Xem Nhiều 2/2023 #️ Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân # Top 8 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài văn mẫu cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu sẽ giúp các em cảm nhận sâu sắc về tình yêu nước, vẻ đẹp đáng trân trọng của những người nghĩa sĩ nông dân trong kháng chiến chống Pháp xưa: Để bảo vệ cuộc sống, giành lại độc lập, hòa bình họ đã đồng khởi đứng lên, chấp nhận đánh đổi mạng sống để bảo vệ những giá trị mà họ trân quý ấy.

Đề bài: Cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

I. Dàn ý Cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Chuẩn)

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác phẩm– Bài văn tế là khúc tráng ca của những người nghĩa sĩ tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang.

2. Thân bài

a. Giới thiệu hoàn cảnh ra đời bài văn tế:– Được viết bởi Nguyễn Đình Chiểu dưới yêu cầu của tuần phủ Gia Định – Đỗ Quang.– Được ra đời sau khi đội quân nghĩa sĩ Cần Giuộc tấn công vào đồn Pháp, giết chết tên quan hai mang người Việt. Nhưng có hơn hai mươi nghĩa sĩ tử trận.– Bài văn đã khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân và được hưởng ứng nhiệt liệt.– Là khúc tráng ca về tượng đài bất tử của người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

b. Mở đầu bài thơ là sự khái quát về tình hình thời đại và khẳng định sự bất tử về tiếng thơm của người nghĩa sĩ nông dân.– Mở đầu “Hỡi ôi!”: lời than khóc, tiếc thương, lời hiệu triệu vong linh nghĩa sĩ.– Tái hiện khung cảnh thời đại “Súng giặc … trời tỏ: Đất nước đang bị xâm lược – lòng căm thù quân giặc của người dân thấu tận trời xanh.– Khẳng định sự bất tử của tượng đài người nghĩa sĩ– Nghệ thuật đối lập (chưa ắt danh nổi như phao – tiếng vang như mõ).

3. Kết bài

– Khẳng định hình tượng bất tử của người nghĩa sĩ

– Nghệ thuật xây dựng hình tượng kết hợp nhuần nhuyễn với trữ tình. Ngôn ngữ bình dị, gần gũi, trong sáng.

Mẹo Cách cảm nhận một tác phẩm thơ, văn

II. Bài văn mẫu Cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Bài mẫu số 1 (Chuẩn)

Có những cuộc đời còn sống mãi cùng non sông, đó là những con người dâng hiến tất cả tình yêu, sự hi sinh và cả sự sống cho sự trường tồn của non sông đất nước. Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm nào tuy hi sinh khi tuổi đời còn trẻ nhưng tình yêu nước, tấm lòng của họ mãi được hậu thế trân trọng và lưu danh đến muôn đời. Và bài tế “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu viết ra để tế lễ họ có thể coi là một khúc tráng ca của những người anh hùng tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang, lẫm liệt.

Vào năm 1859, thực dân Pháp đánh phá ba tỉnh miền đông Nam Bộ. Đến tháng 12/1861, chúng đánh úp ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Công. Ngày 16/12/1861, nghĩa quân ba xứ nhất tề tập hợp, nổi dậy, tập kích đồn giặc của Pháp, giết được tên quan người Việt theo Pháp và một số lính thuộc địa. Trong trận chiến này, hơn hai mươi người của nghĩa quân đã hi sinh nhưng nó đã làm dậy lên tinh thần yêu nước, ý chí sục sôi quyết bảo vệ non sông của những người dân Việt Nam. Bởi vậy, Đỗ Quang – tuần phủ Gia Định đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này nhằm khích lệ tinh thần của các nghĩa sĩ với lý tưởng “chết vinh còn hơn sống nhục”. Bài văn đã được hưởng ứng và truyền tụng đi khắp nơi và lần đầu tiên trong văn học dân tộc, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ chống ngoại xâm được dựng thành một tượng đài nghệ thuật bất tử.

Mở đầu bài văn tế, Nguyễn Đình Chiểu luận về lẽ sống chết, tái hiện bối cảnh lịch sử thời đại hào hùng và khẳng định tượng đài bất tử của người nghĩa sĩ nông dân. Mở đầu bằng từ “Hỡi ôi!”, ông như muốn bày tỏ sự thương tiếc, tiếng nấc nghẹn dành cho những người đã ngã xuống và cũng như lời gọi mời những anh linh các nghĩa sĩ yêu nước trở về nghe lại chiến tích của mình ngày nào. Câu tiếp theo, ông gợi lên hình ảnh của thời đại với cuộc xâm lược của thực dân Pháp với sức mạnh của những vũ khí tối tân “súng giặc đất rền” làm rung chuyển cả đất trời. Phía bên kia đối lập là hình ảnh những người nghĩa sĩ với một lòng quyết tâm giết giặc thấu tỏ đến tận trời xanh “lòng dân trời tỏ”. Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn chỉ là những người nông dân hiền lành, quanh năm chân lấm tay bùn, chỉ biết quen thân với đồng ruộng, “mười năm vỡ ruộng, chưa ắt danh nổi như phao”, thế nhưng khi giặc đến dày xéo quê hương, họ quyết tâm đứng dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm. Tuy rằng hi sinh nhưng tiếng thơm vì tình yêu nước thì còn lưu truyền mãi “tuy mất nhưng tiếng vang như mõ”. Nghệ thuật đối lập mà Nguyễn Đình Chiểu dùng ở đây đã làm nổi bật lên khung cảnh của thời đại khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đồng thời cũng khẳng định sự quyết tâm đánh đuổi giặc của những người nghĩa sĩ nông dân và tiếng thơm của họ còn lưu danh muôn thuở.

Sau phần khẳng định về sự bất tử của hình tượng người nghĩa sĩ, Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục làm rõ thêm về hình ảnh những người nghĩa sĩ đã quên mình vì đất nước ấy.

Những người nghĩa sĩ ấy vốn chỉ là những người nông dân hiền lành, “cui cút làm ăn, toan lo khó nghèo”, chẳng hề biết tới binh đao, cung trường ngựa đấu. Họ “cui cút làm ăn” trong âm thầm, lặng lẽ, không có ai để nương tựa, vậy mà vẫn khó nghèo cả một đời. Chỉ một câu thôi cũng đã làm hiện lên đầy đủ cái vòng luẩn quẩn không lối thoát của những người nông dân Việt. Bắt đầu “cui cút” làm ăn từ sớm, vật lộn để có cái ăn, chỉ quanh quẩn với xóm làng, con trâu cái cày, vậy mà kết thúc vẫn trong nghèo khó. Họ nào biết tới “cung ngựa, trường nhung”, cả đời “mắt chưa từng ngó” tới “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ”. Thế nhưng, đất nước lại bị bọn quân thù giày xéo, họ – những người nông dân chất phác ấy lại phải sống hàng ngày trong lo sợ bị quân giặc đuổi đánh “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng”, trông chờ quan quân tới dẹp lũ giặc mà “như trời hạn trông mưa”, càng trông lại càng chẳng thấy. Họ căm ghét lúc giặc mọi rợ, “vấy vá “tanh hôi” như “nhà nông ghét cỏ”. Họ căm hờn những kẻ “văn minh” đang giẫm đạp đất nước họ bằng “bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan”, bằng “ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ”. Vậy nên, khi có lời hiệu triệu đứng lên chống lại quân thù, họ đã chẳng ngại ngần mà đứng lên trở thành những dũng sĩ chống lại giặc Pháp, cứu nước cứu nhà, bảo vệ manh áo miếng cơm. Nguyễn Đình Chiểu đã khéo léo nhấn mạnh vào tinh thần yêu nước và tinh thần tự giác của những người nông dân ấy:

“Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó”.

