Xem Nhiều 1/2023 #️ Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Bộ Luật Hình Sự 2022 # Top 4 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Bộ Luật Hình Sự 2022 # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Bộ Luật Hình Sự 2022 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các tội được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 quy định hình phạt đối với người phạm tội khá rộng chẳng hạn như: Phạt cải tạo giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ; Phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. Vậy trong những trường hợp này Hội đồng xét xử vụ án sẽ căn cứ vào những yếu tố nào để quyết định hình phạt phù hợp với người phạm tội.

Căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau:

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt dựa vào các yếu tố sau:

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Dấu hiệu này được thể hiện qua động cơ phạm tội, yếu tố lỗi cố ý hay vô ý, hung khí sử dụng khi phạm tội…..

Nhân thân người phạm tội, yếu tố này được xem xét thông qua việc người phạm tội đã từng phạm tội hay chưa? Ý thức chấp hành các quy định của pháp luật

Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ được áp dụng theo quy định tại điều 51, điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên những tình tiết này nếu đã được coi là tình tiết xác định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ.

Như vậy tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, bị cáo cần dựa vào 3 yếu tố chủ yếu ở trên để phản biện lại ý kiến của Đại diện viện kiểm sát… cũng như nêu quan điểm ý kiến trước Hội đồng xét xử để đảm bảo quyền lợi cho mình.

Quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt

Người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa án được quyền quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định trong trường hợp sau.

Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự 2015 về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Đồng thời, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Luận Văn: Các Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Pháp Luật Hình Sự

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật hình sự với đề tài: Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2017

2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60.38.01.04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG HÀ NỘI, năm 2017

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Ngọc Thùy

4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………………………. 1 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT……………………………………………………….. 8 1.1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt…………………………………………………. 8 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt……………….15 CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG………………………………………………………………………..35 2.1. Tổng quan kết quả áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng……35 2.2. Những vi phạm, sai lầm trong việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng và nguyên nhân…………………………………………………………………………………………40 CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT……………………………………………………………..57 3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt………………………….57 3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt ……………………….61 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………………………….79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CTTP Cấu thành tội phạm HĐTP Hội đồng thẩm phán HĐXX Hội đồng xét xử QĐHP Quyết định hình phạt TTHS Tố tụng hình sự TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao TNHS Trách nhiệm hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao VAHS Vụ án hình sự XHCN Xã hội chủ nghĩa XXPT Xét xử phúc thẩm

6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội nói chung và đến các đối tượng mà nó điều chỉnh nói riêng. Để pháp luật phát huy được vai trò, tác dụng và giá trị to lớn của nó thì cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật có tính khoa học, đảm bảo tác động có hiệu quả đến các đối tượng mà pháp luật cần điều chỉnh. Xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự đặc biệt quan trọng do Toà án thực hiện trên cơ sở kiểm tra, đánh giá toàn bộ các tình tiết của vụ án theo những quy định của BLTTHS để chứng minh tội phạm, giải quyết vấn đề TNHS, định tội danh và QĐHP đối với người bị kết án. Trong giai đoạn này, QĐHP là hoạt động không thể thiếu sau khi đã định tội danh mà kết quả là HĐXX nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuyên người bị kết tội một hình phạt cụ thể. Trong hoạt động thực tiễn, để QĐHP đúng, phát huy được hiệu quả và mục đích của hình phạt không phải là công việc đơn giản vì HĐXX (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) không bao giờ QĐHP lại dựa trên một khuôn mẫu chung, mang tính định sẵn trong mối quan hệ với tính đa dạng của các loại hành vi phạm tội. Đặc biệt, từ khi BLHS đầu tiên ra đời năm 1985, án lệ không còn được coi là nguồn của pháp luật hình sự thì càng không thể có một hình phạt mẫu với những thông số cho sẵn để hoạt động QĐHP chỉ việc lắp ráp một cách máy móc. Hệ thống hình phạt đa dạng, với các mức độ nghiêm khắc khác nhau được quy định trong BLHS tuy đã phát huy được tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng việc quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù có thời hạn vẫn còn rộng nên dễ tạo ra sự tuỳ tiện trong QĐHP, không đảm bảo công bằng giữa các trường hợp phạm tội. Mặt khác, hoạt động QĐHP cũng không cho phép Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được QĐHP một cách chủ quan, thiếu căn cứ pháp lý hay đi tìm tội danh cho một hình phạt đã có sẵn… vì kết quả sẽ là sự xâm hại các quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế của Luật hình sự trong một Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Để thực hiện đúng nguyên tắc xử lý tại Điều 3 BLHS 1999 (Điều 3 BLHS 2015) thì ngoài việc mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh

7. 2 chóng, công minh theo đúng pháp luật, khi truy cứu TNHS phải định tội danh đúng. Định tội danh đúng dẫn đến QĐHP đúng. Muốn QĐHP đúng thì cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP và phải bảo đảm đầy đủ các căn cứ QĐHP. Việc Toà án tuyên một hình phạt đảm bảo đầy đủ các căn cứ QĐHP có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý hết sức to lớn. QĐHP đúng, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là để bảo vệ pháp chế và chế độ XHCN, là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt. Nhìn chung, QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã chuyển biến tích cực, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, diện mạo xã hội có nhiều thay đổi rõ rệt nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho tình hình tội phạm ngày một gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất và mức độ. Một bộ phận thanh thiếu niên hư hỏng, không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, có lối hành xử theo kiểu xã hội đen, côn đồ, hung hãn; người phạm tội không chỉ trẻ hóa về độ tuổi, sự tinh vi, xảo quyệt trong hành vi mà còn lập băng nhóm phạm tội có tổ chức như: trộm cắp, cướp giật, giết người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy…. và thậm chí có nhiều loại tội phạm trước đây ít hoặc không thực hiện thì nay có xu hướng gia tăng như: nhóm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xân phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng … Trước diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, vấn đề nâng cao chất lượng xét xử, áp dụng đúng các căn cứ QĐHP nhằm phục vụ cho đấu tranh và phòng chống tội phạm được đặt ra như là một yêu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn xét xử cho thấy các cấp xét xử vẫn chưa phải tuân thủ và áp dụng đúng các căn cứ QĐHP. TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng không phải là ngoại lệ, vẫn còn một số trường hợp Tòa án để xảy ra sai sót, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại… Nguyên nhân của những sai sót đó thì nhiều, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân chính như: quy định của pháp luật còn hạn

