Xem Nhiều 1/2023 #️ Chủ Động Chọn Người Nhận Học Bổng Nghiên Cứu Sinh # Top 7 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Chủ Động Chọn Người Nhận Học Bổng Nghiên Cứu Sinh # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chủ Động Chọn Người Nhận Học Bổng Nghiên Cứu Sinh mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

GD&TĐ – Việc cử người đi học nghiên cứu sinh ở nước nào (theo chương trình học bổng của Nhà nước thời gian tới) sẽ tùy thuộc vào mong muốn và lựa chọn của các trường ĐH. Bộ GD&ĐT không can thiệp vào quyết định cử người đi học nghiên cứu sinh của các trường. Đó là thông tin được Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chia sẻ mới đây.

Theo đó, đầu năm 2019, Chính phủ Pháp đã thông qua một chương trình học bổng đào tạo nghiên cứu sinh của Việt Nam, thay cho Chương trình 911 (đã dừng từ năm 2017).

Chương trình học bổng mới, Bộ GD&ĐT sẽ phân cấp hết cho các trường ĐH chủ động thực hiện việc cử người đi học.

“Được nhận bao nhiêu suất học bổng tùy thuộc vào đề xuất của từng trường ĐH. Năm nay Bộ sẽ để các trường chủ động đề xuất, trên cơ sở năng lực và nhu cầu thật của trường. Khi đã chủ động đề xuất thì trường phải có những ứng viên bảo đảm điều kiện, năng lực, dựa trên tiêu chí chung mà Bộ GD&ĐT đưa ra”.

Ưu tiên nghiên cứu sinh Việt Nam

Trao đổi về vấn đề cấp học bổng cho nghiên cứu sinh của Việt Nam, ngài Bertrand Lortholary, Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam khẳng định: Pháp mong muốn cùng chính phủ Việt Nam giúp đỡ cho các nghiên cứu sinh có được học bổng thỏa đáng để đảm bảo điều kiện sống và học tập.

Chất lượng đào tạo ĐH của Pháp được xếp đứng hàng thứ tư trên thế giới. Pháp là quốc gia hàng đầu châu Âu thu hút du học sinh từ Việt Nam. Có hơn 7.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Pháp. Theo tính toán của phía Pháp, chi phí cho một SV tại Pháp dao động khoảng từ 10.000 – 15.000 euro/năm.

Theo tính toán mức học phí dự kiến tăng vào mùa thu năm 2019, thay vì SV nước ngoài học tại các trường công lập của Pháp trả phí ghi danh từ 250 đến 300 euro/năm trước đây, thì tăng học phí sẽ phải trả 2.770 euro phí ghi danh chương trình cử nhân, 3.770 euro cho chương trình thạc sĩ.

Chính phủ Pháp cũng như các trường ĐH của nước này dự kiến tăng gấp 3 số lượng học bổng (từ 7.000 lên tới 21.000). Bên cạnh học bổng của Chính phủ Pháp, SV Việt Nam có thể tiếp cận các học bổng của Quỹ Ondon Vallet (Thông tin về các loại học bổng có thể tham khảo trên địa chỉ website của Cơ quan Hỗ trợ du học Pháp Campus France).

Ngay từ khi trở thành Đại sứ của Cộng hòa Pháp (vào tháng 10/2016), trong lần trao đổi với báo chí, ông Bertrand Lortholary đã khẳng định 4 ưu tiên. Trong đó có ưu tiên giúp thế hệ trẻ Việt Nam gần gũi hơn với nước Pháp (bên cạnh các ưu tiên về thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, biến đổi khí hậu).

