Xem Nhiều 2/2023 #️ Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới # Top 11 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài vào phủ Chúa Trịnh , giáo án theo định hướng phát triển năng lực, xây dựng ài học theo tiến trình hoạt động của học sinh (Tài liệu sưu tầm ) Ngày soạn: 20/8/2017 Tuần 1: Tiết 1,2: Đọc văn:VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH (TríchThượng kinh kí sự)

-Lê Hữu Trác- Mục tiêu bài học: Giúp HS hiểu

– Bức tranh chân chân thực, sống động về cuộc sống xa hoa, đầy quyền uy nơi phủ chúa Trịnh và thái độ tâm trạng của nhân vật “tôi” khi bước vào phủ chúa chữa bện cho Trịnh Cán. – Vẻ đẹp tâm hồn của Hải Thượng Lãn Ông; lương y; nhà nho thanh cao, coi thường danh lợi. – Những nét đặc sắc của bút pháp kí sự: tài quan sát miêu tả sinh động những sự việc có thật; lối kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn; lựa chọn chi tiết đặc sắc; đan xen văn xuôi và thơ.

Đọc hiểu thể kí sự trung đại theo đặc trưng thể loại.

Thái độ phê phán nghiêm túc lối sống xa hoa nơi phủ chúa. Trân trọng lương y, có tâm có đức.

Hoạt động của Gv và Hs

Nội dung cần đạt

* Bước 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu vài nét về tác giả. GV yêu cầu HS đọc và tóm tắt những ý chính trong phần tiểu dẫn (trang 3).

Định hướng: – Vài nét về tác giả? – Vị trí, nội dung, thể loại của tác phẩm “Thượng kinh ký sự”? – Vị trí và nội dung của đoạn trích?

HS trao đổi trả lời định hướng 1 GV chốt ý. GV bổ sung:Chữ lãn (lười) thể hiện rất rõ con người LHT: ghét danh lợi, yêu cây cỏ, thích bầu bạn cùng thiên nhiên, chuyên tâm làm thuốc, chữa bệnh cứu người, viết sách để dạy học trò.Bước 2: Hướng dẫn tìm hiểu vài nét về tác phẩm. HS tìm hiểu trả lời định hướng 2.

Bước 3: Tìm hiểu đoạn trích. Gv yêu cầu Hs nêu nội dung vị trí, bố cục đoạn trích

Bước 1: HD học sinh đọc và tóm tắt các sự việc chính. GV yêu cầu HS tóm tắt lại các sự việc chính được tác giả ghi chép. HS:Tóm tắt lại sự việc chính theo bước chân nhân vật tôi.

Bước 2: Tìm hiểu về quang cảnh trong phủ chúa

GV: Nhìn lại con đường theo chân tác giả vào phủ chúa Trịnh, em thấy ấn tượng nhất điều gì về quang cảnh nơi phủ chúa? HS trình bày ấn tượng

GV định hướng.

HĐ 3: Luyện tập kĩ thuật dạy học: GV nêu vấn đề, gợi ý GV chỉ vào sơ đồ tóm tắt ở phần 1 và yêu cầu: Nhìn lại con đường tác giả vào phủ chúa Trịnh, anh chị thấy ấn tượng nhất điều gì về quang cảnh trong phủ chúa? Gv gọi một số HS trình bày ấn tượng của mình về quang cảnh nơi phủ chúa GV gợi ý: Rất nhiều cửa, rất quanh co, rất nhiều người, rất giàu sang và xa hoa… HS tự tìm các chi tiết làm rõ phần gợi ý của GvHĐ 4: Vận dụng PP kĩ thuật dạy học: GV nêu vấn đề, gợi ý Trình bày suy nghĩ về cảnh giàu sang trong phủ chúa?

Hoạt động 5: Hoạt động tìm tòi, mở rộng

PP, kĩ thuật dạy học: Nêu vấn đề, gợi mở GV nêu nhiệm vụ: – Tìm đọc đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, tác phẩm thượng kinh kí sự – Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh (chị ) về quang cảnh trong phủ chúa

Hướng dẫn học tập – Nắm vững những nét khái quát về tác giả, tác phẩm, quang cảnh trong phủ chúa. – Soạn tiếp: Tìm hiểu về cung cách sinh hoạt trong phủ chúa,thái độ tâm trạng tác giả khi vào phủ.

Tiết 2. Mục tiêu bài học: Giúp học sinh

Hoạt động của GV và Hs

Nội dung cần đạt

Bước 1: Tìm hiểu cung cách sinh hoạt trong phủ chúa. GV? Lần đầu tiên vào phủ chúa, HTLO nhận xét cảnh sống ở đây thực khác hẳn người thường. Em có nhận thấy điều đó qua cung cách sinh hoạt? HS: Đọc, phát hiện những biểu hiện khác thường trong cung cách sinh hoạt trong phủ chúa GV gọi HS trả lời, nhận xét, định hướng.

GV: Hãy chọn và phân tích một vài chi tiết thú vị trong đoạn trích?

2-3 HS lựa chọn chi tiết theo ý mình rồi phân tích

GV: Khi kê đơn cho thế tử, tâm trạng tác giả diễn biến như thế nào? HS trả lời.Bước 2: TÌm hiểu thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa GV thuyết giảng: Cách chữa bệnh của các vị thầy thuốc khác và quan chánh đường là Có bệnh thì trước hết phải đuổi bệnh. Khi đã đuổi cái tà đi thì hãy bổ, thì mới là cái phép đúng đắn nhất. LHT lí giải về căn bệnh của thế tử là do ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no mặc quá ấm nên phủ tạng yếu đi, …nguyên khí hao mòn, thương tổn quá mức. Đó là căn bệnh có nguồn gốc từ cái xa hoa no đủ, hưởng lạc. Bệnh từ trong mà phát ra do nguyên khí bên trong ko vững mà âm hỏa đi càn

Qua đó hiểu được điều gì về con người LHT?

Bước 3: Tìm hiểu Nt GV: Có người cho rằng Thượng kinh kí sự là một cuốn sổ tay cá nhân của thầy thuốc LHT ghi chép các tư liệu về chuyến lên kinh chữa bệnh cho cha con thế tử? Ý kiến của em? HS tự do nêu ý kiến GV định hướng Bước 4: Hướng dẫn HS tổng kết

GV: Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác phẩm?