8. 3 chế, bất cập, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật chưa được kịp thời, kinh nghiệm và năng lực của những người tiến hành tố tụng chưa đáp ứng được yêu cầu … Nhằm góp phần bảo đảm áp dụng hình phạt đúng, tác giả chọn đề tài “Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ luật học. Đề tài này nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP theo pháp luật hình sự trong quá trình xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ đó, khắc phục những vướng mắc, thiếu sót trong thực tiễn QĐHP của Tòa án, đưa ra các giải pháp bảo đảm QĐHP đúng đối với người phạm tội là hết sức cần thiết. Ngoài ra, nghiên cứu hoàn thiện quy định về các căn cứ QĐHP cũng là một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng pháp luật hình sự công bằng, nhân đạo, dân chủ và công minh trong Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam. 2. Tình hình nghiên cứu Các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2015) là cơ sở pháp lý bắt buộc Tòa án phải áp dụng đúng và đầy đủ khi thực hiện hoạt động QĐHP. Đây là một chế định quan trọng và không thể thiếu nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động QĐHP của Tòa án. Chính vì vậy, các căn cứ QĐHP không chỉ được đề cập đến trong giáo trình Luật hình sự của các trường đại học như Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội… để đào tạo cử nhân luật học, cán bộ tư pháp tương lai, mà còn là mối quan tâm của các cán bộ làm công tác xét xử, là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý hình sự như: TSKH. PGS. Lê Cảm: Về bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc quyết định hình phạt” tại Điều 37 BLHS Việt Nam – Tạp chí TAND số 1+2/1989; Nhân thân người phạm tội – Tạp chí TAND số 10/2001; TSKH. PGS. Lê Cảm và ThS. Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản – Tạp chí TAND số 1/2002; ThS. Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 1999 và một số kiến nghị – Tạp chí TAND số 13/2004; ThS. Phạm Thanh Bình: Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam – Tạp chí TAND số 8/1995; ThS. Nguyễn Mai Bộ: Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng – Tạp chí TAND số 1/1999; ThS. Đinh Văn Quế: Một số điểm mới của BLHS năm 1999 về hình phạt và quyết định hình phạt – Tạp chí TAND số 3/2000; Đặng Xuân Đào: “Một số nội dung mới của các quy định về các tình tiết giảm nhẹ,

10. 5 hiện hành về các căn cứ QĐHP. – Nghiên cứu những bất cập của pháp luật hình sự hiện hành, tác giả đưa ra các giải pháp bảo đảm vận dụng các căn cứ QĐHP đúng trong xét xử các vụ án hình sự. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP. Quy định của pháp luật về căn cứ QĐHP và thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bởi vậy, luận văn lấy các quan điểm khoa học của khoa học luật tố tụng hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, thực tiễn xét xử hình sự của TAND hai cấp tại thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Để đạt được mục đích đã đề ra, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là những quy định của pháp luật hình sự về các căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2015). Trong đó, tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP ở Việt Nam. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về căn cứ QĐHP và về thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng của Toà án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực (ngày 01/7/2000) đến nay. Về thời gian trong 5 năm (2012- 2016), qua đó chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất ý kiến hoàn thiện các căn cứ QĐHP nhằm tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động QĐHP của Toà án đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận + Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – LêNin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự, chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam; các quy định của BLHS năm 1999 về QĐHP và căn cứ quyết định hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 1999.

12. 7 gồm có 03 chương. Chương 1: Những vẫn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ quyết định hình phạt Chương 2: Thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt

13. 8 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1.1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt 1.1.1. Khái niệm và các nguyên tắc của quyết định hình phạt 1.1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái niệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm cho khái niệm QĐHP chưa đạt được sự thống nhất cao trong khoa học pháp lý hình sự. Nhưng, có thể khẳng định rằng, về cơ bản các cách hiểu đều thể hiện sự đồng nhất về nội dung (bản chất) của khái niệm QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Sự đồng nhất này có thể thấy rõ trong giáo trình Luật hình sự của các trường Đại học và trong một số tài liệu khác. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [45, tr.201]. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [46, tr.317]. Tác giả Lê Văn Đệ cũng đưa ra khái niệm “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [21, tr.161]. Hoặc tác giả Đinh Văn Quế có định nghĩa: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của BLHS” [34, tr.89].

15. 10 khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS. 1.1.1.2. Các nguyên tắc của quyết định hình phạt Để QĐHP đúng pháp luật, công bằng và đạt được mục đích của hình phạt, cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP. Các nguyên tắc QĐHP là một trong những vấn đề quan trọng của QĐHP. Việc nhận thức, vận dụng đúng các nguyên tắc QĐHP trong thực tiễn xét xử giúp Tòa án có thể quyết định đúng pháp luật, công bằng, điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Về lý luận, khi làm sáng tỏ những nguyên tắc QĐHP sẽ góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ QĐHP, để đưa ra phương án tối ưu để thể hiện chúng trong các quy phạm của luật hình sự. Về thực tiễn, các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động xét xử của Tòa án để quyết định loại, mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề, là điều kiện cho việc cải tạo, giáo dục người bị kết án, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả. Chế định hình phạt có những nét đặc thù riêng, nên khi áp dụng nó, ngoài nguyên tắc chung của ngành luật, còn phải tuân thủ theo các nguyên tắc đặc thù của nó. Như vậy, giữa nguyên tắc chung của Luật hình sự và nguyên tắc QĐHP là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Các nguyên tắc của Luật hình sự là cái chung còn các nguyên tắc QĐHP là cái riêng. Hai nguyên tắc này tồn tại một cách khách quan nhưng có mối liên hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau. Nội dung một số nguyên tắc chung của Luật hình sự cũng thể hiện ở nội dung của một số nguyên tắc QĐHP như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo. Ngoài ra, chế định QĐHP còn có nguyên tắc đặc thù như: nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng. Sự khác nhau của các nguyên tắc QĐHP với nguyên tắc chung của Luật hình sự ở mức độ cụ thể hóa cao và tính đặc thù nhất định do các đặc điểm của QĐHP chứ không phải sự đối lập mâu thuẫn về nội dung, nó có tính thống nhất khi áp dụng những nguyên tắc này để đưa ra một phán quyết một cách chính xác, công bằng. Như vậy, có thể hiểu các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng được thể hiện