Quyết Định Về Việc Cấp Học Bổng Học Sinh

Căn cứ Quyết định số 74/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội ngày 12/01/2007 về việc thành lập Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương III; Căn cứ Quyết định số 44/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo ngày 15/08/2007 về học bổng khuyến khích học tập đối với học sinh, sinh viên ở cơ sở giáo dục đào tạo và Trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy công lập; Căn cứ Quyết định số 74/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội ngày 12/01/2007 về việc thành lập Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương III; Căn cứ vào Quyết định số 654/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ngày 23/03/2007 về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương III; Căn cứ Quyết định số 699/QĐ-BLĐTBXH ngày 18/05/2017 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề GTVT TW III thành Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương III;

Căn cứ biên bản họp Hội đồng thi đua khen thưởng Nhà trường ngày 12 – 10 – 2017 về việc xét học bổng khuyến khích học tập học sinh-sinh viên;

Căn cứ Quyết định số 70/2008/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội ngày 30/12/2008 về học bổng khuyến khích học nghề; Xét đề nghị của ông Trưởng phòng Công tác học sinh – sinh viên.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Cấp học bổng cho 43 học sinh – sinh viên đạt thành tích học tập khá, giỏi trong học tập và rèn luyện học kỳ II năm học 2016-2017 (có danh sách kèm theo). Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Điều 3. Trưởng các Phòng, Khoa, giáo viên chủ nhiệm và các học sinh, sinh viên có tên trên chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Mấy Vấn Đề Về Nghiên Cứu Văn Học Dân Gian Qua Văn Bản

* Hồ Quốc Hùng

Nghiên cứu văn học dân gian (VHDG) đương nhiên phải xem tác phẩm VHDG là đối tượng khảo sát chính. Nhưng tác phẩm VHDG tồn tại dưới dạng thức nào, phạm vi, giới hạn ra sao và liệu văn bản có phản ánh trung thực các dạng thức hiện tồn của nó hay không là điều đáng suy nghĩ. Về mặt lý thuyết, những vấn đề như vậy được các nhà Folklore học đặt ra từ lâu. Riêng ở nước ta, vấn đề này thực sự được chú trọng từ những năm 60 – 70 của thế kỷ trước. Dường như ai cũng thấm nhuần nguyên lý: tách văn học dân gian ra khỏi môi trường sinh hoạt là tước mất linh hồn của nó. Dù vậy, trên thực tế người nghiên cứu vẫn phải bám vào yếu tố ngôn từ của tác phẩm thông qua văn bản. Hướng nghiên cứu này được xem là tiếp cận ngữ văn học đối với Folklore.

Nó có mầm mống từ thời cổ đại ở Trung Quốc, La Mã, Ấn Độ… Đến giữa thế kỷ XX nhà Folklore học người Nga V. Ia. Prop đã nhấn mạnh Folklore là lĩnh vực của “những sáng tạo tinh thần, hơn nữa chỉ là những sáng tạo ngôn từ”(1). Những thành tựu gặt hái được trong nghiên cứu VHDG qua nhiều thập niên đã chứng tỏ vai trò quan trọng của văn bản tác phẩm VHDG. Tuy nhiên, vấn đề cần trao đổi ở đây là độ tin cậy của văn bản, sự sống động của ngôn ngữ VHDG được thể hiện như thế nào trong văn bản – điều mà các nhà nghiên cứu thường ít quan tâm. Thực tế cho thấy, người nghiên cứu phần lớn dựa vào các văn bản sưu tầm của người đi trước mà ít quan tâm đến chất lượng của nó, vì vậy, trong một số trường hợp khó tránh khỏi những nhận định sai lạc.

1. Về vấn đề văn bản hóa tác phẩm văn học dân gian

Trường hợp thứ nhất. Khi làm tuyển tập cuốn Thơ ca dân gian Bến Hải(2) từ nguồn tư liệu sưu tầm ở vùng đất “Ô Châu ác địa”, nay là huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chúng tôi chỉ tuyển chọn được gần 2000 đơn vị tác phẩm từ 10.000 đơn vị tác phẩm sưu tầm được. Bất chợt thấy câu ca rất quen, nhưng rất lạ:

Sầu lê mê lụy nhỏ uông uông

Trai mô (nào) trai không thương vợ cũ,

gái mô (nào) gái không buồn chồng xưa.

Trèo đèo hai mái chân vân,

Lòng về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình.

Trường hợp thứ nhất rất tiêu biểu cho tình trạng bỏ sót các dị bản VHDG trong khi sưu tầm, ghi chép, chú giải,… do không thực sự hiểu biết về phương ngữ.

