Xem Nhiều 12/2022 #️ Hđnd Xã Phước Thành Ban Hành Nghị Quyết Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn / 2023 # Top 20 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Hđnd Xã Phước Thành Ban Hành Nghị Quyết Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hđnd Xã Phước Thành Ban Hành Nghị Quyết Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thường trực HĐND huyện Phước Sơn vừa tổ chức hội nghị giao ban với Thường trực HĐND 12 xã, thị trấn để sơ kết, đánh giá tình hình hoạt động của HĐND các xã, thị trấn từ đầu nhiệm kỳ đến nay.

Hoạt động của HĐND từ đầu nhiệm kỳ đến nay có nhiều chuyển biến tích cực. HĐND các xã, thị trấn đã tổ chức thành công 3 kỳ họp thường lệ của HĐND, nhiều xã duy trì thường xuyên phiên họp thường kỳ hằng tháng của Thường trực HĐND như thị trấn Khâm Đức, xã Phước Thành. Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND và các Ban HĐND từng bước đảm bảo theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015. Đặc biệt, HĐND xã Phước Thành là xã duy nhất trên địa bàn huyện đã ban hành nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3 và cũng là xã duy nhất đã tổ chức tập huấn cho đại biểu HĐND xã.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Phạm Thế Quyền – Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện đã yêu cầu Thường trực HĐND các xã, thị trấn cần có giải pháp khắc phục các hạn chế để nâng cao chất lượng hoạt động HĐND trong thời gian tới. Trước mắt, tập trung thực hiện tốt các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ngọc Quang, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh tại hội nghị giao ban ngày 24/02/2017 theo Thông báo số 12/TB-HĐND ngày 06/3/2017 của HĐND tỉnh; trong đó, chú trọng việc kiện toàn bộ máy, tổ chức duy trì phiên họp thường kỳ hằng tháng của Thường trực HĐND, xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chương trình công tác năm, chương trình giám sát của Thường trực HĐND và của các Ban HĐND, ban hành lịch tiếp công dân của Thường trực HĐND, quy chế phối hợp giữa HĐND với UBMTTQVN, thực hiện chế độ cho đại biểu HĐND theo Nghị quyết 102/2013/NQ-HĐND, nghị quyết 34/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh,…

Tác giả: Văn phòng HĐND – UBND huyện Phước Sơn

Các tin mới: Các tin khác:

Nghị Quyết 30/2012/Qh13 Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3, Quốc Hội Khóa Xiii / 2023

VỀ CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TẠI KỲ HỌP THỨ 3, QUỐC HỘI KHÓA XIII

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Căn cứ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11; Nghị quyết số 07/2002/QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội; Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII; QUYẾT NGHỊ:

I. Quốc hội nhận thấy nội dung chất vấn và trả lời chất vấn đã tập trung vào những vấn đề quan trọng được cử tri cả nước và đại biểu Quốc hội quan tâm; không khí phiên chất vấn là thẳng thắn, trách nhiệm, có tính tranh luận, đối thoại với tinh thần xây dựng cao. Các đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, tập trung vào những vấn đề bức xúc được cử tri cả nước quan tâm. Phó Thủ tướng

Trên cơ sở báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 3, báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 2, kết quả chất vấn và trả lời chất vấn và ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp này, Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức hữu quan, các ngành, các cấp ở trung ương và địa phương trong quá trình triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội tập trung giải quyết các kiến nghị của cử tri cả nước và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 4.

II. Quốc hội ghi nhận một số giải pháp mà Phó Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đã cam kết trước Quốc hội, bao gồm:

1. Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường:

– Tập trung giải quyết những bất cập, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai, trước hết là việc giao quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, thu hồi đất; chính sách giá trong đền bù giải phóng mặt bằng; quy hoạch các khu công nghiệp, khu đô thị; tình trạng sử dụng đất lãng phí; bảo đảm đến 31/12/2013 căn bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trong phạm vi cả nước. Tập trung xây dựng, trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật đất đai (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII;

– Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường phối hợp với Tổng Thanh tra Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp từ nay đến 31/12/2012 tập trung giải quyết những vụ việc khiếu kiện về đất đai trọng điểm, phức tạp, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm và công bố công khai kết quả giải quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng; trước hết là các vụ việc về đền bù, giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp, khu đô thị, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi;

– Có chương trình, kế hoạch, biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu công nghiệp, lưu vực sông…, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

2. Trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư:

– Huy động nguồn lực của cả nước, toàn dân, toàn quân, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, phấn đấu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012, hoàn thành mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội;

– Từng bước hoàn thiện và tổ chức thực hiện có kết quả Đề án tái cơ cấu đầu tư công; đẩy nhanh việc giải ngân gắn với quản lý chặt chẽ các nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA; xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp; xử lý đồng bộ các vấn đề về cơ chế chính sách, phân cấp quản lý, huy động nguồn lực, bảo đảm tăng cường chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và giải quyết các bất cập, yếu kém trong đầu tư công;

Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, bảo đảm tăng tổng mức đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác;