16. 11 trong luật hoặc được làm sáng tỏ bắt nguồn từ việc giải thích luật. Đó là những nguyên lý quan trọng nhất chỉ đạo, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng các chế tài luật hình sự đối với người thực hiện tội phạm. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa các nguyên tắc QĐHP như sau: “Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.387] Như vậy, nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng chỉ đạo đặc thù, buộc Tòa án phải tuân theo khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào QĐHP. Mặc dù không được quy định cụ thể trong luật, nhưng thông qua nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự, có thể chỉ ra các nguyên tắc QĐHP hiện nay gồm: – Nguyên tắc pháp chế là một nguyên tắc hết sức quan trọng và cơ bản của quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật ở Việt Nam. Nói đến pháp chế tức là nói đến sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội và của công dân. Nguyên tắc pháp chế có nguồn gốc từ nguyên lý không có tội nếu không có luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Luật Hình sự Việt Nam được thể hiện ở việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ngoài ra, nguyên tắc pháp chế còn đòi hỏi pháp luật hình sự phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được xây dựng một cách hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Các quy định của Luật hình sự phải được xây dựng một cách cụ thể, chính xác với các dấu hiệu của từng hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của nó. – Nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc quan trọng của pháp luật Hình sự nhằm đảm bảo tính nhân văn, bảo vệ những quyền tối thiểu của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thể hiện tư tưởng vì con người của định hướng đi lên Nhà nước XHCN. Nguyên tắc này thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt không gây đau đớn về thể xác của người

19. 14 hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho xã hội. Xuất phát từ tính đa dạng và phức tạp của tội phạm, luật hình sự Việt Nam đã quy định hệ thống hình phạt gồm nhiều loại và luôn khác nhau về nội dung, mức độ trừng trị, điều kiện áp dụng. Nhiệm vụ của hoạt động QĐHP là phải làm sao lựa chọn và quyết định được loại hình phạt với mức độ cụ thể trong giới hạn luật định, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Có như vậy mới đảm bảo được sự trừng trị là phù hợp và là điều kiện tốt để giáo dục, cải tạo người phạm tội. Để làm được điều đó, việc QĐHP phải tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự, trong đó, bắt buộc phải dựa vào căn cứ QĐHP. Căn cứ QĐHP là chuẩn mực chung, là cơ sở pháp lý giúp cho HĐXX xác định đúng loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể, chính xác, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt mà điều luật về tội phạm đã quy định. Căn cứ QĐHP là điều kiện cần thiết để khắc phục tình trạng tuỳ tiện, thiếu thống nhất khi QĐHP, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động QĐHP. Căn cứ QĐHP được quy định trong BLHS và có tính bắt buộc đối với HĐXX khi QĐHP đã góp phần loại bỏ việc áp dụng tương tự pháp luật và tình trạng tuỳ tiện trong QĐHP. Mọi sự vi phạm căn cứ QĐHP theo ý thức chủ quan của người có thẩm quyền hay do nhận thức không đúng căn cứ QĐHP đều sẽ dẫn đến việc QĐHP một cách tuỳ tiện. Căn cứ QĐHP được quy định trong BLHS buộc HĐXX phải viện dẫn đầy đủ các căn cứ của việc QĐHP trong bản án hình sự. Chỉ như vậy, bản án được tuyên mới được coi là hợp pháp và có căn cứ. Đây cũng còn là cơ sở để Tòa án cấp trên kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo tính minh bạch, đúng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án cấp dưới. Việc tuân thủ căn cứ QĐHP là điều kiện tiên quyết để đạt mục đích của hình phạt. Nội dung của các căn cứ QĐHP suy cho cùng được xác định bởi mục đích của hình phạt. Mục đích của hình phạt chỉ có thể đạt được trong thực tiễn khi người phạm tội bị kết án thừa nhận việc áp dụng loại và mức hình phạt đối với mình là đúng và tự giác thi hành hình phạt đó. Để hình phạt vừa đạt được mục đích trừng trị, vừa giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội và đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa chung thì hình phạt được tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục và hoàn cảnh thực tế của người phạm tội. Một hình phạt như vậy chỉ có thể có được khi

20. 15 hình phạt đó là sản phẩm của quá trình tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác, khoa học các căn cứ QĐHP. Vậy nên có thể khẳng định sự tuân thủ căn cứ QĐHP có vai trò quyết định đến việc đạt được các mục đích của hình phạt. 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt 1.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt chung Các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS 1999: “Khi QĐHP, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”. Thứ nhất là căn cứ vào quy định của BLHS, đó là căn cứ vào điều luật trong phần các tội phạm để xác định khung hình phạt, xác định loại hình phạt cần áp dụng, xác định mức hình phạt cần áp dụng. Tiếp đến căn cứ vào các quy định tại phần chung của BLHS. Tại khoản 3 Điều 8 BLHS quy định:”Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” Tại Điều 28 BLHS quy định:”Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. 1. Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Trục xuất; Tù có thời hạn; Tù chung thân; Tử hình. 2. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. 3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.”

22. 17 quyền hạn để phạm tội; Người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra; Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát giáo dục; Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt; Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xoá án tích. Căn cứ vào quy định về mục đích của hình phạt tại Điều 27 BLHS: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội; do đó, hình phạt trước hết nhằm trừng trị người phạm tội; Hình phạt có tác dụng giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Vì vậy, cần phải quyết định một hình phạt đúng để bảo đảm được tính trừng trị, nhưng đồng thời cũng bảo đảm được tính khoan hồng đối với người phạm tội. Không quá nhấn mạnh đến tính trừng trị mà xử phạt quá nặng và cũng không quá nhấn mạnh đến tính khoan hồng mà xử phạt quá nhẹ sẽ không có tính giáo dục; Hình phạt còn phải nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Căn cứ quy định về các hình phạt tại các điều từ Điều 28 đến Điều 40 BLHS: Nắm chắc hình phạt nào là hình phạt chính; hình phạt nào là hình phạt bổ sung; hình phạt nào vừa có thể là hình phạt chính vừa có thể là hình phạt bổ sung; Cần nghiên cứu kỹ quy định về mỗi loại hình phạt cụ thể; đặc biệt là điều kiện áp dụng hình phạt đó; Cần chú ý quy định nào của loại hình phạt nào là bắt buộc, quy định nào có tính lựa chọn để thực hiện đúng. Căn cứ quy định về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS tại Điều 46 và Điều 48 BLHS: Cần nắm chắc tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Đây là một trong những điều kiện quan trọng của việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS; Điều kiện áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS; Khi xét xử vụ án về tội phạm cụ thể cần xem xét có tình tiết giảm nhẹ