“Nào đợi ai đòi ăn bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trống ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

Vì yêu nước, những người nông dân quyết đem tâm sức để đánh đuổi quân thù, tự nguyện ra nhập hàng ngũ, chẳng chờ đợi “ai đòi ai bắt”.

Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện chân thực cuộc sống của những người nông dân trước và sau khi giặc tới bằng bút pháp hiện thực và cả trữ tình nữa. Ông sử dụng biện pháp đối lập “chưa quen, chỉ biết”, “vốn quen, chưa từng” để làm nổi bật lên tầm vóc anh hùng của họ. Đồng thời qua đó, ông cũng bộc lộ niềm kính phục xen lẫn tự hào đối với những người nghĩa sĩ Cần Giuộc chí công vô tư ấy. Nếu như khi xưa, những người nông dân bị bắt đi lính cho những cuộc chiến tranh phi nghĩa với thái độ đau khổ:

“Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa”

Thì những người lính nông dân ở đây lại tự giác xung vào quân đội với sự vui vẻ, thái độ vô tư, tinh thần yêu nước và trách nhiệm với dân tộc. Họ chẳng chờ ai giục ai đòi đã hăm hở nhập ngũ. Dẫu họ biết rằng, ra trận “chữ hạnh” khó giữ, “nào ngờ da ngựa bọc thây, trăm năm âm phủ ấy chữ quy”. Thế nhưng, ngoái trông nhìn thấy sự tàn bạo của quân giặc, sự tàn phá chúng để lại khiến “cây cỏ mấy dặm sầu giăng”, “già trẻ hai hàng lụy nhỏ” khiến cho họ càng muốn tự giác xung quân “vi binh” để đánh tan lũ giặc “cho cam tâm”.

Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã dùng diễn biến tâm trạng của những người nghĩa sĩ để thổi lên tượng đài người nông dân nghĩa sĩ anh hùng. Họ từ những người nông dân hiền lành, chịu khó làm ăn, chỉ biết trông chờ tin quan tới dẹp giặc, vậy mà càng trông càng không thấy trở thành những nghĩa sĩ anh dũng, tự mình chống lại kẻ thù. Họ căm hờn những kẻ đã phá tan ruộng vườn của họ “bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó”, căm ghét những kẻ khiến “quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương”, những kẻ đã “quăng vùa hương, xô bàn độc” của họ. Vậy nên họ đứng lên theo tinh thần của tổ tiên truyền lại “đặng câu địch khái, về theo tổ phụ”

Tinh thần những người nghĩa sĩ ở đây đã chuyển hóa phi thường, từ lo sợ, đợi chờ, tới khi quyết tâm tự mình đứng lên chống trả, tạo nên hình tượng những người nghĩa sĩ anh dũng, bất tử trong lòng người dân quê hương.

Hai ngày để tập hợp đội nghĩa binh, chỉ hai ngày ngắn ngủi mà không có sự giúp sức của quan quân triều đình. Họ thiếu thốn đủ thứ, vũ khí, trang bị, lại chỉ là những “dân ấp dân lân” chỉ vì “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”, thế nhưng họ vẫn hăm hở rèn luyện hết sức:

“Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố”.

Những người nghĩa sĩ ấy chẳng có gì ngoài sức mạnh tinh thần. Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên sự khắc họa đối lập giữa quân giặc với đội quân dũng sĩ quê hương. Giặc Pháp với vũ khí tối tấn, với “tàu sắt, tàu đồng”, rồi “đạn to đạn nhỏ”, với bọn lính đánh thuê thiện chiến “mã tà ma ní”.Còn đội quân của chúng ta chỉ có “một manh áo vải”, vũ khí là “một ngọn tầm vông”, “dao tu, nón gõ”, “hỏa mai đánh bằng rơm cơm cúi”. Thế nhưng đội quân ấy lại lập được những chiến công vang lừng “đốt xong nhà dạy đạo kia”, “chém rớt đầu quan hai nọ”.

Bài văn tế cũng tái hiện lại cảnh giao tranh ác liệt, sục sôi ý chí giữa hai bên:

“Chi nhọc quan quản trống kì thúc giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn to đạn nhỏ, xô cửa xông tới, liều mình như chẳng có”.

“Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bộn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”.

Không khí trận chiến thật ác liệt, có tiếng trống thúc quân, tiếng gọi nhau vang dậy đất trời, hòa cùng tiếng súng nổ liên hồi. Các nghĩa sĩ Cần Giuộc chẳng quản tính mạng “liều mình như chẳng có” xông vào đồn giặc như vũ bão, “đâm ngang, chém ngược” khiến cho kẻ thù phải “hồn kinh”. Nguyễn Đình Chiểu đã tô đậm tinh thần quyết tử, dũng cảm, kiên cường của những người lính Cần Giuộc. Đồng thời ông cũng bày tỏ lòng khâm phục sâu sắc trước họ – những người nghĩa sĩ nông dân. Đây là tác phẩm đầu tiên trong đời của ông với hình tượng là người nghĩa sĩ nông dân áo vải. Nhưng ông đã dựng lên tượng đài bất tử về người nghĩa sĩ nông dân đánh giặc, cứu dân cứu nước.

Kết lại bài văn tế là sự cảm thương, sự thương tiếc của tác giả trước sự hi sinh anh dũng của những người nghĩa sĩ và lời khẳng định tấm gương của họ sẽ còn lưu mãi tới muôn đời sau.

Nguyễn Đình Chiểu đã dùng những lời văn đẹp đẽ nhất để dựng lên hình tượng người nghĩa sĩ. Thế nhưng, ông cũng không che giấu đi những sự tiếc thương, sự thật đau lòng khi những người nghĩa sĩ đã phải ngã xuống. Hình ảnh người “mẹ già khóc trẻ”, “vợ yếu chạy tìm chồng” khiến cho chúng ta cảm thấy thật thống thiết, bi thương:

“Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

Lời văn thật thống thiết, lâm li, bi ai. Hình ảnh những người nghĩa sĩ ngã xuống:”đâu biết xác phàm vội bỏ” khiến chúng ta vô cùng đau xót. Tiếng khóc nghẹn của người mẹ già, người vợ trẻ đều khiến chúng ta vô cũng xúc động, cảm thương.

Họ – những người nghĩa sĩ đã sống và chiến đấu anh dũng, hết mình cho Tổ quốc. Họ hi sinh với sự vẻ vang, với tiếng thơm muôn đời con mãi. Họ ngã xuống nhưng khẳng định một điều rằng: Đất nước của họ là độc lập, tự chủ, không một ai có quyền xâm lấn, nếu không, họ sẽ cầm súng, cầm dao, giáo mác, đứng lên mà đánh đuổi kẻ thù. Họ chính là những tấm gương anh dũng nhất, đáng tự hào nhất:

“Ôi!

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ”

Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc ấy là ngọn đèn, là tấm gương soi sáng cho dân tộc Việt Nam về tinh thần yêu nước, về bài học quý báu: “chết vinh còn hơn sống nhục”:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp được nguyện trả thù kia”

Công lao của họ sẽ còn mãi được ghi danh trong dòng lịch sử dân tộc:

“Nước mắt anh hùng chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”.