Theo chúng tôi, có hai hướng nghiên cứu chính sau đây tác động đến sự hình thành và sử dụng văn bản VHDG:

Vì vậy việc văn bản hóa đòi hỏi người ghi chép phải có hiểu biết và có kỹ năng. Đành rằng người ghi chép bao giờ cũng dựa vào đặc điểm ngôn ngữ của thời đại mình. Song vẫn phải tôn trọng trạng thái ngôn ngữ của tác phẩm văn học khi nó ra đời để đưa vào văn bản là một sự tính toán khoa học. Ở đây, cần sự phối hợp tri thức của nhiều lĩnh vực. Trên thực tế, không phải ai nghiên cứu VHDG cũng đều tham gia công tác điền dã và không phải người điền dã nào cũng đều là nhà Folklore học. Cho nên sai lầm trong quá trình văn bản hóa là điều khó tránh khỏi. Như đã nói, việc nghiên cứu từ trước đến nay ở nước ta thường chú trọng đến hướng sử dụng loại văn bản thứ nhất. Trên cơ sở đó, các nhà Folklore đã xác lập được kiểu cấu trúc tác phẩm thể loại, tìm hiểu đặc tính dân tộc ẩn chứa dưới các công thức ổn định. Nói cách khác, người ta đã mô tả được thi pháp thể loại và xa hơn là khám phá được sự vận động của các kiểu cấu trúc ấy qua các thời đại để chỉ ra thi pháp lịch sử của nó. Đấy là thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên khuynh hướng hàn lâm hóa trong nghiên cứu VHDG này ở nước ta ít nhiều đã qua các tác giả sách giáo khoa, thâm nhập vào chương trình VHDG các cấp học phổ thông, từ hơn 30 năm trở lại đây, xen với khuynh hướng xã hội học thuần tuý, dung tục trong dạy và học suốt một thời gian dài đã biến tác phẩm và công việc tìm hiểu tác phẩm thành những khuôn mẫu cứng nhắc, nhưng lại nhân danh giá trị truyền thống văn hóa… Tình trạng đó là có thể hiểu được, song bản chất nghệ thuật dân gian vốn sinh động, độc đáo chứ không thuần túy nằm ở công thức, khuôn mẫu dân gian như thi pháp miêu tả mà ta đã biết. Do vậy, hướng nghiên cứu loại văn bản thứ hai sẽ cho ta một cái nhìn toàn diện hơn về đời sống của VHDG. Trước đây, người ta vẫn quan tâm đến hình thức diễn xướng và mối quan hệ giữa tác phẩm với môi trường sống chứ chưa quan tâm xem xét nó trên bình diện văn bản, đúng hơn là việc văn bản hóa các hoạt động đó. Ở góc độ này, ngôn từ của VHDG vừa hoàn thiện vừa thô mộc và cả lệch chuẩn, điều mà người làm công tác điền dã thường thấy. Từ nhận thức trên, nên chăng cần phải xem lại các khái niệm “tinh tuyển”, “thô mộc” của tác phẩm VHDG như các nhà sưu tuyển vẫn làm theo hướng thứ nhất? Việc tồn tại, lưu hành VHDG trong trí nhớ và hành ngôn của dân gian khá đa dạng. Mỗi hình thức tồn tại ở dạng hành ngôn cá thể dù ở mức độ nào cũng đều có giá trị thực tiễn của nó. Nếu ghi lại được trung thực các dạng thức hành ngôn ấy, người nghiên cứu sẽ thấy được nhiều thông điệp có giá trị về bản chất của quá trình vận động VHDG. Vì vậy việc tước bỏ đi hàng loạt tác phẩm trong quá trình sưu tầm vì lý do nào đi nữa cũng đều là một sự lãng phí ghê gớm. Do đó, theo chúng tôi, về mặt nguyên tắc cần tôn trọng các văn bản ghi nhận trung thực khách quan dạng thức tồn tại tác phẩm để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khác nhau. Muốn vậy, cần phải xem tác phẩm VHDG dưới góc độ hành động ngôn từ chứ không chỉ dừng lại ở quan niệm yếu tố ngôn ngữ thuần túy trong văn bản.