– Hoàn thiện thể chế và cơ chế pháp lý về quản lý các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, tập trung vào các vấn đề về đại diện chủ sở hữu; phân cấp và làm rõ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan quản lý tổng hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước; việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước để đầu tư của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước; cơ chế giám sát tài chính đối với Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước (bao gồm cả giám sát từ bên ngoài và giám sát nội bộ); đặc biệt quan trọng là Quy định về nhiệm vụ, tổ chức, cán bộ của từng Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước;

Tăng cường giám sát, kiểm tra, cơ cấu lại, xử lý các tồn tại ở các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước; xác định lộ trình thoái vốn đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước; bảo đảm để các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước phát triển bền vững, góp phần quan trọng vào việc điều tiết thị trường, phát triển sản xuất – kinh doanh và hoạt động đạt hiệu quả kinh tế cao;

– Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về môi trường kinh doanh, bảo đảm công bằng, hợp lý, có ưu tiên cho vùng, miền, ngành, lĩnh vực cụ thể theo định hướng chính sách phát triển kinh tế của

Đảng và Nhà nước từng thời kỳ. Đẩy nhanh cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước;

3. Trong lĩnh vực công thương:

– Thực hiện các giải pháp đồng bộ thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thận trọng, linh hoạt; từng bước hạ lãi suất tín dụng, tăng tín dụng ở mức hợp lý; cơ cấu lại nợ và tập trung giải quyết nợ xấu; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, xử lý hàng tồn kho, kích thích tổng cầu của nền kinh tế;

– Có lộ trình thực hiện thị trường cạnh tranh, chống độc quyền, nhất là đối với các sản phẩm điện, xăng, dầu, than, vật tư cho sản xuất nông nghiệp, bảo đảm phát triển bền vững;

– Khẩn trương rà soát quy hoạch ngành điện và quy hoạch phát triển thủy điện; loại bỏ hoặc dừng các dự án không đạt các tiêu chí xã hội, môi trường, an toàn, chất lượng, hiệu quả. Tiếp tục kiểm tra, xử lý bảo đảm an toàn các công trình thủy điện. Rà soát, giải quyết dứt điểm, bổ sung các chính sách hỗ trợ cho nhân dân vùng tái định cư các công trình thủy điện, bảo đảm nâng cao đời sống, giảm nghèo bền vững;

– Có chính sách phát triển ổn định thị trường trong nước và ngoài nước, định hướng, vận động tiêu thụ sản phẩm nội địa. Đấu tranh chống gian lận thương mại, nhất là trong tiêu thụ hàng hóa nông sản. Xây dựng thị trường hàng hóa phát triển hài hòa, bền vững.

4. Trong lĩnh vực bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm:

– Hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; tăng cường công tác phòng, chống tội phạm, nhất là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, ma túy, các loại tội phạm nguy hiểm khác, bảo đảm môi trường bình yên cho nhân dân, cho phát triển kinh tế – xã hội;

– Lực lượng công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, các địa phương, các cơ quan, tổ chức hữu quan, tiếp tục củng cố thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân phòng, chống tội phạm, tạo chuyển biến tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn, tai nạn; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;

– Xây dựng lực lượng công an nhân dân nói chung, các lực lượng công an chuyên ngành nói riêng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cuộc sống bình yên của nhân dân.

III. Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục xem xét những nội dung được đại biểu Quốc hội chất vấn tại kỳ họp này và những chất vấn khác được gửi đến trong thời gian giữa hai kỳ họp để tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội ; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức các phiên họp giải trình của các Bộ trưởng, Trưởng ngành về những vấn đề bức xúc nổi lên thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách được cử tri kiến nghị và đại biểu Quốc hội chất vấn; các đại biểu Quốc hội dành thời gian tham dự các phiên chất vấn và giải trình, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, bảo đảm hoạt động của các cơ quan nhà nước gần dân hơn, công khai hơn, minh bạch hơn và để cử tri và nhân dân cả nước theo dõi, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Các thành viên Chính phủ đã trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 và kỳ họp này khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung đã cam kết trước Quốc hội và có báo cáo kết quả gửi các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 4.

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012.

Nghị Quyết 33/2016/Qh14 Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 2, Quốc Hội Khóa Xiv / 2023

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13;

Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIV,

Quốc hội ghi nhận nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan hữu quan trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn; giải quyết, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri và trực tiếp trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2. Quốc hội yêu cầu các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khẩn trương nghiên cứu, giải quyết, trả lời 2.406 kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội tại kỳ họp thứ 2; tiếp tục tổ chức thực hiện các nghị quyết giám sát của Quốc hội, trong đó có Nghị quyết số 113/2015/QH13 của Quốc hội về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn, báo cáo Quốc hội tại các kỳ họp sau.

Quốc hội giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, trong năm 2017, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực được chất vấn tại kỳ họp này, báo cáo Quốc hội tại các kỳ họp sau; tập trung vào các nội dung sau đây:

– Rà soát, đánh giá tổng thể về thực trạng, mức độ thiệt hại, khẩn trương xử lý dứt điểm đối với các dự án thua lỗ, kém hiệu quả, không để tiếp tục kéo dài gây thiệt hại cho Nhà nước; xác định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có sai phạm trong quá trình đầu tư, từ đề xuất chủ trương, thẩm định, phê duyệt đến thực hiện đối với các dự án thua lỗ, kém hiệu quả; làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra quá trình tổ chức thực hiện và đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực này.