GV goi 1 HS Tkết lại ND

Hoạt động 3: HĐ Luyện tập Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp

HS đọc bai tập trong sgk Gv hướng dẫn

Đoạn trích “Chuyện cũ trong phủ chúa TRịnh” + Phản ánh hiện thực xa hoa trong phủ chúa, sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê- Trịnh + Thể hiện thái độ phê phán, bất bình của tác giả. + Ghi chép tản mạn, chủ quan , không gò bó theo hệ thống kết cấu song vẫn tuân theo mạch tư tưởng, cảm xúc chủ đạo là phê phán thói ăn chơi xa xỉ, tệ nhũng nhiễu nhân dân của vua chúa và quan lại. – Kí sự của Lê Hữu Trác được ghi chép theo trật tự thời gian của các sự việc

Hoạt động 4 : Hoạt động vận dụng Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà chuẩn bị, giáo viên kiểm tra, gợi ýBài học đã cho em những nhận thức gì về chế độ phong kiến ngày xưa? Em thấy chế độ ta ngày nay có những điểm ưu việt gì trong mối quan hệ giữa các cấp lãnh đạo với nhân dân?

Hoạt động 5: Hoạt động tìm tòi, mở rộngPhương pháp thực hiện: – GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà sưu tầm qua tài liệu tham khảo, qua mạng, …Câu hỏi: 1/ Tìm đọc một số tác phẩm khác của Lê Hữu Trác 2/ Phân tích vẻ đẹp của nhân cách Lê Hữu Trác được thể hiện trong tác phẩm. 3/ Sưu tầm một số tranh ảnh về nhà văn.

Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

Soạn bài Tấm Cám Ngữ văn lớp 10. Thiết kế bài dạy theo tiến trình hoạt động của học sinh. Giáo án Tấm Cám soạn theo phương pháp mới, theo định hướng phát triển năng lực của học sinhTiết theo PPCT: 23Ngày soạn:Ngày dạy: TẤM CÁMMỤC TIÊU CẦN ĐẠT:

– Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột và sự biến hóa của Tấm trong truyện Tấm Cám. – Nắm được giá trị nghệ thuật của truyện.

Về kĩ năng: Biết cách đọc và hiểu một truyện cổ tích thần kì: nhận biết được một truyện cổ tích thần kì qua đặc trưng thể loại.

Về thái độ, phẩm chất:

– Thái độ: Có tình yêu thương đối với người lao động, có niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện, của chính nghĩa trong cuộc sống – Phẩm chất: Sống yêu thương, sống tự chủ và sống trách nhiệm…

– Năng lực chung: + Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông – Năng lực riêng: + Năng lực tái hiện và vận dụng kiến thức, + Năng lực đọc – hiểu, giải mã văn bản, + Năng lực sáng tạo, năng lực tạo lập văn bản, + Năng lực vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống…

Ổn định tổ chức.

Kiểm tra bài cũ: Em hãy trình bày vai trò của sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự. Nêu cách lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu.

Bài mới

Khởi động: – GV cho HS xem trích đoạn phim Tấm Cám. – GV dẫn dắt vào bài: Là người Việt Nam, chắc hẳn, trong thời ấu thơ của mình, ai cũng đã từng hơn một lần được nghe kể truyện cổ tích Tấm Cám. Như cây đa trăm tuổi trước sân đình, như dòng nước sông quê dịu mát và trong lành, như mái rơm mái rạ hiền hòa và ấm áp, truyện cổ tích Tấm Cám đã song hành cùng bao thế hệ người Việt để an ủi, nâng đỡ, khích lệ mỗi con người trước cuộc sống bấp bênh, nhiều rủi ro, bất công và oan trái. Bài học hôm nay, cô và các em cùng một lần nữa trở về miền cổ tích xưa để gặp lại cô Tấm, để hiểu hơn những đắng cay mà người con gái ấy đã đi qua trên con đường tìm đến hạnh phúc và gìn giữ hạnh phúc.

Hoạt động của giáo viên và học sinhNội dung cần đạt

Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về tác phẩm– Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm và đặc điểm của truyện cổ tích, bố cục của truyện cổ tích Tấm Cám. ­ – Phương tiện dạy học: bảng phụ, bút dạ. – Kĩ thuật dạy học: công não, thông tin – phản hồi. – Hình thức tổ chức dạy học: học sinh làm việc độc lập.– Các bước thực hiện: * Thao tác 1: Tìm hiểu truyện cổ tích Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập GV: Em hiểu thế nào là truyện cổ tích? Có mấy loại truyện cổ tích? Trình bày những đặc điểm của truyện cổ tích thần kì.Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ HS: suy nghĩ, khái quát kiến thức. GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.Bước 3: Báo cáo kết quả HS trả lời câu hỏi, tóm lại những ‎ nét chính về truyện cổ tích và truyện cổ tích thần kì. HS khác: nhận xét, bổ sung.Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ – GV: Nhận xét, chốt lại kiến thức.Bước 5: Chuyển giao nhiệm vụ mới.

* Thao tác 2: Tìm hiểu chung về truyện cổ tích Tấm Cám. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập GV: Truyện cổ tích Tấm Cám thuộc loại truyện cổ tích nào? Em hãy tóm tắt khái quát và nêu bố cục của truyện cổ tích này.Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ HS: suy nghĩ, khái quát kiến thức. GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.Bước 3: Báo cáo kết quả HS trả lời câu hỏi, tóm tắt truyện Tấm Cám và trình bày bố cục.Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ – GV: Nhận xét, chốt lại kiến thức.Bước 5: Chuyển giao nhiệm vụ mới.

Sự việc

Hành động Tấm

Hành động của mẹ con Cám

Đi bắt tép để được thưởng yếm đào

Chăm chỉ bắt tép

Lừa Tấm để lấy giỏ tép

Nuôi cá bống

Chăm chút, bầu bạn cùng cá bống

Lừa Tấm đi chăn trâu đồng x , giết bống.

Đi dự hội

Nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo.

Trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt

Thử giày

Hồn nhiên

Tham vọng, hợm hĩnh.

Nhận xétHiền lành, chăm chỉ, thật thà.Gian ngoan, xảo quyệt, luôn tìm cách triệt tiêu mọi niềm vui, niềm hi vọng của Tấm.

Về kiến thức:

– Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột và sự biến hóa của Tấm trong truyện Tấm Cám.- Nắm được giá trị nghệ thuật của truyện.

Về kĩ năng: Biết cách đọc và hiểu một truyện cổ tích thần kì: nhận biết được một truyện cổ tích thần kì qua đặc trưng thể loại.

Về thái độ, phẩm chất:

– Thái độ: Có tình yêu thương đối với người lao động, có niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện, của chính nghĩa trong cuộc sống. – Phẩm chất: Sống yêu thương, sống tự chủ và sống trách nhiệm…

– Năng lực chung: + Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông – Năng lực riêng: + lực tái hiện và vận dụng kiến thức, + Năng lực đọc – hiểu, giải mã văn bản, + Năng lực sáng tạo, năng lực tạo lập văn bản, + Năng lực vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống…

CHUẨN BỊ:

Phương tiện thực hiện.

Phương pháp thực hiện

C.THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ổn định tổ chức.

Kiểm tra bài cũ: Em hãy trình bày vai trò của sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự. Nêu cách lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu.