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là tiếng khóc bi tráng dành cho tượng đài những người lính nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc dũng cảm trong thời kì đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Kết hợp với nghệ thuật xây dựng hình tượng độc đáo, nhuần nhuyễn với chất liệu trữ tình, tính hiện thực cùng ngôn ngữ bình dị, sinh động đã tạo nên một trong những tượng đài người nghĩa sĩ đẹp nhất trong dòng lịch sử dân tộc ta.

Bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” không chỉ khẳng định một lòng yêu nước thiết tha của những người nông dân áo vải, của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu mà còn là lời tự hảo, lời cảm tạ sâu sắc của những người dân Việt Nam tới những người nghĩa sĩ áo vải kiên trung đã anh dũng đứng lên chống lại kẻ thù, bảo vệ quê hương. Họ là những tấm gương sáng về sự dũng cảm, tinh thần bất khuất, chí công vô tư, về lòng yêu nước nồng nàn mà các thế hệ chúng ta sau này phải luôn ghi nhớ và học tập.

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy mà mất tiếng vang như mõ.”

Phần đầu lung khởi của bài tế đã luận chung về lẽ sống chết. Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đối: “Súng giặc đất rền” với ” lòng dân trời tỏ”. Nghệ thuật ấy đã mở ra một hoàn cảnh tình thế bão táp của lịch sử. Đó là một sự đụng độ quyết liệt giữa thế lực xâm lăng tàn bạo với ý chí, nghị lực, kiên cường bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Tiếp đó tác giả lại sử dụng nghệ thuật đối về thời gian: “mười năm công vỡ ruộng” và “một trận nghĩa đánh Tây”, chính “mười” và “một” ấy đã khẳng định ý chí cao quý, những hy sinh oanh liệt của chiến sĩ Cần Giuộc.

Với những người nghĩa sĩ, nông dân mộc mạc ấy đã dâng hiến cả cuộc đời mình cho đất nước kể từ lúc chưa có chiến tranh hay điểm diễn ra chiến tranh xảy ra . Qua phần thích thực, tác giả đã ca ngợi công đức phẩm hạnh của người nông dân- anh hùng dân tộc.

“Nhớ linh xưa:Cui cút làm ăn; lo toan nghèo khó…..”

Nguồn gốc xuất thân của những nghĩa sĩ ấy là những người nông dân cui cút làm ăn, chịu thương chịu khó, sống cuộc sống của mình với đồng ruộng xóm làng với công việc quen thuộc: cuốc, cày, bừa, cấy… đâu biết đến “cung ngựa, trường nhung”, đâu biết tập khiên súng gì. Nghe thấy “phong hạc”, họ ngóng trông triều đình đưa ra kế sách để chống lại quân giặc, thế mà triều đình nhu nhược, không lo toan được việc nước, làm lòng dân càng thêm căm phẫn: ” Bữa thấy bòng bong, che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”

Trước khi cầm vũ khí đánh giặc, họ đều là những người nông dân xa lạ với chiến tranh, nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược đã làm nên một sự chuyển biến trong tâm hồn họ, họ đã trở thành những người lính can trường, yêu nước căm thù giặc, tự nguyện đứng lên chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả một cách chân thực sinh động gần gũi với tiếng ăn tiếng nói của người nông dân lao động. Họ ra trận chiến đấu mà chỉ được trang bị những dụng cụ thô sơ, thiếu thốn ( manh áo vải, ngọn tầm vông, dao tu, nón gõ) và nó đối lập hoàn toàn với những vũ khí hiện đại tối tân của kẻ xâm lược ( tàu thiếc, tàu đồng, đạn to, đạn nhỏ). Thử hỏi hai thứ vũ khí đối lập ấy khi tham gia trận chiến bên nào sẽ thiệt thòi và chịu cái kết đau thương? Thiệt thòi là thế, ấy vậy mà tinh thần của người nghĩa sĩ ấy sắt thép kiên cường, khí thế tấn công như vũ bão, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Bằng loạt ngôn ngữ góc cạnh, động từ mạnh: đốt, chém, đạp, xô, xông,.. Nguyễn Đình Chiểu đã cho thấy khí thế xông lên trận chiến của người dân với tinh thần bất khuất, xả thân vì nghĩa lớn của dân tộc. Cái chết- sự thật phũ phàng- nó là một tấn bi kịch đối với đất nước ta trong thời kì lịch sử đen tối ấy.

Trong phần cuối của bài văn tế, đó là tiếng ai vãn, tiếc thương của dân tộc trước sự hi sinh của những người đã ngã xuống. Tác giả đã bày tỏ nỗi đau đớn của người dân của chính tác giả qua từng câu chữ thấm đượm tình của mình. Những nghĩa sĩ ấy đã dùng cái chết của mình để làm sáng tỏ ra một chân lí “chết vinh còn hơn sống nhục”, đấu tranh tới cùng dù chết, còn hơn chung sống làm nô lệ cho bọn ngoại xâm. Những dòng cuối là những tiếng khóc thể hiện niềm tiếc thương ấy, bi mà không lụy, nó tiếp tục ca ngợi công lao của chiến binh , nó còn cổ động, thúc giục, khích lệ những người còn sống sẽ tiếp tục sự nghiệp chiến đấu của các chiến sĩ Cần Giuộc.

Nguyễn Đình Chiểu đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật, những nghĩa sĩ giản dị, mộc mạc mà sắt thép, kết hợp với chất trữ tình, tính hiện thực, ngôn ngữ trong sáng, đâm chất Nam Bộ đã tạo ra một bài ca không tuổi, ca ngợi về tinh thần oanh liệt của nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Bài văn tế đã kể lại công đức phẩm hạnh của những người đã mất đồng thời cũng bày tỏ lòng tiếc thương của người sống đối với họ với âm hưởng bi tráng. Những người chiến binh Cần Giuộc ấy sẽ sống mãi trong câu chữ của Nguyễn Đình Chiểu, sẽ mãi là là bức tượng đài bất tử của của dân tộc Việt Nam ta.

2. Bài mẫu số 2:

Nguyễn Đình Chiểu – một con người được mệnh danh là ngôi sao sáng trên bầu trời dân tộc. Ông không chỉ là một người thầy giáo mẫu mực, một người thầy lang y đức mà còn là một nhà thơ, nhà văn tài năng. Ông luôn dùng văn chương để chiến đấu vì chính nghĩa. Ta có thể thấy rõ sự chính nghĩa ấy thông qua tác phẩm nổi tiếng và vang mãi sau này của ông ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Ông đã dựng lên bức tượng đài bất tử về nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tác phẩm là tiếng khóc bi tráng trong thời kì lịch sử bi thương của dân tộc.

Mở đầu tác phẩm nhà văn đã kết hợp một câu cảm thán với nghệ thuật đối lập:

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy mà mất tiếng vang như mõ.”

Phần đầu lung khởi của bài tế đã luận chung về lẽ sống chết. Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đối: “Súng giặc đất rền” với ” lòng dân trời tỏ”. Nghệ thuật ấy đã mở ra một hoàn cảnh tình thế bão táp của lịch sử. Đó là một sự đụng độ quyết liệt giữa thế lực xâm lăng tàn bạo với ý chí, nghị lực, kiên cường bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Tiếp đó tác giả lại sử dụng nghệ thuật đối về thời gian: “mười năm công vỡ ruộng” và “một trận nghĩa đánh Tây”, chính “mười” và “một” ấy đã khẳng định ý chí cao quý, những hy sinh oanh liệt của chiến sĩ Cần Giuộc.

