Xem Nhiều 12/2022 #️ Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản / 2023 # Top 13 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nội dung câu hỏi: Vợ chồng tôi và anh Trần Văn Dũng làm hợp đồng mua bán 1 căn hộ trị giá 1 tỉ. Tuy nhiên anh Dũng đề nghị chúng tôi là sẽ làm hợp đồng mua bán chỉ 500 triệu thôi vì để cả hai bên đều không phải đóng thuế nhiều. Xin hỏi luật sư liệu như vậy có được không?

Trả lời:

Về câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

– Căn cứ vào Điều 402 Bộ luật Dân sự 2005 quy định vềNội dung của hợp đồng dân sự:

“T uỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; 2. Số lượng, chất lượng; 3. Giá, phương thức thanh toán; 4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; 5. Quyền, nghĩa vụ của các bên; 6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; 7. Phạt vi phạm hợp đồng; 8. Các nội dung khác.”

Như vậy, giá mua bán là một trong những điều khoản của Hợp đồng.

Căn cứ và Điều 431 bộ luật dân sự quy định về giá và phương thức thanh toán

“1. Giá do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên.

Trong trường hợp các bên thoả thuận thanh toán theo giá thị trường thì giá được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh toán. Đối với tài sản trong giao dịch dân sự mà Nhà nước có quy định khung giá thì các bên thoả thuận theo quy định đó. 2. Các bên có thể thoả thuận áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá. 3. Thoả thuận về giá có thể là mức giá cụ thể hoặc một phương pháp xác định giá. Trong trường hợp thoả thuận mức giá hoặc phương pháp xác định giá không rõ ràng thì giá của tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng. 4. Phương thức thanh toán do các bên thoả thuận.”

Như vậy, trong quá trình mua bán nhà thì 2 bên có thể thỏa thuận về giá.

Giá trong Hợp đồng mua bán nhà có thể dùng làm căn cứ để tính thuế thu nhập cá nhân và điều này được quy định tại Điều 19 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định về thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai:

“Giá chuyển nhượng được xác định cụ thể như sau: a) Giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng;

b) Trường hợp, hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.

Bạn có thể đối chiếu trường hợp của mình với các điều luật nêu trên để có thể thỏa thuận được giá tốt nhất đảm bảo quyền lợi của mình.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 19006557 để được tư vấn.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Cần Có Những Điều Khoản Nào? / 2023

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa hai bên người mua và người bán làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa. Chính vì vậy việc soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa rất quan trọng.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa hai bên người mua và người bán làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa. Chính vì vậy bước soạn thảo hợp đồng là hết sức quan trọng. Các bên cần phải thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng thật rõ ràng để bảo vệ quyền lợi cho mỗi bên tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra khi thực hiện hợp đồng.

Căn cứ pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa

Luật Thương mại năm 2005 quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:

“Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá: 1- Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2- Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”. (Điều 24)

Điều khoản thứ nhất, về thông tin chủ thể hợp đồng (các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa)

Điều khoản này phải có các thông tin sau: Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên. Trường hợp bên ký kết là pháp nhân, cần có thông tin họ, tên, người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh (thông tin cơ bản của các bên). Trường hợp ký với cá nhân cần có thông tin về giấy tờ chứng thực cá nhân như giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, ngày tháng năm sinh, chỗ ở hiện tại, hộ khẩu thường trú, số điện thoại.

Người ký hợp đồng kinh tế phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân của người đứng tên đăng ký kinh doanh. Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng mua bán hàng hóa. Người được uỷ quyền chỉ được ký hợp đồng kinh tế trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba.

Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch, công văn điện báo, đơn chào hàng đơn đặt hàng .Hợp đồng được coi là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thực hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với hợp đồng kinh tế.

Đối tượng của hợp đồng, số lượng, khối lượng hoặc giá trị quy ước đã thoả thuận. trong đó: (i) Đối tượng của hợp đồng là điều khoản về tên hàng; (ii) Điều khoản về số lượng xác định bằng các đơn vị tính số lượng, trọng lượng, khối lượng, chiều dài diện tích.

Điều khoản thứ ba,về chất lượng chủng loại quy cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật.