Bài mới

Khởi động: – GV cho HS xem trích đoạn phim Tấm Cám. – GV dẫn dắt vào bài: Là người Việt Nam, chắc hẳn, trong thời ấu thơ của mình, ai cũng đã từng hơn một lần được nghe kể truyện cổ tích Tấm Cám. Như cây đa trăm tuổi trước sân đình, như dòng nước sông quê dịu mát và trong lành, như mái rơm mái rạ hiền hòa và ấm áp, truyện cổ tích Tấm Cám đã song hành cùng bao thế hệ người Việt để an ủi, nâng đỡ, khích lệ mỗi con người trước cuộc sống bấp bênh, nhiều rủi ro, bất công và oan trái. Bài học hôm nay, cô và các em cùng một lần nữa trở về miền cổ tích xưa để gặp lại cô Tấm, để hiểu hơn những đắng cay mà người con gái ấy đã đi qua trên con đường tìm đến hạnh phúc và gìn giữ hạnh phúc.

Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Hoạt động của giáo viên và học sinhNội dung cần đạt

III. Tổng kết – Truyện cổ tích Tấm Cám phản ánh những xung đột xã hội sâu sắc, đồng thời, thể hiện khát vọng cháy bỏng của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, hạnh phúc. – Truyện xây dựng những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt, xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập, sử dụng yếu tố thần kì để dẫn dắt cốt truyện.

Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật

Published on

phân tích hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật

1. LỜI CẢM ƠN - – Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô giáo ở Trường Trung cấp Luật Đồng Hới, là những người đã cung cấp cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt 2 năm qua. Xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân xã Kỳ Tây đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện thuận lợi, xin cảm ơn lãnh đạo và các anh chị chuyên viên ở ban Tư pháp xã đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành tốt khoá thực tập. Đặc biệt, xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Phương Thanh, giáo viên hướng dẫn làm đề tài và đồng chí Đặng Thuyết, trưởng ban Tư pháp xã Kỳ Tây đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập. Với kiến thức còn nhiều hạn chế và thời gian thực tập không dài, nên bản thân em trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, vì vậy rất mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô, các anh chị và của tất cả các bạn để hoàn thiện hơn nữa bài báo cáo của mình. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn! Kỳ Tây, ngày 25 tháng 03 năm 2014 Sinh viên thực hiện Nguyễn Lương Tài 1

2. MỤC LỤC Mục đích cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ở mỗi thành viên xã hội ý thức pháp luật bền vững…………………………………………………….9 2

3. LỜI MỞ ĐẦU I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện về kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền với mục tiêu “Dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng, văn minh”. Công cuộc đổi mới đòi hỏi đồng thời phải thực hiện nhiều khâu quan trọng, đặc biệt là xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Những văn bản pháp luật mới ra đời với nhiều điểm tích cực đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Do đó, để pháp luật thực sự đi vào đời sống xã hội, được người dân biết đến và nghiêm chỉnh thực hiện thì vấn đề giáo dục nhận thức pháp luật cho người dân là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của Quốc gia dân tộc trong thời điểm hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thục tiễn trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật đã cho chúng ta thấy để ban hành được một hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội sẽ là một công đoạn không hề đơn giản, khó khăn và phức tạp. Nhưng muốn đưa được một hệ thống pháp luật vào trong cuộc sống xã hội thì sẽ không thể tránh khỏi những khó khăn và vướng mắc. Để thực hiện được mục tiêu này song song với việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, thì một trong những vấn đề quan trọng đó là cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật. Có thể khẳng định rằng, giáo dục pháp luật có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển chung của xã hội, song trên thực tế, vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mực. Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho tình trạng vi phạm pháp luật tệ nạn xã hội có xu hướng ngày càng tăng lên, đây là vấn đề bức xúc trong toàn xã hội đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt của các cấp, nghành từ Trung ương đến địa phương. Vì vậy, nhiệm vụ giáo dục, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) tại địa bàn ở cơ sở có ý nghĩa rất lớn và thiết thực đối với việc tạo sự chuyển biến cơ bản và phát triển toàn diện của hệ thống pháp luật, là cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống. Điều này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu sắc và toàn diện, nghiêm túc về thực trạng của công tác PBGDPL ở cấp xã, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của công tác này trên thực tế. 3

5. B. NỘI DUNG CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG 1. Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật. Phổ biến pháp luật có hai nghĩa: (i) Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần bản pháp luật cho đối tượng của nó; (ii) Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước. Trong các văn bản của ta, nghĩa này được sử dụng nhiều hơn nghĩa hẹp. Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Cả cụm từ phổ biến. giáo dực pháp luật có hai nghĩa: (i) Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. (ii) Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường mà không phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ công chức) phổ biến giáo dục pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật: * Định hướng công tác phổ biến,giáo dục pháp luật; * Lập chương trình, kế hoạch phổ biến,giáo dục pháp luật; * Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; 5

6. * Triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; * Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến giáo dục pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lí luận… về phổ biến giáo dục pháp luật. Trong tài liệu này, cụm từ phổ biến, giáo dục pháp luật được dùng cả hai nghĩa: Trong “Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật” phổ biến, giáo dục pháp luật có nghĩa hẹp. Trong “Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật” phổ biến, giáo dục pháp luật có nghĩa rộng. 2. Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong đời sống xã hội nói chung và trong quản lý nhà nước nói riêng. PBGDPL là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào đời sống. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nước ta trong gia đoạn hiện nay thì công tác PBGDPL có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao dân trí pháp lý và ý thức chấp hành pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn an ninh trật tự, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. 2.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật tác động vào ý thức của đối tượng. Với nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức và tác động trực tiếp đến ý thức của đối tượng. Trước hết, các hoạt động này tạo ra sự quan tâm đối với pháp luật. Từ chỗ không để ý đến sự tồn tại của pháp luật, đối tượng được phổ biến, giáo dục bắt đầu dành sự quan tâm của mình đối với pháp luật, đồng thời sự hiểu biết về pháp luật cũng ngày càng được nâng cao. Pháp luật chính là ph- ương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội và cũng là phương tiện cho mỗi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho đối tượng nhận thức được những giá trị cao đẹp ấy của pháp luật và biết sử dụng phương tiện hữu hiệu đó trong cuộc sống. Một vai trò hết sức quan trọng của phổ biến, giáo dục pháp luật là tạo được niềm tin vào pháp luật. Khi đã có niềm tin, đối tượng sẽ biết tự điều chỉnh hành vi của mình 6