Với những người nghĩa sĩ, nông dân mộc mạc ấy đã dâng hiến cả cuộc đời mình cho đất nước kể từ lúc chưa có chiến tranh hay điểm diễn ra chiến tranh xảy ra . Qua phần thích thực, tác giả đã ca ngợi công đức phẩm hạnh của người nông dân- anh hùng dân tộc.

Cui cút làm ăn; lo toan nghèo khó…..”

Nguồn gốc xuất thân của những nghĩa sĩ ấy là những người nông dân cui cút làm ăn, chịu thương chịu khó, sống cuộc sống của mình với đồng ruộng xóm làng với công việc quen thuộc: cuốc, cày, bừa, cấy… đâu biết đến “cung ngựa, trường nhung”, đâu biết tập khiên súng gì. Nghe thấy “phong hạc”, họ ngóng trông triều đình đưa ra kế sách để chống lại quân giặc, thế mà triều đình nhu nhược, không lo toan được việc nước, làm lòng dân càng thêm căm phẫn: ” Bữa thấy bòng bong, che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”

Trước khi cầm vũ khí đánh giặc, họ đều là những người nông dân xa lạ với chiến tranh, nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược đã làm nên một sự chuyển biến trong tâm hồn họ, họ đã trở thành những người lính can trường, yêu nước căm thù giặc, tự nguyện đứng lên chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả một cách chân thực sinh động gần gũi với tiếng ăn tiếng nói của người nông dân lao động. Họ ra trận chiến đấu mà chỉ được trang bị những dụng cụ thô sơ, thiếu thốn ( manh áo vải, ngọn tầm vông, dao tu, nón gõ) và nó đối lập hoàn toàn với những vũ khí hiện đại tối tân của kẻ xâm lược ( tàu thiếc, tàu đồng, đạn to, đạn nhỏ). Thử hỏi hai thứ vũ khí đối lập ấy khi tham gia trận chiến bên nào sẽ thiệt thòi và chịu cái kết đau thương? Thiệt thòi là thế, ấy vậy mà tinh thần của người nghĩa sĩ ấy sắt thép kiên cường, khí thế tấn công như vũ bão, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Bằng loạt ngôn ngữ góc cạnh, động từ mạnh: đốt, chém, đạp, xô, xông,.. Nguyễn Đình Chiểu đã cho thấy khí thế xông lên trận chiến của người dân với tinh thần bất khuất, xả thân vì nghĩa lớn của dân tộc. Cái chết- sự thật phũ phàng- nó là một tấn bi kịch đối với đất nước ta trong thời kì lịch sử đen tối ấy.

Trong phần cuối của bài văn tế, đó là tiếng ai vãn, tiếc thương của dân tộc trước sự hi sinh của những người đã ngã xuống. Tác giả đã bày tỏ nỗi đau đớn của người dân của chính tác giả qua từng câu chữ thấm đượm tình của mình. Những nghĩa sĩ ấy đã dùng cái chết của mình để làm sáng tỏ ra một chân lí “chết vinh còn hơn sống nhục”, đấu tranh tới cùng dù chết, còn hơn chung sống làm nô lệ cho bọn ngoại xâm. Những dòng cuối là những tiếng khóc thể hiện niềm tiếc thương ấy, bi mà không lụy, nó tiếp tục ca ngợi công lao của chiến binh , nó còn cổ động, thúc giục, khích lệ những người còn sống sẽ tiếp tục sự nghiệp chiến đấu của các chiến sĩ Cần Giuộc.

Nguyễn Đình Chiểu đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật, những nghĩa sĩ giản dị, mộc mạc mà sắt thép, kết hợp với chất trữ tình, tính hiện thực, ngôn ngữ trong sáng, đâm chất Nam Bộ đã tạo ra một bài ca không tuổi, ca ngợi về tinh thần oanh liệt của nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Bài văn tế đã kể lại công đức phẩm hạnh của những người đã mất đồng thời cũng bày tỏ lòng tiếc thương của người sống đối với họ với âm hưởng bi tráng. Những người chiến binh Cần Giuộc ấy sẽ sống mãi trong câu chữ của Nguyễn Đình Chiểu, sẽ mãi là là bức tượng đài bất tử của của dân tộc Việt Nam ta.

3. Bài mẫu số 3

Thời gian cứ thế trôi qua nhưng những gì là giá trị, là vẻ đẹp cao quý thì luôn còn mãi. Lịch sử dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, oanh liệt có những mất mát cũng quá nhiều. Trong cuộc nổi dậy chống Pháp, những người nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy đã hi sinh nhưng vẻ đẹp hào hùng, bi tráng của họ mãi trường tồn cùng thời gian. Bởi vậy, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu là áng văn bất hủ ca ngợi vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Trong nước, nổi lên những cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm. Đến năm 1861, những người nghĩa sĩ nông dân quả cảm đã tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc, khiến một số quan quân của giặc và tên tri huyện tay sai bị tiêu diệt. Song thật không may, đã có khoảng hơn 20 nghĩa sĩ đã hi sinh. Xúc động trước tình cảnh đó, Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài văn tế để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ hi sinh trong trận này.

Mở đầu tác phẩm, trong phần Lung khởi, tác giả tái hiện tình cảnh đau thương của dân tộc với tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp: “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Tác giả đã ca ngợi tấm lòng của nhân dân tỏa sáng dù vũ khí quân đội vắng mặt. Đồng thời, nhà thơ cũng khái quát về hai quãng đời của người nông dân nghĩa sĩ: “Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ”. Tuy quãng thời gian làm nông dân rất dài, sống một cuộc sống bình yên, song họ sẵn sàng làm nghĩa sĩ chống giặc trong thời gian ngắn, để rồi danh thơm còn mãi với muôn đời. Họ là những người trượng nghĩa, mang tinh thần xả thân sẵn sàng đứng lên chống lại quân giặc.

Trong phần Thích thực từ câu 3 đến câu 15, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của người nghĩa sĩ nông dân trong cuộc sống đời thường và trong chiến tranh. Họ vốn xuất thân là những người nông dân quanh năm ngày tháng chỉ biết “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, nhưng khi giặc xâm lược, họ giờ đây không còn “trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Vẻ đẹp bình dị của những người nông dân chân lấm tay bùn giờ đây trở nên huy hoàng hơn bao giờ hết bởi tinh thần căm thù giặc sâu sắc ngùn ngụt chất chồng. Họ bày tỏ cảm xúc của mình một cách chân thật “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”. Họ nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc – đó là tham gia chiến đấu. Họ vào trận với “manh áo vải làm đồng” và những dụng cụ lao động thô sơ như ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay,… Vậy mà, chỉ với tinh thần dũng cảm, họ có thể tham gia trận công đồn: “Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”. Họ chiến đấu với hành động dứt khoát, mạnh mẽ: “đốt”, “chém”, “đạp rào”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược”,… Bởi vậy, họ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ: “mã tà ma ní hồn kinh, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”.

Phần Ai vãn từ câu 16 đến câu 25 bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người nông dân nghĩa sĩ. Đó là nỗi đau đớn khôn nguôi của thân nhân nghĩa sĩ: “Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”. Đó còn là nỗi căm giận tội ác kẻ thù hòa chung tiếng khóc nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó”. Xót xa là thế nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn khẳng định sự hi sinh của những nghĩa sĩ Cần Giuộc là anh dũng, là cao cả: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

5 câu thơ kết đã ca ngợi công lao bất diệt của những người nghĩa sĩ. Họ là những người “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ bình, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”. Thái độ tôn kính mà đau xót của tác giả không chỉ thể hiện qua từ ngữ trang trọng mà còn ở giọng điệu trầm buồn. Sự mặc niệm, nấc nghẹn đau đớn của Nguyễn Đình Chiểu ở cuối bài: “Hỡi ôi thương thay/ Có linh xin hưởng” cũng thể hiện tấm lòng ngợi ca công đức theo hướng vĩnh viễn, muôn đời.