Chất lượng hàng hóa được ghi trong hợp đồng là các đặc tính, các quy cách, tác dụng hiệu suất… Nói lên mặt “chất” của hàng hóa nghĩa là xác định các tính chất hữu ích bên trong và hình thái bên ngoài của hàng hoá bao gồm các thuộc tính tự nhiên và ngoại hình của hàng đó trong hợp đồng mua bán chất lượng là cơ sở để hai bên mua bán, đàm phán về giao nhận hàng và quyết định mức giá cả của hàng hóa. Nếu chất lượng không phù hợp với thoả thuận, bên mua có quyền đòi bồi thường thiệt hạ i sửa chữa thay thế hàng đến mức có thể từ chối nhận hàng và huỷ bỏ hợp đồng.

Điều khoản thứ tư, đ iều khoản về giá cả.

Giá cả là một điều khoản đặc biệt quan trọng, là điều khoản trung tâm của hợp đồng. Các bên mua bán đều tranh thủ đặt giá cả có lợi cho phía mình.

Giá tính theo đơn vị hàng: trọng lượng, chiều dài, bề mặt, khối lượng, chiếc, hay tính theo tá hoặc hàng trăm đơn vị . Nếu hàng giao gồm nhiều loại chất lượng khác nhau thì giá một đơn vị hàng tính theo từng loại từng mác.

Khi giao hàng có phẩm chất , chủng loại khác nhau , giá được quy định cho từng loại mặt hàng , từng loại phẩm chất vá từng loại mác khác nhau . khi giao hàng thiết bị toàn bộ giá thường dược định theo giá trị của từng chuyến giao hàng hoặc từng bộ phận máy đãđược nêu rõ trong bản phụ lục kèm theo hợp đồng. Nếu giá tính theo trọng lượng , phải quy định rõ: trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh hay trọng lượng cả bì coi như tịnh, hoặc phải thoả thuận rõ xem giá bao bì cóđược tính trong hàng hày không. Những quy định này cũng cần phải nêu rõ khi tính giá chiếc.

Điều khoản này quy định phương thức hai bên đã thỏa thuận để bên mua thanh toán tiền hàng cho phía bên bán. Điều khoản này cần quy định rõ thời hạn thanh toán, đồng tiền thanh toán,hình thức thanh toán và các tài liệu chứng từ làm căn cứ để thanh toán.

– Thời hạn thanh toán: Các bên có thể quy định trong một khoảng thời gian phù hợp nhất để bên người mua có thể thanh toán được toàn bộ tiền hàng cho phía bên người bán. Thời hạn thanh toán có thể là trả trước, trả sau hoặc trả ngay.

– Hình thức thanh toán: Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau: L/C, Clean collection, D/A, D/P, T/T, M/T, CAD, Tiền mặt, cheque … mỗi phương thức có những ưu nhược điểm khác nhau. Cần nghiên cứu kỹ để chọn phương thức thanh toán thích hợp.

– Thời hạn giao hàng: Là khoảng thời gian người bán cõ nghĩa vụ phải giao hàng cho người mua.

Có 03 cách quy định về thời hạn giao hàng đó là: (i) Thời hạn giao hàng có định kỳ; (ii) Thời hạn giao hàng không có định kỳ; (iii) Thời hạn giao hàng ngay.

– Địa điểm giao hàng: Cần quy định rõ nơi mà người mua sẽ nhận chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ người bán trong hợp đồng để tránh những rủi ro cho các bên.

– Điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng: Ví dụ như CIF cảng Hải Phòng.

Điều khoản này quy định những biện pháp khi hợp đồng không được thực hiện (toàn bộ hay một phần). Điều khoản này cùng lúc nhằm hai mục tiêu: (i) Ngăn ngừa đối phương có ý định không thực hiện hay thực hiện không tốt hợp đồng; (ii) Xác định số tiền phải trả nhằm bồi thường thiệt hại gây ra.

(i) Phạt chậm giao hàng: Ví dụ: Nếu Người bán giao hàng chậm thì các khoản phạt sẽ áp dụng như sau: tuần đầu chậm giao, không tính phạt. Tuần thứ hai đến tuần thứ năm phạt 1% tuần giao chậm; từ tuần thứ sáu: 2 % tuần, nhưng tổng số tiền phạt giao chậm không quá 10% tổng giá trị hàng giao chậm.