7. theo đúng các quy định của pháp luật. Không những thế, họ còn có ý thức phê phán, lên án những hành vi vi phạm, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. 2.2. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận quan trọng trong giáo dục chính trị tưởng. Bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân vì vậy thực hiện pháp luật là thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Phổ biến, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở người dân những hiểu biết nhất định về chính trị đồng thời trong quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng có sự đan xen những nội dung, quan điểm pháp lý nhất định. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT. 1. Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật. 1.1 Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho đối tượng. Thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật, người phổ biến, giáo dục được trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống. Hình thành tri thức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảm pháp luật. Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị đã hình thành mở rộng và làm sâu sắc tri thức pháp luật, giúp người học am hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá một cách đúng đắn các hành vi pháp lý. Tri thức pháp luật góp phần định hướng cho lòng tin đúng đắn vào các giá trị của pháp luật, tạo cơ sở hình thành hành vi hợp pháp ở mỗi cá nhân. Tri thức pháp luật giúp con người điều khiển, kiềm chế hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý, tri thức pháp luật đã nhận thức được. 7

8. Các hành vi phù hợp với pháp luật chỉ được hình thành trên cơ sở nhận thức đúng, có niềm tin và có tình cảm đúng đắn đối với pháp luật. 1.2 Hình thành, bồi dưỡng, phát triển niềm tin pháp luật cho đối tượng. Niềm tin vào pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi. Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở để hình thành động cơ của hành vi hợp pháp. Trong cuộc sống, có nhiều trường hợp những người có kiến thức pháp luật nhưng không có lòng tin vào pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên pháp luật, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trục lợi. Khi con người tin vào tính công bằng của những đòi hỏi của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sung nào của Nhà nước để thực hiện những đòi hỏi đó. Có lòng tin vào tính công bằng của pháp luật, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cách độc lập, tự nguyện. Niềm tin pháp luật được xây dụng trên cơ sở: + Giáo dục tình cảm công bằng. Nói đến pháp luật là nói đến sự công bằng. Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá các quy phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về tính công bằng của pháp luật để tự đánh giá hành vi của mình, biết quan hệ với người khác và với chính mình bằng các quy phạm pháp luật. + Giáo dục tình cảm trách nhiệm là giáo dục ý thức về nghĩa vụ pháp lý. Giáo dục tình cảm trách nhiệm nhằm hình thành ý thức tuân thủ pháp luật – một nguyên tắc xử sự của công dân trong mối quan hệ với nhau và với các cơ quan Nhà nước. Giáo dục tình cảm trách nhiệm làm cho người được giáo dục nhận thức được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình phải dựa trên cơ sở pháp luật và trong khuôn khổ pháp luật cho phép. + Giáo dục ý thức đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. 1.3. Giáo dục ý thức nhân cách, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật cho đối tượng. Phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ý thức pháp luật trong mỗi công dân. Kết quả cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật phải được thể hiện ở hành vi xử sự phù hợp pháp luật của các công dân. Giáo dục tri thức pháp luật, bồi dưỡng niềm tin 8

9. pháp luật là tiền đề để giáo dục ý thức nhân cách rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật. Những hành vi hợp pháp của mỗi người thường biểu hiện qua các việc làm như : + Tuân thủ các quy phạm pháp luật. Kiềm chế không thực hiện các điều pháp luật cấm. + Thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân. + Biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật; biết vận dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm phạm. Mục đích cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ở mỗi thành viên xã hội ý thức pháp luật bền vững. 2. Nguyên tắc phổ biến giáo dục pháp luật(PBGDPL) Nguyên tắc PBGDPL là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi thực hiện công tác PBGDPL phải tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm túc. Luật PBGDPL đã quy định 5 nguyên tắc (tại Điều 5) đó là: – Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực; – Kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm; – Đa dạng các hình thức PBGDPL, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được PBGDPL và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; – Gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân; – Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội. 3. Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật. 3.1. Yêu cầu chung đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật. 3.1.1. Đề cao tính Đảng trong PBGDPL. Pháp luật và đường lối, chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật là sự thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng. Do đó, công tác PBGDPL bao giờ cũng phải đề cao tính Đảng. 9

10. Muốn đề cao tính Đảng trong công tác PBGDPL thì phải hiểu biết, quán triệt đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng đối với từng thời kỳ, từng vấn đề. Đường lối, chính sách của Đảng cũng như pháp luật là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế, do đó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và có quá trình vận động như các hiện tượng khác. Chính vì thế, PBGDPL và tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng phải luôn bắt nhịp được với những thay đổi trong đời sống chính trị – pháp luật của đất nước. 3.1.2. Bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản. PBGDPL khác với các loại hình PBGDPL ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó. Do đó, PBGDPL phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản. 3.1.3. Bảo đảm tính đại chúng: phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng. PBGDPL không những phải xuất phát từ nhu cầu của đối tượng được phổ biến (họ đang thiếu và cần cái gì) mà còn phải phù hợp với trình độ văn hoá, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc… của đối tượng được phổ biến; đồng thời khi thực hiện PBGDPL cần sử dụng ngôn ngữ đại chúng, hành văn (hoặc truyền đạt) giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu. 3.1.4. Chọn được hình thức phù hợp. Có nhiều hình thức PBGDPL khác nhau, mỗi hình thức có sự phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định. Do đó, khi PBGDPL phải xuất phát từ đối tượng được PBGDPL để chọn hình thức tối ưu. Ngoài ra, hình thức PBGDPL còn phải phù hợp với địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí ở nơi tiến hành PBGDPL. Nhìn chung, khi PBGDPL cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc kết hợp đan xen giữa hình thức này với hình thức khác để đạt hiệu quả tốt nhất. 3.2. Yêu cầu đối với người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. 3.2.1 Có kiến thức pháp lý nhất định. Để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, người cán bộ cần phải: 10

12. Phổ biến, giáo dục pháp luật là truyền đạt thông tin pháp luật và giải thích pháp luật cho người khác, chính vì thế ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của người làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật. Sự kết hợp giữa khả năng nói và viết trong người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác. 3.2.4. Có khả năng hòa đồng và giao tiếp. Làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là làm công tác vận động quần chúng, nó không thuần tuý là đi thông tin và giải thích pháp luật cho các đối tượng được tuyên truyền. Trước khi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải biết đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật là ai, họ cần gì, công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh vực pháp luật nào và mình phải quan hệ công tác với họ như thế nào? Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất hai chiều, không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có mà sự phản hồi của đối tượng được tuyên truyền. Họ có lắng nghe thông tin về pháp luật không? Đồng thời, họ có thể đặt câu hỏi hay thể hiện chính kiến về việc giải thích pháp luật đúng hay không đúng của người đi giải thích không? Sự cọ sát hai chiều về cùng vấn đề được trao đổi sẽ làm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt chất lượng và hiệu qua cao . Chính các yếu tố được nêu và phân tích trên đòi hỏi người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải có khả năng hoà đồng và giao tiếp. 3.2.5. Biết tích luỹ tư liệu, kiến thức. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật vừa mang tính thời sự vừa mang tính lâu dài. Chỉ có thể tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật. Để đạt được các điều kiện đó thì người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải tích luỹ tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện hành, đường lối chính sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và nước ngoài. 3.2.6. Có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền. 12