Qua việc sử dụng thủ pháp tương phản đối lập, bút pháp hiện thực cùng giọng điệu trữ tình thống thiết, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là tượng đài ca ngợi người nghĩa sĩ Cần Giuộc, đồng thời cũng là tiếng khóc lớn của tác giả dành cho những người hi sinh và cho cả tình cảnh đau thương của đất nước. Bởi vậy, tác phẩm luôn song hành cùng thời gian bởi giá trị vĩnh hằng mà nó đóng góp.

Cảm Nhận Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

Bạn đang cần tìm những bài văn nêu cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc? Không cần tìm nữa. Đọc Tài Liệu sẽ lần giới thiệu tuyển chọn các bài văn hay nhất đã được sưu tầm và biên soạn kỹ lưỡng ở bài viết này. Qua các bài mẫu, bạn có thể tham khảo cách làm cùng như bổ sung vốn từ ngữ để bài làm văn của mình hay hơn.

Bài làm cảm nhận Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu

Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa đã đứng dậy chống Pháp và lựa chọn cho mình một cái chết thật oanh liệt: “thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. Có thể nói, bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là “khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” theo như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cuộc khởi nghĩa của những người nông dân Cần Giuộc đã đi vào thất bại. Họ phải ngã xuống giữa những chiến trường trong cảnh da ngựa bọc thây, xác phàm vội bỏ. Họ là những người thất thế, quả thực là như vậy. Nhưng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho họ sống lại trong những hình tượng mang đầy khí phách và hiên ngang. Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như trăng sao đã hiển hiện trong bài văn tế với âm hưởng của một khúc ca bi tráng. Người nghĩa quân Cần Giuộc chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung… Ấy thế mà khi giặt đến, họ liền trở thành những người dũng sĩ. Ở họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự giác tham gia đánh giặc: “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

Trong khi triều đình nhu nhược, chỉ bàn những kẻ nhượng bộ, đầu hàng quân giặc thì họ đã tự mình đứng dậy. Tinh thần: mến nghĩa làm quân chiêu mộ của những người dân cày thật là đáng khâm phục. Cuộc chiến đấu của họ rất nhiều khó khăn với những gian nan: lực lượng địch, lực lượng ta quá chênh lệch, thiếu kĩ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí. Đoàn nghĩa quân nông dân lại rất nghèo khổ, lam lũ. Họ gần như đi thẳng đến chiến trường từ những túp lều tranh rách nát và những luống cày quen thuộc, không mũ nón, không giáp trụ và cũng chẳng gươm giáo cung tên…

Tất cả trang bị của họ đều rất thô sơ, là những đồ dùng thường ngày, quen thuộc nhưng lại khiến cho kẻ thù thích điên bát đảo. Sức mạnh của họ không chỉ là sức mạnh thể lực mà đó còn là sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy danh vàng đỏ với đạo, lấy lòng dũng cảm để chống lại những chiếc tàu sắt, tàu đồng.

“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đèn xì, muốn ra cắn cổ”

Lòng căm thù giặc ấy đã đem đến cho những người nghĩa sĩ sự dũng cảm và sức mạnh đến phi thường. Họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như ở chỗ không người.

Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn đầy trang trọng, đẹp đẽ. Nhưng ông lại không thể che dấu sự thật đau lòng… Bài văn tế còn là đời ai oán, là tiếng khóc của ông trước sự thất thế và cái chết của nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho những người đọc chúng ta cảm thấy đau lòng. Đất trời, cỏ cây cũng phải rung động:

“Đoái trông Cần Giuộc; cỏ cây mấy dặm sầu giăng, nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.”

Đó còn là tiếng khóc của chính tác giả:

“Ôi thôi thôi! Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, đồn Lang Sa một khách đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.”

Cái bi bao trùm lên cả đoạn văn, nhưng đại bi ở đây không phải là bi thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì nước nhà, vì nhân dân. Đau mà không khiến cho người ta nản lòng thối chí, bi mà giục giã mọi người đứng dậy, hiên ngang chống lại kẻ thù. Cuộc khởi nghĩa tuy đã thất bại, nhiều người đã phải ngã xuống nhưng chết vinh còn hơn sống nhục. Họ đã để lại danh thơm muôn đời. Ra đi như những tấm gương sáng, trái lại vẫn còn sống mãi và có sức động viên lớn đối với cuộc chiến sau này…

➜ Tham khảo bài hướng dẫn soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để nắm được kiến thức về tác phẩm

Cảm nhận 15 câu đầu bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Có thể nhận định rằng, tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một bức tượng đài nghệ thuật về những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đặc biệt chúng ta cảm nhận được rõ nhất vẻ đẹp của những người nông dân đó trong 15 câu thơ đầu.

Mở đầu bài thơ là tiếng than “Hỡi ơi!”, đó chính là tiếng khóc cất lên giữa đất trời, khóc cho linh hồn của những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc, sống anh dũng, chết vẻ vang. “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”, câu thơ thứ nhất này tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát được hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc bấy giờ: Giặc xâm lược có vũ khí hiện đại, công phá dữ dội, súng nổ rền vang cả mặt đất. Còn ta chỉ có tấm lòng và ý chí quyết tâm giữ nước của nhân dân. Câu thơ thứ hai, nhà thơ đã đánh giá người nghĩa sĩ nông dân qua hai gia đoạn cuộc đời của họ: mười năm có công vỡ ruộng chưa chắc đã nổi danh, nhưng chỉ sau một trận đánh tây, tuy phải hi sinh nhưng tiếng tăm vang như mõ.

Tiếp theo, hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân đã được thể hiện qua hồi ức của nhà thơ. Họ vốn xuất thân là những người nông dân lam lũ, “Cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó”, có thể thấy tác giả Đồ Chiểu rất thương mến đối với kiếp người nhỏ nhoi, cùng khổ ấy, dù họ có cui cút, cặm cụi làm ăn nhưng vẫn đói nghèo. Rồi họ là những người thuần nông, chất phác, ngoài những việc đồng áng, họ chẳng biết đến việc gì khác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ” không gian sinh hoạt và làm việc của họ chỉ thu gọn lại trong ngôi làng, quẩn quanh và bé nhỏ. Những công việc “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy”, bao nhiêu công việc luôn chân tay và họ đã quen hàng ngày, còn những chuyện “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ” lại chưa từng biết đến. Nhà thơ đã nhấn mạnh đến bản chất của những người nông dân nghèo khổ, họ không hề biết tới việc quân việc lính hay chiến trận đao binh, họ chỉ cố gắng lo cho khỏi đói khổ, rách rưới.

Thế rồi giặc tới, suốt ba năm chịu khổ, họ đã đứng lên, trở thành những anh hùng nghĩa sĩ cứu nước, “Tiếng phong hạc” thể hiện cho sự hoảng loạn trước tấn công của kẻ thù, vua và quan quân triều đình e sợ, người nông dân chịu cảnh khổ, chỉ biết “phập phồng” trông chờ vào bậc quan quân của mình. Thế nhưng trông chờ trong mỏi mòn, lòng căm thù bọn giặc cướp nước đã rực lửa, hừng hực trong con người họ. Lúc đầu họ chỉ căm ghét chúng như loài dị tộc tanh hôi “mùi tinh chiên vấy vá”, ghét chúng như người nông dân “ghét cỏ” trên ruộng lúa của mình.