24. 19 công bằng…), những quy phạm đã được sử dụng để định tội danh thì không thể được sử dụng lần nữa trong QĐHP. Nếu không sẽ gây ra những hậu quả pháp lý bất lợi cho bị cáo, cho xã hội. 1.2.1.2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Xuất phát từ lý luận và thực tiễn lập pháp hình sự Việt Nam, tội phạm được quy định trong BLHS là do có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. “Tính nguy hiểm cho xã hội” của tội phạm không chỉ là một đặc điểm cơ bản mà còn là thuộc tính khách quan, thể hiện bản chất xã hội của từng hành vi phạm tội cụ thể. Tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm. Theo đó, khái niệm tính nguy hiểm cho xã hội luôn bao hàm trong nó dấu hiệu tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Chính vì vậy, nhà làm luật đã dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để xây dựng các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể và đồng thời cũng quy định các khung hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội phạm (hành vi phạm tội càng nguy hiểm cho xã hội thì khung hình phạt càng cao và ngược lại). Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm một tội cụ thể cũng luôn khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Do đó, để QĐHP đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, luật bắt buộc HĐXX phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đây là yêu cầu có tính chất quyết định đến khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở các mức độ khác nhau khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người bị kết án. Nếu chỉ dựa vào căn cứ thứ nhất là các quy định của BLHS thì chưa thể quyết định được loại và mức hình phạt tương xứng với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Chính vì vậy, nhà làm luật đã xác định căn cứ thứ hai của việc QĐHP là khi QĐHP, Tòa án phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội”. Căn cứ QĐHP thứ hai này có ý nghĩa pháp lý – xã hội đặc biệt quan trọng vì nó giúp cho HĐXX có cơ sở vững chắc và điều kiện để lựa chọn và QĐHP với mức độ cụ

25. 20 thể tương xứng với hành vi phạm tội, đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong QĐHP. Hình phạt chỉ có thể phát huy được tác dụng khi nó được tuyên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Nói cách khác, chỉ khi hình phạt được lựa chọn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì việc quyết định hình phạt mới được thực hiện. Có như vậy mới đảm bảo được sự bình đẳng, thống nhất, chính xác khi QĐHP đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về cùng một tội hay trong cùng một khung hình phạt. Mặc dù Điều 45 BLHS năm 1999 buộc Tòa án khi QĐHP phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” nhưng dựa vào tiêu chí nào để làm cơ sở cho việc “cân nhắc” thì luật lại không quy định. Vậy, dựa vào cái gì để Tòa án đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội?. Trong thực tiễn, các tiêu chí làm cơ sở cho việc cân nhắc đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thực chất chỉ tồn tại trong lý luận của khoa học pháp lý hình sự, trong ý thức và kinh nghiệm của những người trực tiếp làm công tác xét xử các vụ án hình sự. Thực tiễn xét xử các VAHS theo BLHS năm 1999 đã cho thấy, do chưa có những tiêu chí, cơ sở thống nhất để Tòa án có điều kiện đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên nhiều trường hợp Tòa án đã tuyên những hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Thực tiễn đó đòi hỏi BLHS cần quy định cụ thể, chi tiết các tiêu chí chuẩn, có giá trị phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo việc áp dụng căn cứ thứ hai được chính xác, thống nhất. Trên cơ sở các quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên tương xứng với hành vi phạm tội. Để đạt được mục đích đó, có quan điểm cho rằng khi QĐHP, Tòa án phải căn cứ vào cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đây là vấn đề cần phải làm sáng tỏ để đảm bảo đúng giá trị pháp lý và ý nghĩa xã hội của căn cứ thứ hai trong QĐHP. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự đã cho thấy việc đánh giá đúng tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là rất khó khăn. Có những bản án, HĐXX không nêu và chỉ ra được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà chỉ đánh giá chung là “hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội”. Mặt khác, QĐHP là lựa chọn loại hình phạt cụ

26. 21 thể với mức độ nhất định trong phạm vi khung hình phạt của điều luật về tội phạm đã quy định. Việc nhà làm luật xây dựng các khung hình phạt khác nhau trong một điều luật về tội phạm chính là sự phản ánh sự tương quan với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Còn các mức độ khác nhau của hình phạt trong giới hạn từ tối thiểu đến tối đa của mỗi khung hình phạt lại phản ánh sự tương quan với các mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của hành vi phạm tội. Như vậy, tính chất nguy hiểm cho xã hội là cơ sở để xác định khung hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Tác giả cho rằng khi QĐHP nếu lại căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là chưa khoa học và thiếu chính xác vì một tình tiết đã được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt thì không thể được sử dụng một lần nữa khi QĐHP. Điều đó không những vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc nhân đạo XHCN, nguyên tắc công bằng của luật hình sự mà quan trọng hơn còn làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị cáo. 1.2.1.3. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội Theo khoản 1 Điều 8 BLHS 1999, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm, do con người cụ thể (có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS) thực hiện một cách có lỗi, xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, nói đến nhân thân người phạm tội trong lĩnh vực luật hình sự là nói đến nhân thân của chính con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Nhân thân người phạm tội bao gồm trong nó tổng hợp các đặc điểm của cá nhân về mặt sinh học, mặt xã hội, nói lên tính chất của con người đã thực hiện tội phạm. Con người khi được sinh ra không sẵn chứa trong mình khả năng trở thành tội phạm mà khả năng đó chỉ trở thành hiện thực dưới tác động tiêu cực của nhiều yếu tố trong quá trình con người tự hoàn thiện về mặt sinh học, tâm lý, nhân sinh quan… Quá trình đó cho thấy nhân thân người phạm tội là phạm trù có tính lịch sử vì “những đặc điểm về nhân cách của người phạm tội không phải được tiềm ẩn ở con người đó ngay từ khi mới sinh ra, mà chúng được hình thành dưới sự ảnh hưởng, tác động của môi trường không thuận lợi bên ngoài” [12, tr.50] trong quá trình trưởng thành của con người. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” [30, tr.257]. Trong lĩnh vực luật hình sự, các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội là