2. Tác phẩm văn học dân gian xét từ góc độ là sản phẩm của hành động ngôn từ

Nghiên cứu VHDG theo hướng tiếp cận ngữ văn học, nói rõ hơn là tiếp cận từ góc độ hành động ngôn từ, giúp người nghiên cứu, một mặt, nắm bắt đúng đặc trưng thẩm mĩ, bản chất các diễn ngôn văn học dân gian; mặt khác, xác lập được các nguyên tắc, các hệ thống thao tác văn bản hóa tác phẩm một cách chuẩn xác, cũng như hiểu sâu hơn ý nghĩa của việc văn bản hóa tác phẩm một cách khoa học(3).

(2) Thơ ca dân gian Bến Hải.SởVăn hóa – Thông tin Bình-Trị-Thiên Xb, 1985.

– Đỗ Hữu Châu: Đại cương ngôn ngữ học – Tập 2: Ngữ dụng học. Nxb. Giáo dục, H, 2001.

– Tuyển tập chúng tôi Prop. Nxb. Văn hóa dân tộc. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, H, 2004.

Đại Biểu Hđnd Tỉnh Đề Nghị Nghiên Cứu Sửa Đổi Chế Độ Cho Những Người Hoạt Động Ở Khối, Xóm, Bản

5 bất cập trong thực hiện chế độ cho các chi hội trưởng ở khối, xóm, bản

– Thứ nhất, cấp xóm không phải là cấp hành chính, không thể xây dựng được kế hoạch công việc cụ thể gắn với dự toán chi tiêu ngân sách (công việc của xóm thường xuyên phát sinh không thể lập kế hoạch trước).

– Thứ hai, việc của đoàn thể cấp xóm rất khó phân định rạch ròi đâu là việc của đoàn thể, đâu là việc của xóm (Ví dụ: Chi hội Phụ nữ xóm thực hiện chủ trương của Hội Phụ nữ cấp trên là đường hoa xóm NTM, đây là việc của xóm hay việc của đoàn thể…);

Đại biểu Ngô Thị Thu Hiền (thành phố Vinh) đặt ra vấn đề ở khối, xóm có nhiều đối tượng tham gia công việc chứ không riêng 5 chi hội trưởng 5 đoàn thể. Ảnh: Thành Cường

– Thứ ba, việc chi trả tiền bồi dưỡng theo hình thức chấm công là khó thực hiện, vì không thể đưa ra định mức hoạt động đoàn thể theo ngày công. Nếu tính theo công nhật thì ai sẽ là người đi theo cán bộ đoàn thể để chấm công;

– Thứ tư, việc đưa ra mức bồi dưỡng 50.000 – 100.000 đồng là chưa hợp lý kể cả tên gọi và mức chi, cũng như nguồn kinh phí đảm bảo (với mức 23 – 25 triệu đồng/đoàn thể/năm), với mức đó nếu tính chi cho ngày công thì không thể hoạt động được).

– Thứ năm, với phương án thực hiện trên thủ tục hết sức rườm rà, phức tạp, nếu phải tiếp tục thực hiện theo quy định trên buộc các xóm phải hợp thức hóa hồ sơ, lâu dài sẽ gây hệ lụy. Đề nghị UBND tỉnh xem xét điều chỉnh lại Quyết định 14/2020/QĐ-UBND.

Những vấn đề trên là bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 22/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về số lượng, chức danh, mức phụ cấp, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và các đối tượng khác ở xã, phường, thị trấn và xóm, khối, bản trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 27/5/2020 của UBND tỉnh Nghệ An về mức chi bồi dưỡng và quy trình thực hiện mức chi bồi dưỡng đối với người trực tiếp tham gia công việc của xóm, khối, bản trên địa bàn tỉnh.