13. Hiểu được tâm lý học tuyên truyền chính là hiểu được các quy luật tâm lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật của các loại đối tượng được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các đối tượng. Trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật còn phải nắm bắt sự phản ứng, sự tiếp nhận của họ như thế nào về nội dung được tuyên truyền. Sau khi tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho một loại đối tượng, chủ thể tuyên truyền còn phải biết nghe dư luận xã hội và sự phản ứng tích cực, tiêu cực của các đối tượng được tuyên truyền về nội dung được phổ biến. Tất cả những động thái như vậy, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đều cần phải nắm bắt để dự liệu, để chuẩn bị hành trang cho mình. Sự chuẩn bị về kiến thức cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là cần thiết, đồng thời người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn phải hiểu biết trạng thái tâm lý khác nhau của các đối tượng được tuyên truyền, đó chính là tâm lý học tuyên truyền mà người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải có. 3.2.7. Tuỳ từng vị trí công tác, địa bàn hoạt động, cần phải có những hiểu biết về xã hội, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền nhất định. Pháp luật luôn gắn với đời sống xã hội, nó quan hệ mật thiết tới các hiện tượng khác của xã hội như đạo đức, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Pháp luật thực chất là các quy tắc xử sự trong các quan hệ xã hội được Nhà nước thừa nhận, do đó nó có mối liên hệ với các phong tục, tập quán khác. Chính vì thế khi làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở từng vùng miền, ở mỗi dân tộc của đất nước, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần phải biết được phong tục tập quán của dân tộc đó và miền vùng đó, để so sánh, để giải thích, để phân biệt. Những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng sẽ được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật để mọi người tôn trọng thực hiện, mặt khác nhiều quy định của luật pháp khi ban hành đã bao hàm những phong tục, tập quán tốt đẹp. Ngược lại, những phong tục, tập quán còn lạc hậu, bảo thủ thì khi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần phải lưu ý kết hợp giải thích có ngọn ngành cho nhân dân để họ vừa tôn trọng pháp luật, vừa hiểu biết thêm về mối quan hệ giữa pháp luật và phong tục, tập quán, từ đó hạn chế, bài trừ, xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu. 13

15. đáp pháp luật, sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật); sách hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật…; – Tờ gấp về pháp luật; – Bản tin pháp luật; – Pa nô, áp phích tuyên truyền pháp luật; – Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật; – Tài liệu pháp luật khác. Trong phạm vi hoạt động PBGDPL ở cấp xã, phần này chỉ đề cập đến kỹ năng biên soạn Đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật và tài liệu hỏi đáp pháp luật (không phải là sách in). Đặc trưng chính là dùng các ấn phẩm để truyền bá nội dung cần phổ biến. 4.4 Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Giáo dục pháp luật là sự tác động có định hướng có tổ chức nhằm hình thành tri thức, tình cảm và hành vi phù hợp với quy định của pháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ, thi hành pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của công dân. Đó là một trong các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua việc dạy và học pháp luật trong các nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần hình thành và bồi dưỡng ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng chính là truyền đạt nội dung pháp luật thông qua các phương pháp sư phạm. 4.5. Tổ chức các hình thức thi tìm hiểu pháp luật. Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả. Đây là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao và được sử dụng nhiều. Những nội dung pháp luật được chuyển tải đến các đối tượng thông qua cuộc thi một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động hơn, tránh được sự cứng nhắc, khô cứng. Bên 15

16. cạnh đó, kiến thức pháp luật, kỹ năng tuyên truyền pháp luật của người tổ chức cũng được trau dồi, gọt dũa. Kết quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hình thức thi tìm hiểu pháp luật tác động trực tiếp đến ý thức pháp luật của người dự thi, qua đó là nơi giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, kiến thức pháp luật và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật của cả người tổ chức cuộc thi và người theo dõi, tìm hiểu cuộc thi. Đặc trưng chính là vận động khuyến khích đối tượng tìm hiểu pháp luật thông qua thi thố tài năng. 4.6. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật. Câu lạc bộ pháp luật là tổ chức được thành lập và hoạt động trên tinh thần tự nguyện tham gia của những người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, nhiệt tình tuyên truyền, PBGDPL. Thông qua các hoạt động sinh hoạt của Câu lạc bộ nhằm góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, gây dựng lòng tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của các hội viên cũng như của nhân dân tại địa bàn. Câu lạc bộ pháp luật được xác định là một hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật có hiệu quả, phù hợp với mọi đối tượng và địa bàn dân cư khác nhau. Thực tiễn những năm qua cho thấy, mặc dù số lượng Câu lạc bộ pháp luật được thành lập chưa nhiều, nhưng tác dụng, hiệu quả, sức lan toả tích cực của mô hình này là không nhỏ trong đời sống của cộng đồng dân cư. Điều này được khẳng định trước hết vì Câu lạc bộ là nơi quy tụ, tập hợp đông đảo thành viên tham gia nhằm giao lưu, học hỏi, tạo một diễn đàn, sân chơi bổ ích và lành mạnh để cùng trao đổi, nắm bắt kiến thức pháp luật và vận dụng pháp luật. Thông qua hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và kịp thời. Từ đó, giúp hội viên và nhân dân trên địa bàn nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật, đưa pháp luật dần trở thành thói quen trong ứng xử hàng ngày của nhân dân. Câu lạc bộ còn tạo điều kiện để mỗi hội viên trở thành một tuyên truyền viên pháp luật tích cực vận động người thân trong gia đình, địa bàn mình cư trú chấp hành pháp luật. 16

17. Đặc trưng chính là: Đối tượng của phổ biến giáo dục pháp luật đồng thời cũng chính là chủ thể của phổ biến giáo dục pháp luật, ở đó mỗi thành viên phát huy tính nhận thức tích cực của mình trao đổi, tranh luận… để mở rộng kiến thức pháp luật của mình. Ví dụ: tham gia Câu lạc bộ “tiền hôn nhân” là thanh niên chưa lập gia đình. Vì vậy, việc giới thiệu Luật Hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh Dân số; Luật Thanh niên… là rất cần thiết, phù hợp và có hiệu quả. Trái lại, với đối tượng này mà chúng ta đưa nội dung Luật Hàng không dân dụng sẽ không có hiệu quả. 4.7. Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật. Tủ sách pháp luật là công cụ hữu hiệu để đưa pháp luật vào hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, đặc biệt là quá trình điều hành của bộ máy chính quyền cơ sở, và vào đời sống của các cộng đồng dân cư, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, đọc các sách, tài liệu pháp luật của tủ sách, người đọc tập hợp nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật vào thực tế một cách đầy đủ, có hệ thống, chính xác và thống nhất. Tuy nhiên, việc tìm hiểu pháp luật qua khai thác, sử dụng tủ sách pháp luật cũng có những hạn chế nhất định, chịu sự tác động của nhiều yếu tố về cơ chế quản lý, thái độ phục vụ, sự đầu tư nâng cao hiệu quả khai thác tủ sách pháp luật, mức độ đáp ứng yêu cầu của đối tượng… Đặc trưng chính là trực tiếp cung cấp tài liệu, thông tin pháp luật cho đối tượng. 4.8. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý. Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp công dân, tổ chức trong nước và nước ngoài thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Thông qua tư vấn pháp luật, luật sư góp phần tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật nhằm nâng cao văn hoá pháp lý cho công dân trong cộng đồng xã hội. Hoạt động tư vấn pháp luật là cầu nối quan trọng giữa người xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật và những người là đối tượng của việc áp dụng pháp luật. 17

18. Trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa) nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý sẽ giúp các đối tượng nắm bắt được các thông tin pháp lý, hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật, hướng dẫn phương pháp xử sự các hoàn cảnh cụ thể phù hợp với pháp luật và tránh được những hậu quả pháp lý bất lợi, hướng dẫn công dân, tổ chức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đặc trưng chính là thông qua việc cung cấp dịch vụ pháp lý, giải đáp pháp luật, hướng dẫn thân chủ ứng xử đúng pháp luật để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ mà nâng cao hiểu biết pháp luật cho họ. 4.9. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là việc các tổ viên hoà giải bằng hoạt động hoà giải của mình cung cấp các kiến thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật. Để phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải có hiệu quả, đòi hỏi phải có phương pháp thực hiện hợp lý và có những giải pháp phù hợp, kịp thời để việc hoà giải đạt được mục đích đồng thời qua việc hoà giải, các bên hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đặc trưng chính là thông qua việc giới thiệu văn bản phân tích, hướng dẫn để các bên tranh chấp hiểu văn bản, tự đối chiếu với hành vi của mình và hành vi của phía bên kia để thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên, giúp các bên nhận thức pháp luật sâu sắc hơn. 4.10. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hoá, văn nghệ đặc biệt là các loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống. 18

20. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở XÃ KỲ TÂY, HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH. MỘT SỐ GIẢI PHÁP. I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT (PBGDPL), TẠI XÃ KỲ TÂY. 1. Thực trạng tình hình nhận thức pháp luật của cán bộ công chức và nhân dân ở xã Kỳ Tây hiện nay. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, bộ máy quản lý hành chính Nhà nước đã bộc lộ nhều nhược điểm, cơ cấu và tổ chức bộ máy Nhà nước chưa xác định đúng và còn phân biệt rõ sự lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý Nhà nước, chưa có sự phân công rành mạch giữa ba quyền năng đó là: Quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp còn trùng lặp, chồng chéo, việc phân công phối hợp và thống nhất thiếu chặt chẽ. Hệ thống tổ chức đối với cán bộ công chức và pháp luật hành chính còn phản ánh một nền kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp với cơ chế tập trung bao cấp mang nặng tính dân chủ hình thức nên dẫn đến việc thiếu sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tình hình trên có rất nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là phải kể đến tính đặc thù tại địa bàn xã Kỳ Tây là xã miền núi 135 địa hình phức tạp, dân cư phân bố rải rác không tập trung, nên đầu mối giao thông đi lại phức tạp gặp không ít khó khăn. Suy cho cùng thì đây là một yếu tố khách quan, tính đặc thù thứ hai có thể kể đến đó là bên cạnh pháp luật Nhà nước thì ở nơi đây người dân đađang tồn tại một số phong tục, tục lệ còn lạc hậu. Tình hình vi phạp pháp luật do không được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nên không nhận thức được pháp luật của người dân nơi đây. Thực tiễn và lý luận công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong những năm qua cho thấy Đảng và chính quyền địa phương đã triến khai cụ thể những văn bản của Trung ương về công tác này ở địa phương và đã quan tâm ban hành nhiều văn bản, quyết sách về phát triễn kinh tế xã hội ở xã Kỳ Tây ( trong đó có việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật trong cán bộ công chức và nhân dân trên địa bàn xã Kỳ Tây nói riêng và tren địa bàn huyện Kỳ Anh nói chung ). Nhưng tình hình nhận thức pháp luật của người dân nơi đây còn hạn chế dẫn đến việc vi phạm pháp luật như luật giao thông đường bộ, tội phạm như trộm cắp… là vấn đề đang 20

21. được quan tâm trong tình trạng hiện nay, các tệ nạn xã hội như tảo hôn, mê tín dị đoan, cờ bạc, chặt phá rừng bừa bãi khai thác đất đai còn chưa hợp lý… và các vi phạm pháp luật khác vẫn còn tồn tại. Tóm lại, có thể khái quát thực trạng vi phạm pháp luật do không được phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua là: tình hình vi phạm pháp luật ở xã Kỳ Tây phổ biến và ngày càng diễn biến phúc tạp, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có được triễn khai nhưng chưa đồng bộ và đều khắp, nội dung hình thức pháp luật, phổ biến pháp luật còn nghèo nàn, thiếu tính hệ thống , chưa phù hợp đối với người dân nơi đây. 2. Kết quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) tại xã Kỳ Tây. Có thể khẳng định rằng việc người dân tham gia tích cực và hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật là cơ sở quan trọng để xây dựng một xã hội dân chủ công bằng và văn minh. Để làm được điều đó đòi hỏi người dân phải có trình độ và hiểu biết pháp luật. Vì thế Công tác phổ biến giáo dục pháp luật góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy những quan niệm của tính tích cực, bảo đảm hành trang kiến thức pháp lý cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, là điều kiện cơ bản để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn xã Kỳ Tây đã đạt được những kết quả cụ thể như sau: Năm 2011: Ban Tư pháp xã Kỳ Tây đã tham mưu xây dựng được kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), đồng thời phối hợp với các ban nghành đoàn thể tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trên địa bàn xã. Vì vậy trong năm 2011 đã đạt được : 15 buổi nói chuyện về pháp luật cho toàn thể cán bộ, Đảng viên và toàn thể nhân dân trong toàn xã với số lượng người nghe là 2545 người nghe. Chủ yếu phổ biến các luật như: Luật an toàn giao thông đường bộ; Luật đất đai; Luật bảo vệ và phát triễn rừng; Luật hôn nhân và gia đình; Luật cư trú; Luật phòng chống tham nhũng; 21