28. 23 vi phạm tội, đồng thời cũng nói lên tính nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội. Nhân thân người phạm tội càng xấu thì mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thường nguy hiểm hơn và khả năng giáo dục, cải tạo cũng khó hơn so với trường hợp bình thường và ngược lại. Có thể chỉ ra những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm: có án tích, phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất côn đồ, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác hoặc có khả năng gây nguy hại cho nhiều người… Những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội. Bản chất của hình phạt là sự trừng trị nhưng điều đó không có nghĩa việc Nhà nước sử dụng hình phạt là để trả thù người phạm tội và càng không phải là sự đền bù ngang giá cho những thiệt hại mà tội phạm gây ra cho xã hội. Mục đích chính của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội (trừ hình phạt tử hình không có mục đích này): “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa…” [13, tr.20]. Vì vậy, BLHS quy định các loại hình phạt là để áp dụng đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ chứ không phải để áp dụng cho hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Đồng thời, “Hình phạt cũng như các biện pháp tác động khác chỉ được áp dụng đến mức cần cho sự cải tạo giáo dục chứ không nhằm mục đích khác” [15, tr.153]. Chính vì mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội, buộc HĐXX khi QĐHP phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội tuy không ảnh hưởng đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nhưng lại phản ánh được khả năng giáo dục, cải tạo ngườiphạm tội. Đó là các đặc điểm như: người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu, người phạm tội tự thú, đầu thú, lập công chuộc tội, tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm… Những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng. Việc cân nhắc các đặc điểm thuộc về

29. 24 nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng chính là sự biểu hiện của chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hoá trong luật hình sự. Ngoài ra, cũng cần phải thấy rằng các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động QĐHP. QĐHP không chỉ nhằm giải quyết đúng vấn đề TNHS của người phạm tội mà còn phải hạn chế đến mức tối đa các hậu quả tiêu cực cho xã hội do việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội có hoàn cảnh đặc biệt đem lại. Vì vậy, đối với các trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt, việc cân nhắc các đặc điểm thuộc nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho hình phạt được tuyên có tính nhân đạo và đảm bảo hiệu quả của hình phạt trong thực tiễn. Người phạm tội có hoàn cảnh đặc biệt đáng được khoan hồng có thể là người già, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, người chưa thành niên, người thuộc dân tộc thiểu số ít người, thương binh, người có công với cách mạng, con liệt sỹ, người mắc bệnh hiểm nghèo, người có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn mà họ là lao động chính duy nhất… 1.2.1.4. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Khoa học pháp lý hình sự đã xác định các loại tình tiết như: Tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt (định khung tăng nặng và định khung giảm nhẹ), các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, nếu không hiểu đúng bản chất và giá trị pháp lý của các loại tình tiết này sẽ dẫn đến việc định tội sai và QĐHP không chính xác. “Tình tiết định tội là dấu hiệu đặc trưng, điển hình, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của một tội phạm nhất định, được quy định trong CTTP cơ bản để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Như vậy, mỗi tội phạm cụ thể đều có tình tiết định tội riêng. Không thể có hai tình tiết định tội của hai tội phạm cụ thể hoàn toàn giống nhau. Tình tiết định khung hình phạt là dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống hoặc tăng lên một cách đáng kể so với trường hợp bình thường (CTTP cơ bản). Tình tiết định khung hình phạt được quy định trong CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng và để phân biệt mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau của các hành vi phạm tội trong cùng một loại tội. Như vậy, tình tiết định khung hình phạt là căn cứ để xác định hành vi phạm tội thuộc khung hình phạt cụ thể nào của điều luật quy định về tội phạm (sau khi đã thực hiện việc định tội danh” [27, tr.16-17-

30. 25 18]. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS và tăng nặng TNHS là hai nhóm tình tiết về TNHS của người phạm tội nhưng lại có giá trị pháp lý trái ngược nhau. Qua nghiên cứu các khái niệm căn cứ QĐHP và trên cơ sở quy định của BLHS hiện hành, tác giả cho rằng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS trong lĩnh vực QĐHP có những đặc điểm sau: Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là một căn cứ độc lập của việc QĐHP, được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999. Với tính chất là một căn cứ QĐHP, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS chính là những biểu hiện cụ thể mà việc cân nhắc chúng trong tổng thể các tình tiết của vụ án hình sự sẽ đảm bảo cho HĐXX có những đánh giá chính xác hơn về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS không được ghi nhận trong cấu thành của tội phạm cụ thể mà được quy định tại Phần chung của BLHS (Điều 46 và Điều 48) nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế XHCN và góp phần loại bỏ tình trạng tuỳ tiện trong áp dụng các tình tiết này. Xuất phát từ tên gọi được quy định trong luật, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng được quy định tại Điều 46 và Điều 48 chỉ gắn liền với vấn đề TNHS. Trong mỗi vụ án hình sự, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS (nếu có) không phải là căn cứ để định tội hay để chuyển khung hình phạt mà chỉ được sử dụng để giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng hơn trong phạm vi một khung hình phạt. Dưới góc độ này, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được hiểu là những tình tiết phản ánh mức độ TNHS của người phạm tội giảm xuống hoặc tăng lên trong phạm vi một khung hình phạt của điều luật về tội phạm. Qua đó, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là cơ sở cho việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau trong cùng một khung hình phạt của điều luật về tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội có tính quyết định đến mức hình phạt mà HĐXX lựa chọn để áp dụng đối với người phạm tội trong giới hạn từ mức tối thiểu đến mức tối đa của khung hình phạt. Vì vậy, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS không chỉ có tác dụng trong việc cá thể hoá TNHS mà còn làm tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt được chính xác. Từ những đặc điểm nêu trên, có thể hiểu: “Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ QĐHP là những tình tiết được quy định trong phần chung của BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội

31. 26 trong phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội được chính xác”. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có giá trị làm giảm nhẹ và tăng nặng TNHS của người phạm tội theo những tiêu chí khác nhau. Đó là, dựa vào cơ sở để giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS, các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS được phân loại thành các nhóm khác nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 46 BLHS 1999 được phân loại theo ba tiêu chí sau: Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS có giá trị làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại hoặc người khác gây ra; Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức; Các tình tiết giảm nhẹ TNHS này có giá trị làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội vì chúng làm cho các dấu hiệu thuộc mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm không đạt được một cách triệt để trong quá trình tội phạm được thực hiện. Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Người phạm tội tự thú; Phạm tội do lạc hậu; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, công tác. Đây là các tình tiết phản ánh thái độ, các đặc điểm nhân thân tốt của người phạm tội trước và sau khi phạm tội cũng như khả năng đáp ứng tốt yêu cầu của công tác giáo dục, cải tạo. Vì vậy, chúng được xác định là các tình tiết giảm nhẹ TNHS của người phạm tội. Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Người phạm tội là phụ nữ có