(ii) Phạt giao hàng không phù hợp về số lượng và chất lượng:

(iii) Phạt do chậm thanh toán: Phạt 1 tỷ lệ phần trăm của số tiền đến thời hạn thanh toán, tính theo thời hạn chậm thanh toán. Ví dụ: 1% của số tiền chậm thanh toán/ tháng; hoặc: Phân bố lãi suất chậm thanh toán, thường vận dụng tỷ lệ chiết khấu chính thức hay lãi suất hợp pháp được công bố hay lãi suất nợ quá hạn của các ngân hàng, có lúc còn cộng thêm vài %. Ví dụ: “Trường hợp chậm thanh toán, kể từ ngày đến hạn, số tiền chưa trả được tính lãi. Lãi suất tính theo lãi suất nợ quá hạn của các ngân hàng cộng thêm 2%.

Bất khả kháng là sự kiện khi xảy ra làm cho hợp đồng trở thành không thể thực hiện được, mà không ai bị coi là chịu trách nhiệm. Các sự kiện bất khả kháng mang 03 (ba) đặc điểm sau: (i) Không thể lường trước được; (ii) Không thể vượt qua; (iii) Xảy ra từ bên ngoài.

Tuy nhiên, vẫn có thể quy định trong hợp đồng coi là bất khả kháng các sự kiện mà bình thường ra thì không có đủ 3 đặc điểm trên, ví dụ: đình công, hỏng máy, mất điện, chậm được cung cấp vật tư . . . Cũng có thể quy định thêm rằng: các sự kiện đó chỉ tạm ngưng việc thực hiện hợp đồng chứ không làm hợp đồng mất hiệu lực.

Đơn khiếu nại được gởi đi kèm theo các chứng từ cần thiết như: biên bản giám định, biên bản chứng nhận tổn thất, mất mát, vận đơn đường biển, bản liệt kê chi tiết, giấy chứng nhận chất lượng.

Trong điều khoản này cần quy định các nội dung sau: (i) Ai là người đứng ra phân xử? Tòa án Quốc gia hay Trọng tài, trọng tài nào, thành lập ra sao? Để giải quyết tranh chấp giữa các bên giao dịch, khi những tranh chấp này không thể giải quyết bằng con đường thương lượng; (ii) Luật áp dụng vào việc xét xử; (iii) Địa điểm tiến hành xét xử; (iv) Phân định chi phí trọng tài; (v) Phân định chi phí trọng tài.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương – Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Điểm Mới Trong Bán Đấu Giá Tài Sản / 2023

Chủ nhật – 25/07/2010 05:04

Điểm mới trong bán đấu giá tài sản

(Chinhphu.vn) – Chính phủ vừa ban hành Nghị định mới về bán đấu giá tài sản, thay thế Nghị định 05/2005/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế cần tháo gỡ sau 4 năm triển khai. Nghị định này được đánh giá là có nhiều điểm mới, hoàn thiện hơn và đáp ứng được nhu cầu của hoạt động bán đấu giá tài sản.

Nghị định quy định rõ hơn về đối tượng tài sản phải áp dụng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, bao gồm: Tài sản để thi hành án; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước; tài sản bảo đảm được xử lý bằng bán đấu giá; tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trong trường hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn bán đấu giá tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp thì trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này cũng được áp dụng.

Nâng cao tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên

Nghị định 05/2005/NĐ-CP quy định điều kiện được cấp thẻ đấu giá viên tương đối đơn giản, chưa tương xứng với nhiệm vụ, trách nhiệm của đấu giá viên (quy định người có bằng đại học trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có thể trở thành đấu giá viên mà không cần phải qua đào tạo, bồi dưỡng).

Nhằm nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ đấu giá viên, Nghị định mới quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên. Theo đó, đấu giá viên phải là người đã tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế và đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá.

Do tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề đối với đấu giá viên được nâng lên, nên trách nhiệm pháp lý của họ cũng được nâng cao. Cụ thể, đấu giá viên được sử dụng quyền của mình để xử lý trực tiếp, kịp thời các hành vi thông đồng dìm giá hoặc vi phạm nội quy bán đấu giá của những người tham gia đấu giá.

So với Nghị định 05, Nghị định mới còn bổ sung quy định về việc cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề nhằm quản lý chặt chẽ hơn hoạt động của đội ngũ đấu giá viên.

