắng. 194. 不必提起(没有什么)。Bú bì tíqǐ (méi yǒu shénme).Đừng nhắc đến/ Không có gì. 195. 糟了。Zāo chúng tôi rồi. 196. 荒谬。Huāngmiù.Thật vô lý/ Thật hoang đường. 197. 请冷静下来。Qǐng lěngjìng xià lái.Xin hãy bình tĩnh. 198. 没办法。Méi bànfǎ.Chẳng có cách nào cả. 199. 我没有意见。Wǒ méi yǒu yìjiàn.Tôi không có ý kiến gì.

200. 我毫不惊奇(我早就知道了。)Wǒ háo bù jīngqí (wǒ zǎo jiù zhīdào le.)Tôi chả ngạc nhiên tý nào cả (Tôi đã sớm biết rồi).

Các bài hoc tieng Trung Quoc mà THANHMAISK đã giới thiệu với các bạn hi vọng sẽ giúp ích cho các bạn khi học tiếng Trung giao tiếp, làm cho cuộc nói chuyện vui vẻ và thú vị hơn.

Bạn đang xem bài viết 13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3) trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!