32. 27 thai, người phạm tội là người già; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Cơ sở để xác định các tình tiết này có giá trị giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội là do những trường hợp này đều là đối tượng của chính sách nhân đạo, chính sách ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hoá trong luật hình sự Việt Nam. Việc giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội trong các trường hợp này còn nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên phù hợp với hoàn cảnh thực tế và không gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Tóm lại, các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS 1999 là những đòi hỏi của luật, có tính bắt buộc đối với HĐXX nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và có giá trị cao trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội. Để lựa chọn mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội trong giới hạn của khung hình phạt đó cần phải tuân thủ đầy đủ các căn cứ QĐHP. Trong đó, việc tuân thủ căn cứ các quy định của BLHS có tính chất quyết định đối với việc vận dụng đúng đắn các căn cứ QĐHP còn lại và đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự khi QĐHP. Nói cách khác, nếu không dựa vào các quy định của BLHS thì việc QĐHP sẽ trở nên tuỳ tiện và việc tuân thủ các căn cứ còn lại cũng trở nên vô tác dụng. Chỉ trên cơ sở các quy định của BLHS thì HĐXX mới có thể cân nhắc được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và lựa chọn được đúng loại hình phạt đã được luật hình sự quy định để áp dụng cho bị cáo. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là cơ sở pháp lý chính xác nhất để HĐXX có thể quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Để có thể đạt được các mục đích của hình phạt thì loại và mức hình phạt cụ thể đó không những phải phù hợp với khả năng giáo dục, cải tạo mà con phải phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội để không gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Như vậy, căn cứ vào các quy định của BLHS là tiền đề cho việc cân nhắc đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Ngược lại, việc tuân thủ đúng căn cứ thứ hai, căn cứ thứ ba, căn cứ thứ tư chính là cơ sở đảm bảo cho các quy định của BLHS được thực hiện triệt để.

33. 28 1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt 1.2.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội QĐHP với người chưa thành niên phạm tội là trường hợp đặc biệt. Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chỗ hình phạt được quy định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội. Sở dĩ người chưa thành niên được hưởng chính sách giảm TNHS của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ có những đặc điểm đặc biệt về nhân thân. Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện. Nhận thức của họ thường non nớt, thiếu chính chắn và đặc biệt họ dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục chu đáo, người chưa thành niên dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu dẫn đến phạm pháp. Bên cạnh đó, so với người đã thành niên ý thức phạm tội của người chưa thành niên nói chung chưa sâu sắc, họ dễ tiếp thu sự giáo dục của xã hội, nhà trường cũng như gia đình để từ bỏ con đường phạm tội. Do vậy, không thể coi người chưa thành niên phải chịu TNHS giống như người đã thành niên. Chính vì thế, hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã thành niên. Khi QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội, trước hết Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Người chưa thành niên có thể được miễn truy cứu TNHS nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục. Việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm của nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã,

34. 29 phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng. Đối với người chưa thành niên phạm tội thì không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, không áp dụng các hình phạt bổ sung, không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên đã phạm tội tương ứng. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Theo quy định của BLHS năm 1999, việc QĐHP được tiến hành như sau: + Đối với phạt tiền: BLHS năm 1999 quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nếu họ ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Quy định này nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên, đồng thời việc áp dụng phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp này vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt. Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định. + Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định giới hạn hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn và điều luật quy định. Đồng thời, do người chưa thành niên hầu như chưa có thu nhập hoặc tài sản riêng nên BLHS 1999 đã không khấu trừ thu nhập của họ khi bị kết án. + Đối với hình phạt tù có thời hạn: BLHS 1999 đã phân hóa người chưa thành niên ra làm hai đối tượng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi với đường lối xử lý khác nhau. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì được xử lí nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi. Trong từng đối tượng cụ thể nói trên, nhà làm luật tách thành hai trường hợp (trường hợp quy định hình phạt tù chung thân, tử hình và trường hợp điều luật quy định hình phạt tù có thời hạn) tương ứng với mức hình phạt khác nhau phù hợp với độ tuổi của người thành niên cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Quy định này thể hiện sự tiến bộ về chất của BLHS 1999 khi quy định về QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội. Cụ thể, Điều 74 quy định như sau: “1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù và chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao

35. 30 nhất được áp dụng không vượt quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù có thời hạn. 2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù: nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quyđịnh” Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, có tội thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi thì việc tổng hợp hình phạt được áp dụng như sau: Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 BLHS (Khoản 1 Điều 75); Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội (Khoản 2 Điều 75) Thực tiễn vận dụng Điều 75 BLHS năm 1999 cho thấy nảy sinh vấn đề cần giải quyết, đó là việc xác định tội nặng nhất. Thực tiễn xét xử đã xác định tội nặng nhất là tội có mức hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất cao hơn. Trong trường hợp có mức hình phạt tối đa bằng nhau thì thì tội nặng hơn là tội có mức hình phạt khởi điểm khung hình phạt cao nhất cao hơn. Tuy nhiên, có những trường hợp không thể xác định được tội nặng nhất nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất của hai tội ngang bằng nhau và cao nhất cũng ngang bằng nhau. 1.2.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng với người phạm tội. Nói chung, về nguyên tắc khi QĐHP, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội phạm khác nhau và các khung hình phạt khác nhau. BLHS nước ta không quy định các khung hình phạt cứng, nghĩa là chỉ có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho tội phạm, mà bao giờ trong mỗi khung hình phạt cũng có mức tối thiểu và tối đa. Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Để tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi QĐHP đối với những trường hợp

36. 31 phạm tội cụ thể khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật áp dụng đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo sự công bằng của hình phạt, Điều 47 BLHS 1999 đã quy định: “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”. Với quy định trên, điều kiện để Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đã được xác định là ít nhất phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS trở lên. Bởi vậy, mặc dù khoản 2 Điều 46 BLHS có quy định khoản 1 Điều 46 BLHS “Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ” song nếu không có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì dù Tòa án có viện dẫn nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, cũng không thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều đáng lưu ý là, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ là làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết này; bởi vậy, nếu hành vi phạm tội thực tế mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng tính chất, mức độ vẫn cần thiết phải áp dụng mới phù hợp thì Tòa án cũng không được QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Chỉ có thể QĐHP mà điều luật quy định hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu không có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, hành vi phạm tội đã có thể xử ở mức thấp của khung hình phạt mà điều luật quy định, và do có các tình tiết giảm nhẹ nên đã làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tới mức mà nếu QĐHP trong phạm vi điều luật quy định thì vẫn nặng, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, do vậy cần phải QĐHP dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định hoặc chuyển

Hình Thức Phạt Tiền Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự Hiện Hành

Luật sư cho tôi hỏi pháp luật có quy định như thế nào về biện pháp phạt tiền trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.