Đại biểu Phan Thị Thanh Thủy (thị xã Thái Hòa) đề xuất UBND tỉnh nghiên cứu sửa đổi Quyết định 14/QĐ-UBND ngày 27/5/2020. Ảnh: Thành Cường

Đại biểu Ngô Thị Thu Hiền (thành phố Vinh), nêu ý kiến, trong Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND có quy định về đối tượng áp dụng là người trực tiếp tham gia công vệc ở khối, xóm, bản, trong đó, ưu tiêu chi hội trưởng của 5 đoàn thể Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Người cao tuổi, Đoàn thanh niên.

Tuy nhiên, những người tham gia công việc thường xuyên ở khối, xóm, bản còn có Chi hội Chữ thập đỏ, Khuyến học, Tổ trưởng các tổ dân cư… Với số lượng người hoạt động ở khối, xóm hiện nay so với mức khoán theo Nghị quyết 22/2019/NQ-HĐND khó đảm bảo mức chi cho tất cả đối đối tượng.

Đại biểu Hoàng Văn Phi (Hưng Nguyên) cũng đề cập đến bất cập trong thực hiện chế độ cho những người hoạt động ở khối, xóm, bản. Ảnh: Thành Cường

Mặt khác, theo đại biểu Ngô Thị Thu Hiền, trong Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND quy định đối tượng ưu tiên, vậy đối tượng không thuộc diện ưu tiên là ai, đề nghị UBND tỉnh cần làm rõ? Đại biểu Ngô Thị Thu Hiền cũng đề nghị việc hướng dẫn lập dự toán khoán bồi dưỡng, không nên lập theo ngày công mà nên theo hoạt động của các tổ chức đoàn thể bởi mỗi đoàn thể có những hoạt động khác nhau.

Cũng quan tâm đến chế độ bồi dưỡng cho những người tham gia công việc ở khối, xóm, bản, đại biểu Phan Thị Thanh Thủy (thị xã Thái Hòa) cho rằng, thực tiễn triển khai Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND đang bất cập, đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu, điều chỉnh quy định về mức chi, cách chi phù hơp, nếu không thay đổi thì dễ gây mất đoàn kết ở cơ sở.

Ông Trần Quốc Chung – Phó Giám đốc Sở Nội vụ giải trình làm rõ nhiều vấn đề đại biểu quan tâm. Ảnh: Thành Cường

Căn cứ Nghị định số 34/2019/NĐ-CP và trên cơ sở Nghị quyết số 151/2014/NQ-HĐND của HĐND tỉnh quy định về mức phụ cấp hàng tháng của chi hội trưởng các đoàn thể ở khối, xóm, bản trên địa bàn tỉnh được ban hành trước đó và tham khảo tại một số tỉnh trong cả nước, UBND tỉnh đã tính toán tham mưu HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết 22/2019/NQ-HĐND-UBND về mức khoán kinh phí hoạt động ở khối, xóm để khoán cho các tổ chức hoạt động có mức cao hơn theo Nghị quyết số 151/2014/NQ-HĐND thông qua hình thức bồi dưỡng theo ngày tham gia công việc trực tiếp ở xóm 50.000 – 100.000 đồng/ngày.

Toàn cảnh kỳ hop. Ảnh: Thành Cường

Sau phần giải trình của Phó Giám đốc Sở Nội vụ Trần Quốc Chung, đồng chí Cao Thị Hiền – Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tọa kỳ họp khẳng định, việc thực hiện chế độ bồi dưỡng cho những người tham gia công việc ở khối, xóm, bản được thực hiện trên cơ sở các quy định của Trung ương.

Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn đang đặt ra nhiều bất cập, vì vậy, sau kỳ họp này đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ, Sở Tài chính khảo sát, đánh giá lại thực tiễn để tháo gỡ, nếu chính sách đã đúng thì cần làm tốt công tác tuyên truyền để chính sách đi vào cuộc sống. Chủ tọa kỳ họp Cao Thị Hiền cũng nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của chính quyền các địa phương trong câu chuyện này.

Mai Hoa

Bạn đang xem bài viết Chủ Động Chọn Người Nhận Học Bổng Nghiên Cứu Sinh trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!