Quy định rõ hơn về tổ chức bán đấu giá tài sản

Thực hiện chủ trương tiếp tục xã hội hoá về tổ chức bán đấu giá tài sản, Nghị định xác định rõ hơn các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp gồm có: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Hiện nay, trong cả nước đã có 63 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do UBND tỉnh thành lập và 104 doanh nghiệp bán đấu giá tài sản được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Ngoài các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp, còn có 2 loại Hội đồng: Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện được thành lập để thực hiện bán tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt được thành lập để bán đấu giá tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị lớn, phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá. Với quy định rõ ràng như trên sẽ góp phần khắc phục tình trạng thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản một cách tràn lan ở các địa phương.

Tăng mức tiền đặt trước

Hạn chế thông đồng trong đấu giá tài sản

Nghị định 05 quy định trong trường hợp người điều hành cuộc bán đấu giá đã công bố người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề ít nhất bằng giá khởi điểm. Nếu người liền kề không đồng ý mua hoặc giá liền kề thấp hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá không thành và khoản tiền đặt trước của người từ chối mua thuộc về người có tài sản bán đấu giá.

Tuy nhiên, quy định này đã bị lợi dụng trên thực tế, có tình trạng cố tình trả giá rất cao, được tuyên bố là người mua được tài sản rồi lại từ chối mua để người liền kề mua được tài sản và hai bên chia nhau số tiền chênh lệch. Ngoài ra, khả năng cuộc bán đấu giá không thành là rất cao vì người trả giá liền kề có thể không đồng ý mua.

Do đó, Nghị định mới đã sửa đổi theo hướng quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với người từ chối mua và hạn chế sự thông đồng giữa một số người tham gia đấu giá. Cụ thể, người từ chối mua tài sản không được hoàn trả khoản tiền đặt trước và khoản tiền này thuộc về người có tài sản bán đấu giá. Đồng thời, tài sản chỉ được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối mua.

Quy định như trên sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi của người có tài sản, không làm giảm giá trị của tài sản bán đấu giá và bảo đảm cuộc bán đấu giá thành.

Phương Mai(Nguồn: Nghị định 17/2010/NĐ-CP)

Tư Vấn Mua Bán Tài Sản Theo Hình Thức Bán Đấu Giá Đúng Với Pháp Luật / 2023

Xin chào Luật sư, tôi muốn hỏi Luật sư rằng bán đấu giá tài sản có phải là một hình thức mua bán tài sản được điều chỉnh bởi quy định của bộ luật dân sự không? Tôi xin cảm ơn Luật sư!

Chào bạn, với câu hỏi của bạn Luật sư tư vấn dân sự của Luật Hoàng Phi xin được trả lời như sau:

Bán đấu giá tài sản cũng là một hình thức mua bán tài sản, có sự tham gia của bên bán – bên mua, là việc mua đứt bán đoạn và được Bộ luật Dân sự 2015 dành riêng Điều 451 về Bán đấu giá tài sản như sau:

” Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.”

Tư vấn mua bán tài sản theo hình thức bán đấu giá

Bán đấu giá tài sản cũng là mua bán tài sản nhưng có những nét đặc trưng riêng. Đây là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho đến khi có người trả giá cao nhất. Như vậy, bán đấu giá tài sản có rất nhiều điểm khác biệt so với bán tài sản thông thường. Theo phương thức này, bên tham gia mua tài sản luôn có từ hai người trở lên, mỗi người có quyền trả giá nhiều lần cho đến khi có người trả giá cao nhất và mua được tài sản. Người thực hiện việc bán đấu giá là Tổ chức bán đấu giá.

Khi có nhu cầu bán đấu giá, cá nhân là chủ sở hữu tài sản ký hợp đồng bán đấu giá với Tổ chức bán đấu giá tài sản. Trường hợp bán đấu giá tài sản để thi hành án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá quyền sử dụng đất thì phải tuân theo các quy định của pháp luật về bán đấu giá.

Trong trường hợp tài sản mang bán đấu giá là tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người, thì phải có sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu đó, trừ khi các đồng chủ sở hữu có thỏa thuận dành quyền định đoạt tài sản cho một đồng chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, bán đấu giá tài sản thì việc tổ chức mua bán thường lớn và có đông người tham gia. Ngoài quy định tại Bộ luật dân sự, bán đấu giá tài sản còn được quy định tại Luật Thương mại, Nghị định 17/2010/NĐ – CP về bán đấu giá tài sản.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Bạn đang xem bài viết Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!