Nhưng rồi cứ thế ngày ngày giặc thù hiện ra ngang nhiên như đâm vào mắt “bòng bong che”, người nông dân lúc ấy chỉ còn thấy nhức nhối và gay gắt, căm thù mãnh liệt “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Tuy nhiên, sự căm thù đẩy lên đến đỉnh điểm khi nhắm tới một điều hết sức cao cả, thiêng liêng, đó là sự tự do và thống nhất của dân tộc, trách nhiệm trước công lí, chính nghĩa. Sự giả dối, mặt nạ nhân dạo “khai hóa”, “truyền đạo” của thực dân Pháp đã bị vạch trần, dã tâm của chúng đã được phơi bày. Từ đó người nông dân đã tự nguyện ra đánh giặc, và họ đã trở thành nghĩa sĩ:

“Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình. Chẳng ai thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

Câu thơ thể hiện khí thế hào sảng và hăm hở, dũng mãnh của người dân binh mộ nghĩa. Một lần nữa, nhà thơ lại nhắc lại tới nguồn gốc của họ, họ là người “dân ấp dân lân”, bước vào chiến đấu nhưng không được tập luyện hay chuẩn bị gì cả, những hiểu biết tối thiểu về kĩ thuật tác chiến cũng không hay biết “Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn”, “Chín chục binh thư không chờ bày bố”. Tuy họ không có kĩ thuật, không có võ nghệ và không được tập dượt nhưng họ lại rất chủ động “không chờ”, “không nài” mà đánh giặc, tự trang bị cho mình một cách thô sơ nhất “manh áo vải”, vũ khí là “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”. Hai câu thơ 14 và 15 đã thể hiện một cách rất sống động và chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trong giây phút công đồn:

“Chi nhọc quan quản trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không… Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.”

Câu văn với nhiều động từ, giới từ, đã tạo nên một không khí hết sức căng thẳng, quyết liệt, người nghĩa sĩ lao trong mưa đạn của kẻ thù như cơn cuồng phong bão táp, coi thường súng đạn tối tân, sát thương mạnh của kẻ thù. Họ xông xáo và lập nhiều chiến công vang dội.

Như vậy, qua 15 câu thơ đầu trong bài văn, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một hình tượng người nghĩa sĩ lam lũ mà cao đẹp, chân chất và vĩ đại. Đại diện cho hình tượng người nông dân trong lịch sử văn học yêu nước của Việt Nam.

➜ bình giảng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn tài ba khi đã nêu lên hình ảnh người nông dân trong văn học mà trong suốt các thời gian qua chưa được nhắc đến thông qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.Trong bài văn tế, hình ảnh người nông dân được khắc hoạ rõ ràng. Hình ảnh người nông dân nghèo khổ chỉ biết làm ăn một cách thầm lặng, quanh năm chỉ biết ruộng trâu, cần cù lao động. Họ là những người nông dân yêu ghét rõ ràng, căm thù quyết không đội trời chung với giặc khi thực dân Pháp xâm lược. Họ đã anh dũng chiến đấu và anh dũng hi sinh, trong lời văn là những lời lẽ bi thương đầy nước mắt nhưng không hề rơi nước mắt. Đó chính là cái hay của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời vào năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, Việt Nam. Sau khi chiếm được thành Gia Định vào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công… Ngày 15 tháng 11 năm Tân Dậu, những nghĩa sĩ mà là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã dũng cảm đứng lên chiến đấu tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình. Những tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh này.

Như chúng ta biết thì “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một “tác phẩm nghệ thuật” hiếm có. “Bi tráng” là tầm vóc và tính chất của tác phẩm nghệ thuật ấy: vừa hoành tráng, hùng tráng, vừa thống thiết, bi ai. Hùng tráng ở nội dung chiến đấu vì nghĩa lớn. Hùng tráng ở phẩm chất anh hùng, ở đức hi sinh quyết tử. Hùng tráng ở chỗ nó dựng lên một thời đại sóng gió dữ dội, quyết liệt của đất nước và dân tộc.

Mở đầu bài văn tế là hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên thống thiết, đó là tiếng khóc của nhà thơ đối với nghĩa sĩ, là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo:

“Súng giặc, đất rền; lòng dân trời tỏ” có ý nghĩa là Tổ quốc lâm nguy, súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương .

Trong cảnh nước mất nhà tan, chỉ có nhân dân đứng lên gánh vác sứ mệnh lịch sử, đánh giặc cứu nước cứu nhà. Và người nông dân chỉ biết cui cút làm ăn một cách tội nghiệp đã dũng cảm đứng lên đánh giặc giành lại nền độc lập cho Tổ quốc thân yêu mà sự dũng cảm đó xuất phát từ tấm lòng yêu nước có trong mỗi con người. Tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của những người nông dân, của những người áo vải mới tỏ cùng trời đất và sáng ngời chính nghĩa. Hình ảnh chính của bài văn tế chính là những chiến sĩ nghĩa quân Cần Giuộc.

Nguồn gốc của họ là nông dân nghèo sống cuộc đời “côi cút” sau luỹ tre làng. Chất phác và hiền lành, cần cù là chịu khó trong làm ăn, quanh quẩn trong xóm làng, làm bạn với con trâu, đường cày, sá bừa, rất xa lạ với cung ngựa trường nhung:

“Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”

Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp. Dù mệt mỏi hay vất vả thì họ vẫn âm thầm, lặng lẽ chịu đựng một mình mà chẳng nói với ai. “Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó” đã hiện lên đầy đủ một vòng đời không lối thoát của người nông dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ. Bắt đầu bằng cui cút, vật lộn làm ăn, toan lo để cuối cùng kết thúc trong nghèo khó. Họ là những người nông dân mà quanh năm chỉ biết làm với làm, chưa hề biết đến cái gì gọi là cung, cái gì gọi là ngựa.

“Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”.

Họ là lớp người đông đảo, sống gần gũi quanh ta. Quanh năm chân lấm tay bùn với nghề nông, “chưa hề ngó tới” việc binh và vũ khí đánh giặc:

“Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.

Thế nhưng khi đất nước quê hương bị giặc Pháp xâm lược, những người dân chân lấm tay bùn ấy đã đứng lên tình nguyện làm quân tự nguyện đánh giặc cứu nước cứu nhà, bảo vệ cái nghề làm lụng mà họ coi là bát cơm manh áo của họ là cái nghĩa lớn mà họ “mến” là đeo đuổi:

“Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới an gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

Đối với giặc Pháp và lũ tay sai bán nước, họ chỉ có một thái độ: “ăn gan” và “cắn cổ”,chỉ có một chí hướng: “phen này xin ra sức đoạn kình…, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

Trong bài văn tế Nguyễn Đình Chiểu đã có khắc nên sự đối lập giữa đoàn dũng sĩ của quê hương và giặc Pháp xâm lược. Giặc xâm lược được trang bị tối tân, có “tàu thiếc, tàu đồng”, “bắn đạn nhỏ, đạn to”, có bọn lính đánh thuê “mã tà, ma ní” thiện chiến. Trái lại, trang bị của nghĩa quân lại hết sức thô sơ. Quân trang chỉ là “một manh áo vải”. Vũ khí chỉ có “một ngọn tầm vông”, hoặc “một lưỡi dao phay”, một súng hoả mai khai hoả “bằng rơm con cúi”. Thế mà họ vẫn lập được chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo kia” và “chém rớt đầu quan hai nọ”.