Người gửi: Phạm Thị Trang (Hà Nội)

Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

Hình thức phạt tiền được quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

“Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”.

Phạt tiền tước đi những quyền lợi vật chất của người bị kết án, tác động đến tình trạng tài sản của họ và thông qua đó tác động đến ý thức của người phạm tội. Các mức độ phạt tiền cao thấp khác nhau cũng gây ra khả năng tác động khác nhau đến ý thức của họ. Các mục đích phòng ngừa riêng và chung của hình phạt sẽ đạt được thông qua việc áp dụng hình phạt này. Phạt tiền là hình phạt có thể áp dụng khi là hình phạt chính, khi là hình phạt bổ sung.

Khi là hình phạt chính, phạt tiền được áp dụng đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, an toàn, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định. Những tội phạm khác nói ở đây có thể là một số tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, tội xâm phạm sở hữu, tội phạm về ma túy…

Với tư cách là hình phạt chính, ngoài điều kiện áp dụng là trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạt tiền còn được quy định trong các chế tài lựa chọn cùng với các hình phạt chính khác như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn. Chế tài lựa chọn này mở ra khả năng pháp lý cho việc tòa án quyết định hình phạt chính thích hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội cũng như khả năng thi hành án.

Về mức phạt tiền khi là hình phạt chính, Bộ luật hình sự có hai cách quy định. Cách thứ nhất là quy định phạt tiền với mức tối thiểu và tối đa. Đây là cách quy định phổ biến. Mức thấp nhất trong trường hợp này là 1 triệu đồng và cao nhất là một tỷ đồng. Cách thứ hai là quy định mức phạt tiền theo bội số trốn thuế hoặc tiền lãi, mức thấp nhất là một lần và cao nhất là mười lần.

Khi là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được áp dụng đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định. Đó có thể là các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, các tội phạm về chức vụ…

Cách quy định về mức phạt tiền trong trường hợp là hình phạt bổ sung cũng giống như khi là hình phạt chính. Tuy nhiên, phạt tiền trong trường hợp này có mức độ tối đa thấp hơn. Tối đa là 500 triệu đồng hoặc tối đa chỉ gấp 5 lần giá trị tài sản phạm tội.

Khi quyết định hình phạt tiền dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, tòa án căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, tình hình tài sản của người đã phạm tội, sự biến động của giá cả. Tiền phạt có thể nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định.

Hai Ý Kiến Về Quyết Định Hình Phạt Trong Bộ Luật Hình Sự

Quyết định hình phạt được hiểu là việc Toà án lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội 1.

Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự. Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS) quy định, chỉ có Toà án mới có quyền quyết định hình phạt. Theo đó, Toà án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào quy định của BLHS tuyên bố áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Điều này thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội về việc thực hiện tội phạm.

Quyết định hình phạt có vai trò vô cùng to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên toà) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Toà án không làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật. Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là yếu tố lập pháp và áp dụng pháp luật (về hình phạt và quyết định hình phạt). Yếu tố áp dụng pháp luật chịu sự ràng buộc của yếu tố lập pháp. Ngược lại, yếu tố áp dụng pháp luật cũng có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn pháp luật cho từng trường hợp phạm tội cụ thể thì Toà án mới có thể cho ra đời một bản án tuyên hình phạt đúng đắn và có hiệu quả, khi đó, các yếu tố về mặt lập pháp mới có ý nghĩa thực tiễn.

Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt. Những nguyên tắc này không được quy định cụ thể trong BLHS. BLHS chỉ đề cập các căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 45 BLHS là; 1) Các quy định của BLHS; 2) Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; 3) Nhân thân người phạm tội và (4) Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tổng hợp thời gian thử thách của án treo

Ví dụ vụ án: Ngày 10/4/2002, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh An Giang đã tuyên phạt Tài ba năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là ba năm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 27/6/2002, TAND thành phố Long Xuyên tuyên phạt Tài hai năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là hai năm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (mặc dù bị xét xử sau nhưng tội phạm này được thực hiện trước khi có bản án ngày 10/4/2002). Trong Bản án số 38/HSST (ngày 27/6/2002), TAND thành phố Long Xuyên đã tổng hợp hai bản án treo và buộc Tài phải chấp hành bản án treo (với mức phạt tù là năm năm) và thời gian thử thách là năm năm.

Ngày 24/01/2003, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Bản án số 38/HSST và yêu cầu TAND tỉnh An Giang sửa một phần bản án sơ thẩm với nội dung buộc Tài phải chịu mức phạt tù là ba năm nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là năm năm (áp dụng điểm a, Khoản 1, Điều 50; Khoản 2, Điều 51; Khoản 1, Điều 60 của BLHS).

Trong vụ án này, căn cứ theo BLHS hiện hành, việc ngày 27/6/2002, TAND thành phố Long Xuyên tiếp tục cho Tài được hưởng án treo là đúng pháp luật vì Tài không vi phạm căn cứ được hưởng án treo. Theo Nghị quyết số 01-HĐTP (18/10/1990) hướng dẫn về việc áp dụng Điều 44 BLHS năm 1985 hướng dẫn căn cứ cho hưởng án treo về nhân thân như sau: 2

“- Đối với người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội hoặc có nhiều bản án mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá 5 năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo, nhưng phải xét thật chặt chẽ.

– Nói chung người được hưởng án treo phải là người chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của bản thân, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, đối với người có tiền án, tiền sự, nếu xét tính chất của tiền án, tiền sự đó cùng với tính chất của tội phạm mới thực hiện và các căn cứ khác thấy không cần thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù, thì cũng có thể cho họ được hưởng án treo, nhưng tinh thần chung là hạn chế và phải xét thật chặt chẽ”.

Như vậy, việc cho hưởng án treo của TAND thành phố Long Xuyên là không trái quy định của pháp luật hiện hành và tinh thần Nghị quyết số 01 hướng dẫn về căn cứ cho hưởng án treo.

Tuy nhiên, với cách làm của TAND thành phố Long Xuyên là tổng hợp hình phạt của hai bản án treo và tổng hợp thời gian thử thách của hai bản án này để buộc Tài phải chịu thử thách năm năm là không đúng. Đồng thời, yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang rằng cần sửa một phần bản án sơ thẩm với nội dung buộc Tài phải chịu mức phạt tù là ba năm nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là năm năm (chỉ cộng thời gian thử thách) cũng không chính xác.