22. Các nghị định như: Nghị định só 105/ND-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Đất đai; Nghị định số 99/ND-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Các pháp lệnh như: Pháp lệnh về trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt luôn chú trọng vào việc tuyên truyền Luật bầu cử. Thường xuyên phối kết hợp với ban văn hóa xã tuyên truyền qua phát thanh của xã hàng ngày, hàng tuần về những thông tư, nghị định, quy định của xã và của cấp trên cho nhân dân kịp thời. Thời lượng phát sóng tối thiểu một làn từ 15 đến 30 phút. Cùng với nhiệm vụ trên công tác xây dựng và quản lý khai thác tủ sách pháp luật cũng được quan tâm đúng mức số đầu sách đến cuối năm 2011 là 190 cuốn (chưa kể đến tủ sách pháp luật ở bưu điện văn hóa xã) nhìn chung đã khai thác tốt và có hiệu quả. Năm 2012: Đã đạt được 18 buổi tuyên truyền PBGDPL cho toàn thể cán bộ, nhân dân trên địa bàn với số lượng người nghe là 2675 người nghe. Chủ yếu phổ biến các Luật như: Luật hôn nhân và gia đình; Luật an toàn giao thông đường bộ; Luật phòng chống tham nhũng; Luật đất đai; Luật bảo vệ và phát triễn rừng; Luật cư trú; … Và một số văn bản Quy phạm khác. Năm 2013: đã đạt được 23 buổi tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật với số lượng người nghe lên tới 2800 người nghe. In được 1764 cuốn tài liệu trực tiếp phát đến từng hộ gia đình trên địa bàn xã( tài liệu về luật sửa đổi Hiến Pháp 1992). Đặc biệt là tổ chứ tập huấn cho toàn thể cán bộ, công chức trên địa bàn xã về kỹ năng soạn thảo văn bản. Tổ chức tập huấn và phổ biến cho các tổ viên tổ hòa giải về luật hòa giải ở cơ sở. Phổ biến, chủ yếu các luật như: Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2013; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật bảo vệ môi trường; Luật cán bộ công chức; Luật bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội; Luật đất đai…;… 3. Ưu điểm Qua quá trình thực tập và tìm hiểu trên thực tế, hiện nay công tác PBGDPL tại UBND xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã có nhiều chuyển biến tích cực và thu được nhiều kết quả đáng kể, từng bước đáp ứng được yêu cầu của việc tăng cường quản 22

25. cấp, các ngành nhiều lúc còn mang tính hình thức, nặng nề về phong trào chưa đi vào thực chất, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và tiến độ nhất là ở cơ sở, dẫn đến đạt hiệu quả chưa cao. Hình thức triễn khai còn nghèo nàn chủ yếu là tuyên truyền miệng. Ở đơn vị, địa phương còn thụ động, trông chờ, ỷ lại vào hướng dẫn của cấp trên, vào nghành Tư pháp, chưa làm tốt vai trò tham mưu đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp và lãnh đạo của cơ quan để chỉ đạo và tổ chức triễn khai công tác tuyên truyền. Việc cấp kinh phí cho công tác tuyên truyền vẫn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến việc mở các hội nghị tuyên truyền đều phải xin kinh phí bổ sung, bị động trong việc triển khai. Đội ngũ cán bộ chuyên trách, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên,tuy đã được cũng cố kiện toàn đông đảo về số lượng nhưng chưa tương xứng với nhu cấu thực tiễn đặt ra. Đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở chưa đồng đều, một số còn hạn chế về trình độ. Bên cạnh đó nhận thức của đối tượng được tuyên truyền còn nhiều hạn chế, vì tại địa bàn nơi đây là xã miền núi, khó khăn nên địa hính phân bố dân cư còn lẻ tẻ không tập trung không đồng đều và phức tạp với lại trình độ nhận thức của người dân còn thấp vì thế việc truyện đạt, phổ biến đi lại cho việc tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn. Vì thế việc đưa lại hiệu qua cho việc tuyên truyền phổ biến đạt hiệu quả chưa cao. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT( PBGDPL) Để thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), kịp thời giải quyết các yêu cầu cấp bách đang đặt ra đối với công tác này tại địa bàn xã Kỳ Tây trước sự chuyển biến phức tạp về ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong xã, để góp phần giữ gìn ổn định chính trị an toàn xã hội ở địa phương, em xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau với mong muốn góp phần nâng cao hơn nữa vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), cụ thể như sau: 25

27. 6. Tăng cường với đài phát thanh, truyền hình báo chí. Thường xuyên xây dựng các chuyên đề, chuyên mục về tìm hiểu pháp luật, hỏi đáp pháp luật, tạp san chuyên nghành trong phổ biến, giáo dục pháp luật. 7. Hoàn thiện hơn nữa Tủ sách pháp luật ở xã, phường thị trấn. thường xuyên nâng cao đầu sách với nội dung cập nhật và phù hợp với tình hình cụ thể của từng đơn vị, từng địa phương. Đảm bảo cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả. 8. Cần đầu tư biên soạn phát hành tài liệu pháp luật, tập huấn phổ biến trực tiếp các nội dung theo chuyên đề. 9. Cần phối hợp với trường học trên địa bàn, nhất là đối tượng học sinh để đưa chương trình pháp luật vào giảng dạy ở nhà trường, hoặc cụ thể trong các buổi ngoại khóa, giao lưu văn hóa biểu diễn văn nghệ. 27

28. C. KẾT LUẬN Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho cán bộ và nhân dân là nhiệm vụ rất khó khăn. Đặc biệt, việc PBGDPL cho cán bộ, nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới lại càng khó khăn hơn, đòi hỏi người làm công tác tuyên truyền vừa phải nhiệt tình, tận tụy với công việc, vừa phải luôn sáng tạo, đổi mới phương pháp và cách thức tuyên truyền phù hợp để pháp luật thực sự đi vào thực tế cuộc sống của người dân trên địa bàn. Một lần nữa có thể khẳng định rằng, công việc phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ là trách nhiệm của cơ quan Tư pháp nói chung hay sở, ban, nghành Tư pháp nói riêng mà còn là trách nhiệm của mọi người dân để nhằm nâng cao hơn nữa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, xây dựng xã hội sống và làm theo Hiến pháp và pháp luật đó là mục tiêu không chỉ của riêng Đảng, Nhà nước và của các cấp chính quyền mà còn là nguyện vọng chính đáng và là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người dân trong xã hội, vì mục đích xây dựng một xã hội trật tự, an toàn và thực sự là của dân, do dân và vì dân. Ba tháng thực tập là khoảng thời gian không dài đối với một đời người nhưng với bản thân tôi, trong khoảng thời gian 3 tháng thực tập tại UBND xã Kỳ Tây vừa qua, tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích, hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức bộ máy của một cơ quan nhà nước, hiểu rõ về quy chế làm việc, về mối quan hệ giữa UBND xã Kỳ Tây với các cơ quan nhà nước khác, nắm rõ được công việc cụ thể mà một công chức phải làm; Quan trọng hơn nữa là tôi đã vận dụng được kiến thức đã học ở trường vào trong công việc thực tế, điều này sẽ giúp tôi rất nhiều trong tương lai khi trở thành một cán bộ nhà nước. Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế, quỹ thời gian đi thực tập thực tế không dài nên bản thân tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để nhận thức và bài tiểu luận của tôi được hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn ! Sinh viên thực hiện. Nguyễn Lương Tài 28

29. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012; 2. Nghị định số 28/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật phổ biến, giáo dục pháp luật; 3. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 29 tháng 12 năm 2003 của ban bí thư về tăng cường sự lảnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; 4. Nghị quyết 61/2007/NQ-CP Về việc tuyên truyền thực hiện chỉ thị số32 CT/TW ngày 29 tháng 12 năm 2003 của ban bí thư. Về tăng cường sự lảnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; 5. Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 về việc xây dựng, quản lý, khai thác, tủ sách pháp luật; 6. Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010. Hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật../. 29

Cách Chơi Bài Tiến Lên Cho Người Mới Bắt Đầu

Cách chơi bài tiến lên khá đơn giản khi chỉ cần người chơi nắm vững quy luật đánh bài tiến lên. Hiện nay, thể loại bài tiến lên có 2 kiểu đánh đang được người chơi yêu thích đó là: Đánh bài tiến lên miền bắc và đánh bài tiến lên miền nam. Để dễ dàng giải trí với game bài tiến này, người mới nên học cách chơi bài tiến lên qua bài viết sau đây.

Cách chơi bài tiến lên kiểu miền bắc cho người mới bắt đầu

Bài tiến lên là một thể loại bài sử dụng bộ bài Tây 52 lá để chơi. Cách chơi bài tiến lên được chia thành 2 loại: Tiến lên miền bắc và Tiến lên miền nam. Sở dĩ có 2 tên gọi như vậy do bài được ưa chuộng ở hai vùng miền khác nhau của Việt Nam.

Quy luật kết hợp bài của tiến lên miền bắc:

Cách chơi bài tiến lên theo kiểu miền bắc là người chơi bắt buộc phải đánh theo quy tắc đồng màu, đồng chất và đánh ngược chiều kim đồng hồ. Bài chơi từ 2-4 người, mỗi người cầm 13 quân bài trên tay. Người chơi nên kết hợp bài thành:

Đôi: 2 quân bài cùng giá trị, đồng màu

3 lá: 3 quân bài cùng giá trị

Sảnh: 3 quân bài trở lên tăng tiến về giá trị nhưng phải đồng màu, đồng chất.

Tứ quý: 4 quân bài giống nhau.

3 đôi thông: 3 đôi bài tăng tiến về giá trị nhưng phải đồng màu, đồng chất.

4 đôi thông: 4 đôi bài tăng tiến về giá trị nhưng phải đồng màu, đồng chất.

Sảnh rồng: 12 quân bài tăng tiến về giá trị nhưng phải đồng màu, đồng chất.

Rác: Những quân bài lẻ.

Cách chơi tiến lên miền bắc:

Ở ván đánh đầu tiên, cách chơi bài tiến lên kiểu miền bắc là người được ưu tiến đánh trước là người có 3 bích. Ván tiếp theo người nào về nhất thì được đánh trước. Người đánh tiếp theo phải có quân bài lớn hơn, cùng số lượng, bắt buộc phải đồng chất, đồng màu. Trong bài tiến lên miền bắc, thứ tự lớn bé của các quân bài được phân định như sau: 3<4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A<2. Trong khi đó chất của quân bài như sau: bích, chuồng, rô, cơ. Màu của quân bài gồm 2 màu: đỏ và đen.

Trong bài tiến lên miền bắc, về đầu tiên là người về nhất, thứ tự tiếp theo là về nhì, về ba và bét.

Quy luật chặt hàng:

Cách đánh bài tiến lên theo kiểu miền bắc, người chơi nên nhớ những quy luật chặt hàng như sau: Quân bài heo được chặt cây heo nhỏ hơn hoặc bất cứ cây lẻ nào. Tứ quý chặt được quân bài heo hoặc tứ quý nhỏ hơn. Thêm vào đó, người chơi không được đánh heo về sau cùng.

Cách chơi bài tiến lên kiểu miền nam cho người mới bắt đầu

Khác với kiểu bài tiến lên miền bắc, cách chơi bài tiến lên kiểu miền nam có lối đánh phóng khoáng, sát phạt cao và dễ ăn tiền hơn. Theo đó, với kiểu bài này, mỗi người chơi cũng có 13 quân bài, 3 bích ưu tiên đánh ở ván đầu tiên và đánh theo ngược chiều kim đồng hồ.

Quy luật kết hợp bài trong tiến lên miền nam như sau:

Bài tiến lên miền nam có quy luật cách hợp bài phóng khoáng hơn. Theo đó, người chơi chỉ cần kết hợp như sau:

Rác: Những quân bài lẻ

Đôi: Những cặp bài giống nhau về số

3 lá: 3 lá bài giống nhau về số

Tứ quý: 4 lá bài giống nhau

Sảnh: 3 lá bài tăng tiến về mặt giá trị

3 đôi thông: 3 đôi bài tăng tiến về mặt giá trị

4 đôi thông: 4 đôi bài tăng tiến về mặt giá trị

5 đôi thông: 5 đôi bài tăng tiến về mặt giá trị

6 đôi thông: 6 đôi bài tăng tiến về mặt giá trị

Sảnh rồng: Sảnh tăng tiến về mặt giá trị <4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A<2.

Cách đánh bài tiến lên miền nam:

Cách chơi tiến lên theo kiểu miền nam đầu tiên người đánh trước là người có 3 bích. Những ván sau người nào về nhất thì đánh trước. Những người sau đánh theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ.

Người đánh bài tiếp theo phải có những quân bài có giá trị cao hơn hoặc chất cao hơn người đánh trước. Người nào không có bài thì bỏ qua.

Người đánh về nhất là người phải hết bài trong tay. Những người còn lại đánh tiếp tục cho đến khi phân định được người về nhì, ba và bét.

Quy luật chặt hàng:

Trong bài tiến lên miền nam, cây heo cơ lớn nhất, chặt được tất cả 3 cây heo có chất nhỏ hơn; ba đôi thông chặt được con heo hoặc ba đôi thông nhỏ hơn; tứ quý chặt được đôi heo, con heo, ba đôi thông, tứ quý nhỏ hơn; năm đôi thông chặt được tứ quý, đôi heo, con heo, ba đôi thông, năm đôi thông nhỏ hơn.

Trong tiến lên miền nam 6 đôi thông và sảnh rồng từ 2-A là ăn trắng.

Người về nhất về con 3 bích cuối cùng là Đút Mù, ăn hết tiền của tất cả người còn lại và ván bài kết thúc ngay sau đó.

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Theo Phương Pháp Mới trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!