Bài văn tế đã tái hiện lại những giờ phút giao tranh ác liệt của các chiến sĩ nghĩa quân với giặc Pháp:

“Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.” “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho ma ní, mã tà hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

Không khí chiến trận có tiếng trống thúc quân giục giã, “có bọn hè trước, lũ ó sau” vang dậy đất trời cùng tiếng súng nổ. Các nghĩa sĩ của ta coi cái chết như không, tấn công như vũ bão, tung hoành giữa đồn giặc: “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược”, “hè trước, ó sau”. Giọng văn của Nguyễn Đình Chiểu đã tô đậm tinh thần dũng cảm, kiên cường bất khuất của các nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Ông cũng thể hiện rõ lòng khâm phục đối với người nghĩa sĩ nông dân. Từ trước đến nay, đây là tác phẩm đầu tiên có đưa hình ảnh của nghĩa sĩ nông dân.

Trong bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn có tiếng khóc của mẹ già nơi quê nhà trông chờ con về, vợ thương nhớ về chồng, con ngóng cha về nghe thống thiết, bi ai. Nhiều nghĩa sĩ đã ngã xuống trên chiến trường trong tư thế người anh hùng:

“Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

Đất nước, quê hương vô cùng thương tiếc. Một không gian rông lớn bùi ngùi, đau đớn:

“Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”.

Tiếng khóc của người mẹ già, nỗi đau đớn của người vợ trẻ, nỗi nhớ thương của con cái được nói đến vô cùng xúc động:

“Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng chiến đấu, và hi sinh rất vẻ vang. Tấm gương chiến đấu và hi sinh của họ là để ta biết rằng đất nước nào cũng là độc lập, tự chủ, không ai được quyền xâm chiếm. Họ là tấm gương sáng rất đáng tự hào:

Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ”

Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài học quý báu mà họ đã để lại: Thà chết vinh còn hơn sống nhục. Họ là tấm gương sáng để dân tộc Việt Nam noi theo mà làm, là ngọn đèn soi sáng cho dân tộc Việt Nam.

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giăc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;…”.

Công lao của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc sẽ đời đời nằm trong lòng mỗi người dân Việt Nam về tấm gương anh dũng, sẵn sàng xả thân vì độc lập Tổ Quốc.

“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”.

Tóm lại, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khẳng định tấm lòng yêu thương dân thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc đã anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập vững chắc của quê nhà, nơi họ đã sinh ra và lớn lên hay đó là Tổ quốc mà đối với họ “nó” rất quan trọng trong cuộc đời. Nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc chính là tấm gương về tinh thần dũng cảm, lòng yêu nước sâu sắc để cho các thế hệ đi sau khi đọc được bài văn tế này mà noi theo để xây dựng đất nước càng ngày giàu mạnh hơn.

Sống trong cuộc đời tránh sao được cái quy luật sống và chết. Người ta vẫn thường nói chết là hết. Nhưng có những cái chết không một tiếng vang, lại có những cái chết để tiếng thơm muôn thuở. Những người nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đến sáu tỉnh chúng đều khen. Thác mà ưng đình miếu để mà thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Có thể nói toàn bộ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang (Phạm Văn Đồng).

Đó là vào năm 1859, sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đến tháng 12/1861, Pháp đánh úp ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Công. Hai ngày sau, nghĩa quân ba xứ nhất tề nổi dậy, tập kích dồn quân Pháp, đốt nhà Dòng, nơi chúng đóng quân, giết chết một tên quan hai Pháp và một số lính thuộc địa. Nghĩa quân hi sinh khoảng 15 người. Trận thắng không lớn nhưng nó làm nức lòng những người dân yêu nước Việt Nam đang sôi sục ý chí bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế để khóc thương và biểu dương tinh thần hi sinh vì nước của nghĩa quân Cần Giuộc. Áng văn làm rung động sâu sắc tâm hồn những người dân yêu nước Việt Nam. Nhà thơ Mai Am từng có thơ đề cảm:

Điếu văn tam phục trụng đê hồi Nghị phách từ phong tận khả ai.

Nghĩa là, đọc bài văn điếu ba lần trong dạ bồi hồi khôn xiết, nghĩa khí mạnh lời văn hùng thật đáng xót thương.

Có thể thấy hình ảnh người nông dân Cần Giuộc là hình ảnh nổi cộm lên giữa những suy tư, suy ngẫm về cuộc chiến đấu của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây cũng là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Nó đánh dấu vào lịch sử văn học dân tộc về một tượng đài bất hủ về hình ảnh người anh hùng áo vải giết giặc cứu nước.

Theo bố cục bài văn tế, chúng ta đi vào tìm hiểu và làm sáng tỏ những nét đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong cuộc chiến đấu chống Pháp.

Ở những câu đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại lịch sử khốc liệt, hào hùng: một bên là cuộc xâm lược của thực dân Pháp với tất cả sức mạnh áp đảo về vũ khí (súng giặc đất rền), một bên là cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nhân dân ta với khí thế ngút trời (lòng dân trời tỏ). Người nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm: Côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung. Ấy vậy mà khi giặc đến, họ liền trở thành những dũng sĩ, Nguvễn Đình Chiểu đã khéo léo nhấn mạnh đến tinh thần tự giác:

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Ở đây bút pháp hiện thực kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp trữ tình. Vừa tái hiện chân thực cuộc sống con người trong một thời điểm quan trọng nhất, lại vừa bộc lộ sâu sắc niềm trân trọng tự hào lẫn sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Hành động tự giác xung vào đội quân chiến đấu chống Pháp cho thấy thái độ vô tư trong suy nghĩ, trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh đất nước của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhớ lại những câu ca dao Lính thú đời xưa. Họ cũng là những nông dân nhưng bị bắt buộc phải phục vụ cho những cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa, nên thái độ của họ thật khác xa:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Còn ở đây, mặc dù đội nghĩa binh Cần Giuộc mới được tập hợp trong vòng hai ngày trước trận tập kích đồn quan Pháp. Chỉ có hai ngày, trong hoàn cảnh phải hoàn toàn tự lực, không có sự giúp đỡ của quan quân triều đình nên họ thiếu thốn đủ thứ, vậy mà họ hăm hở biết bao:

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn, chín chục trận binh thư, không chờ bày bố. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ.

Sức mạnh của những người nghĩa quân không gì khác ngoài sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy gan vàng đọ với đạn sắt, lấy lòng căm hờn chống lại tàu sắt, tàu đồng. Chính lòng căm hờn đã đem đến cho họ sự dũng mãnh và sức mạnh phi thường kẻ đâm ngang người chém ngược họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như chỗ không người. Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có. Hai từ cũng được lặp lại ở câu mười ba (cũng đốt xong nhà dạy đạo kia, cũng chém rớt đầu quan hai nọ) vừa làm nổi bật thế tương phản của trận đánh, vừa vang lên như một tiếng reo vui đầy tự hào của những con người đầy lòng tự tin vào sức mạnh chính nghĩa của mình.

Nguyền Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn thật trang trọng đẹp đẽ, nhưng ông không che giấu sự thật đau lòng. Bài văn còn là lời ai điếu, là tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sự thất thế và cái chết của người nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho đất trời, cỏ cây, con người đều động lòng.

Ôi thôi thôi! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngỏ.