Trong vụ án trên, thời gian thử thách của hai bản án này không thể được tổng hợp, mức hình phạt tù của hai bản án này lại càng không được tổng hợp. Vì Khoản 5, Điều 60 BLHS quy định: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”. Điều 51 BLHS lại chỉ quy định việc tổng hợp hình phạt mà không đề cập việc tổng hợp thời gian thử thách của án treo. Thêm nữa, Điều 60 của BLHS cũng không quy định việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo mà bị xét xử về một tội phạm được thực hiện trước khi có bản án treo đó (hoặc trước khi bắt đầu tính thời gian thử thách của bản án treo đó).

Vì vậy, theo nguyên tắc pháp chế, căn cứ vào các quy định của BLHS, hai bản án treo này vẫn được giữ nguyên chứ không được tổng hợp. Hai bản án treo trong trường hợp này sẽ được áp dụng song song cho người phạm tội bằng cách, người phạm tội chịu cùng một lúc hai thời gian thử thách. Tài chỉ cần qua thời gian thử thách là ba năm trừ đi thời gian thử thách mà Tài đã trải qua (hơn hai tháng) cho cả hai bản án treo (vì bản án treo thứ nhất với thời gian thử thách ba năm và đã qua hơn hai tháng; bản án treo thứ hai là hai năm).

Việc áp dụng nói trên cho thấy, quy định của BLHS là không công bằng, không phù hợp với nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt. Người phạm nhiều tội cần chịu biện pháp chế tài nghiêm khắc hơn so với người phạm một tội tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của họ. Các nguyên tắc này đã được đảm bảo trong quy định của Điều 51 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong trường hợp một người đang chấp hành hình phạt mà bị xét xử về một tội phạm trước khi có bản án đó. Theo Khoản 1, Điều 51 của BLHS thì “trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Toà án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung”.

Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, tạo căn cứ pháp lý để Toà án cho hưởng án treo một cách có hiệu quả, Điều 60 nên được bổ sung theo hướng quy định việc tổng hợp thời gian thử thách của hai bản án treo trong trường hợp người đang được hưởng án treo mà được hưởng án treo về một tội phạm được thực hiện trước khi tính thời gian thử thách của bản án treo đó. Mức tối đa của thời gian thử thách trong tổng hợp thời gian thử thách là năm năm, bằng mức tối đa của quy định về mức tối đa của thời gian thử thách của án treo. Nó cũng là thời gian đủ để người phạm tội ăn năn, hối cải. Vì vậy, theo chúng tôi, Điều 60 của BLHS nên được bổ sung khoản 6 với nội dung như sau:

“6. Đối với người được hưởng án treo mà lại được hưởng án treo về một tội phạm được thực hiện trước khi tính thời gian thử thách của bản án treo đó, Toà án quyết định tổng hợp thời gian thử thách của bản án treo trước và bản án treo sau. Mức thử thách chung không quá thời gian được quy định tại khoản 1 Điều này”.

Thứ hai, tổng hợp hình phạt trong trường hợp người phạm tội chưa thành niên

Ví dụ vụ án: Ngày 26/9/2004, Trần Ngọc Long (sinh ngày 15/6/1989) đi cùng nhóm bạn vào uống cà phê khu cư xá Thanh Đa (phường 27, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh). Long có mang theo 26 triệu đồng để trong yên xe máy. Khi về nhà, Long phát hiện tiền đã bị kẻ trộm mở khoá yên lấy mất. Ngày hôm sau, qua nguồn tin riêng, Long biết được thủ phạm vụ trộm là Kỳ và Nhân. Tuy nhiên, Long không đi trình báo cơ quan công an mà tự mình tìm đến khống chế bắt Nhân chở về nhà mình. Sau đó, Long hỏi Nhân có lấy tiền của mình không để buộc Nhân trả lại. Tuy nhiên, Nhân không nhận đã lấy tiền của Long. Tức giận, Long lấy dao đâm chết Nhân rồi bỏ trốn.

Ngày 21/9/2006, vì mẹ của Khả Vy (15 tuổi) thiếu tiền Long (Long cho vay) nên Long ép Vy phải về chỗ ở của mình. Tại nơi ở của mình, Long cưỡng ép Vy phải giao cấu với mình để trừ nợ cho mẹ. Vì sợ Long đòi nợ mẹ nên Vy đồng ý giao cấu với Long.

Ngày 13/6/2008, Long uống rượu say, đánh một người đi đường gây thương tích 15% và bị bắt.

Trong vụ án này, Long phạm tổng cộng là ba tội, trong đó, tội nặng nhất là Tội giết người được thực hiện lúc Long trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Căn cứ pháp lý để giải quyết là Điều 75 của BLHS. Điều luật này quy định:

“Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

1. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 của Bộ luật này;

2. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”.

Áp dụng quy định này, có hai quan điểm giải quyết vụ án trên như sau:

Theo quan điểm thứ nhất, do tội phạm nặng nhất được Long thực hiện lúc chưa đủ 18 tuổi, nên hình phạt cao nhất sau khi tổng hợp cho Long không được vượt quá 18 năm tù (mức hình phạt cao nhất được quy định tại Điều 74 của BLHS).

Quan điểm thứ hai cho rằng, mức hình phạt cao nhất của Long sau khi tổng hợp không quá 12 năm tù. Bởi vì, theo Điều 74 của BLHS, có hai nhóm tuổi: đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, hình phạt cao nhất là 12 năm tù; đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, hình phạt cao nhất là 18 năm tù. Do vậy, khi tổng hợp hình phạt, giới hạn mức cao nhất cũng phải tính theo quy định này. Tức là phải chia thành hai nhóm để xem xét tội nặng nhất được thực hiện trong giai đoạn nào (độ tuổi) mà xác định mức hình phạt cao nhất.

“1. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không được vượt quá 12 năm tù, nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vượt quá 18 năm tù”.

(1) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 255; Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 399; Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 219.

(2) Mặc dù Nghị quyết số 01-HĐTP hướng dẫn Điều 44 BLHS năm 1985 nhưng cho đến nay, chưa có văn bản nào khác hướng dẫn nội dung này trong BLHS hiện hành, nên nó vẫn có giá trị tham khảo.

Bạn đang xem bài viết Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Bộ Luật Hình Sự 2022 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!