Cái bi tráng bao trùm lên cả đoạn thơ, nhưng cái bi ở đây không phải là cái thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản lòng, thối chí, khi mà giục giã mọi người đứng dậy hiên ngang. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại. Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống, nhưng chết vinh còn hơn sống nhục: Thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Chết như thế là để lại tấm gương chói lọi, có sức động viên lớn đối với cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục.

Có thể nói, dù đã ngã xuống, nhưng hình ảnh người nông dân giết giặc vẫn mãi ngời sáng. Đó chính là những trái tim ngời sáng trong cát, để lại tiếng thơm muôn đời.

Cất lên những tiếng khóc này, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định đây là cái tang chung của mọi người, của dân tộc. Vì vậy có bi mà không có lụy. Cái bi thì thăm thẳm, nỗi đau đầy cảm hứng trữ tình lên đến tột đỉnh, tạo nên những câu văn vật vã: mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng. Đây không còn là văn mà là lệ. Phải có tài, có tình và một tinh thần dân tộc, một nhận thức đúng đắn xem mũi tên lịch sử đang đi về đâu. Điều này Nguyễn Đình Chiểu hiểu rõ và rất tâm huyết.

Như vậy, viết về hình ảnh người nông dân đánh giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa họ ở ba nét chủ yếu. Thứ nhất, hình ảnh người nông dân chân chất, hiền lành quanh năm chỉ biết sống và làm việc với cày cuốc, ruộng đồng. Thứ hai, đó là tinh thần yêu nước căm giặc sâu sắc đã thôi thúc họ trở thành những chiến binh dũng cảm, vô tận sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Thứ ba, mặc dù đã ngã xuống nhưng họ vẫn là những biểu tượng đẹp về hình ảnh những anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang, sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…

Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương xuất sắc không phải chỉ của riêng Nguyễn Đình Chiểu mà còn là của văn học Việt Nam thời Trung đại. Bằng một bút pháp trữ tình kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp hiện thực, bằng ngôn ngừ bình dị mà gợi cảm, bài văn đã tái hiện chân thực sâu sắc và đầy xúc động cả một thời đau thương nhưng anh dũng của dân tộc, đồng thời xây dựng nên một tượng đài có một không hai trong lịch sử văn học thời trung đại về người nông dân nghĩa quân chống giặc ngoại xâm.

➜ Tham khảo một số bài văn mẫu phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Thanh Long (Tổng hợp)

Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) – Phần 2: Tác phẩm

Câu 1 (Trang 65 sgk ngữ văn 11 tâp 1)

Bố cục:

– Phần 1 – Lung khởi ( Hỡi ôi … tiếng vang như mõ): Khái quát bối cảnh thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết của người nghĩa binh nông dân

– Phần 2 – Thích thực (tiếp đến tàu đồng súng nổ): miêu tả hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ qua các giai đoạn lao động vất vả tới lúc thành dũng sĩ đánh giặc, lập công

– Phần 3 – Ai vãn (tiếp đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ): Niềm đau xót, tiếc thương, cảm phục của tác giả và nhân dân với người nghĩa sĩ

– Phần 4 – Kết (còn lại) ngợi ca linh hồn bất tử của nghĩa sĩ

Câu 2 (Trang 65 sgk ngữ văn 11 tập 1)

– Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân được miêu tả bằng bút pháp tả thực:

+ Người nông dân nghèo khổ, hiền lành, chất phác, quanh năm chỉ biết ruộng đồng

+ Khi có giặc tới họ nhận thức được trách nhiệm của mình: tự nguyên xung quân chiến đấu, quyết tâm diệt giặc

+ Họ cầm chính nông cụ thô sơ làm vũ khí chiến đấu

⇒ Tinh thần quật cường, xả thân của người dân chân chất mang đậm trọng trách, chí khí của người anh hùng thời đại

– Giá trị nghệ thuật

+ Nghệ thuật xây dựng hình ảnh nhân vật

+ Từ mộc mạc, giản dị, đậm sắc màu Nam Bộ

+ Ngôn ngữ chính xác, chân thực, cách so sánh, sử dụng động từ mạnh

Câu 3 (trang 65 sgk ngữ văn 11 tập 1)

– Tiếng khóc của tác giả xuất phát từ cảm xúc, sự xót thương đối với người liệt sĩ

+ Nỗi nuối tiếc, hận cho những người phải hi sinh sự nghiệp dang dở, chí nguyện chưa thành

+ Nỗi xót xa của gia đình mất người thân

+ Nỗi căm hờn những kẻ gây ra khó khăn, đau khổ

+ Tiếng khóc uất nghẹn trước tình cảnh đau thương của dân tộc

– Nhà thơ thay mặt nhân dân khóc thương biểu dương công của những người nghĩa sĩ

+ Tiếng khóc hướng về cái chết và hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân

+ Tiếng khóc khích lệ tinh thần chiến đấu, sự nghiệp còn dang dở của người nghĩa sĩ

⇒ Tiếng khóc tuy bi thiết nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài bởi nó mang âm hưởng tự hào, của sự khẳng định

Câu 4 (trang 65 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Bài văn tế có sức biểu cảm mạnh mẽ bởi nó biểu hiện cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt của nhà thơ:

+ Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều, não nùng thay

– Nó có sức gợi sâu xa trong trong lòng người đọc

– Giọng điệu rất đa dạng, đặc biệt gây ấn tượng ở những câu văn bi tráng, thống thiết

+ Thà thác mà đặng câu địch khái… ở với man di rất khổ

– Giọng văn bi tiết, sức gợi cảm từ những hình ảnh bi tráng (manh áo vải, rơm con cúi, ngọn đèn leo lét…)

Luyện tập

Câu 1 (trang 65 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Đọc diễn cảm tác phẩm

Câu 2 (trang 65 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Để làm sáng tỏ ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu: “Cái sống được cha ông quan niệm là không tách rời… theo Tây là nhục” có thể phân tích:

– Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc… nghe càng thêm hổ.

– Thà thác đặng câu địch khái… man di rất khổ

– Thác mà trả nước non rồi nợ… muôn đời ai cũng mộ.

Bài giảng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2: Tác phẩm) – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Bài Thơ: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu

Một số bài cùng từ khoá

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 27/07/2005 13:30, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 11/04/2020 23:47

Hỡi ơi!Súng giặc đất rền;Lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa: làm ăn; nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới ;Chỉ biết ruộng trâu, ở trong .

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;Tập , tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;Mùi đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy che trắng lốp, muốn tới ăn gan;Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối đồ sộ, há để ai ;Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ .

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức ;Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay .

Khá thương thay:Vốn chẳng phải , theo ở lính ;Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân .

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo ;Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm .

đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho hồn kinh; hè trước, ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;Đâu biết vội bỏ.

Một chắc sa trường rằng , nào hay ;Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi .

Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;Nhìn chợ , già trẻ hai hàng nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà đánh giặc cho cam tâm;Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:Tấc đất ngọn rau ơn chúa, cho nước nhà ta;Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?

Sống làm chi theo quân , quăng , xô , thấy lại thêm buồn;Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu , về theo cũng vinh;Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với rất khổ.

Ôi thôi thôi! năm canh đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; một khắc đặng trả hờn, tủi trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế trước ngõ.

Ôi!Một trận khói tan;Nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường .

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;Thác mà đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

lau chẳng ráo, thương vì hai chữ ;Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu .

Hỡi ơi!Có linh xin hưởng.

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)[1]

Cao Tự Thanh(trích trong bài “Từ sách giáo khoa đến chuyện dạy văn”)

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!