– Hoàn thành việc xây dựng và thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển thị trường trong nước; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động này.

– Triển khai nghiêm túc, đầy đủ quy định pháp luật về quản lý thị trường để hạn chế tình trạng hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Quản lý chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh phân bón; xây dựng, ban hành bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về phân bón; thống nhất đầu mối quản lý nhà nước đối với mặt hàng này.

– Tiếp tục thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu trong quy hoạch phát triển ngành ô tô Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2035; hoàn thành danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm; xây dựng lộ trình thực hiện kể từ năm 2017, cơ chế khuyến khích sản xuất để đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp ô tô.

– Tiếp tục tổng rà soát, đánh giá quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành, khai thác các công trình thủy điện theo đúng yêu cầu của Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội, gắn phát triển thủy điện với thủy lợi; tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, kiên quyết xử lý các công trình, dự án thủy điện vi phạm pháp luật về đầu tư, về bảo vệ môi trường, xả lũ gây thiệt hại cho đời sống, sản xuất của Nhân dân vùng hạ lưu.

– Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định chi tiết thi hành Luật bảo vệ môi trường. Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phù hợp với điều kiện trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế; hướng dẫn về đánh giá và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường; xây dựng hệ thống tiêu chí về môi trường làm cơ sở lựa chọn loại hình sản xuất, công nghệ sản xuất trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư. Xây dựng và áp dụng các công cụ kinh tế về việc kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường theo nguyên tắc thị trường.

– Giám sát chặt chẽ các tác nhân gây ô nhiễm môi trường của Dự án Formosa Hà Tĩnh, theo dõi và có biện pháp phục hồi môi trường biển, thực hiện có hiệu quả công tác bồi thường, sớm ổn định sản xuất và đời sống của người dân trong vùng bị thiệt hại ở các tỉnh miền Trung; bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết của chủ Dự án trước khi đi vào sản xuất.

– Rà soát, bảo đảm thực hiện yêu cầu về điều kiện môi trường khi công nhận làng nghề, xây dựng nông thôn mới; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề; huy động nguồn lực, tập trung giải quyết dứt điểm tối đa số làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng.

– Rà soát hoạt động đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đã đầu tư, nhất là các nhà máy nhiệt điện than, các dự án sản xuất thép, các dự án ven sông, ven biển; xác định rõ trách nhiệm trong việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án gây ô nhiễm sau khi đi vào hoạt động. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; chấn chỉnh khâu thẩm định; kiểm soát chặt chẽ, nâng cao chất lượng việc đánh giá tác động môi trường.

– Chỉ đạo kiểm tra việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch khoáng sản, khu vực khoáng sản để khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên khoáng sản; sớm đưa vào vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu các khu vực đã cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản trên phạm vi toàn quốc; chấn chỉnh hoạt động cấp phép hoạt động khoáng sản, hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ và ngăn chặn triệt để khai thác khoáng sản trái pháp luật. Tăng cường quản lý hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản; có biện pháp khắc phục tình trạng không có cơ quan chịu trách nhiệm chính khi xảy ra tình trạng khai thác tài nguyên, khoáng sản, cát, sỏi lòng sông trái phép tại vùng giáp ranh giữa các địa phương; có giải pháp xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.

– Tổ chức rà soát để thực hiện hiệu quả Luật giáo dục; hoàn thành việc xây dựng và triển khai hiệu quả các đề án, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo; đổi mới tổ chức công tác thi và tuyển sinh theo lộ trình, đồng bộ với quá trình đổi mới dạy và học, tránh tạo áp lực cho học sinh và phụ huynh học sinh; tổ chức định hướng nghề nghiệp, phân luồng học sinh phổ thông phù hợp với cơ cấu phát triển nguồn nhân lực quốc gia, điều kiện kinh tế-xã hội, nhu cầu nhân lực của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, góp phần xây dựng xã hội học tập.

– Rà soát quy hoạch mạng lưới giáo dục đại học trên cơ sở kiểm định chất lượng đào tạo, phân tầng, xếp hạng, cơ cấu đào tạo; thực hiện đồng bộ các giải pháp hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

– Tiếp tục rà soát, hoàn thiện, thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, gắn đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm tại địa phương; nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút nhân tài, giải quyết việc làm tại địa phương cho sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi là người dân tộc thiểu số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dân tộc thiểu số.

– Tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án tinh giản biên chế gắn với sắp xếp cơ cấu lại tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức, viên chức một cách hợp lý; xây dựng và thực hiện nghiêm kế hoạch tinh giản biên chế theo lộ trình đến năm 2021 theo yêu cầu của Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị.

– Tiếp tục triển khai Đề án vị trí việc làm; hoàn thành Đề án tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng. Sớm hoàn thiện Đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.

– Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác khen thưởng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; khẩn trương tổng hợp kết quả đánh giá, phân loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức; có giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức đối với cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng đẩy mạnh đổi mới chế độ công vụ, công chức, xây dựng nền hành chính nhà nước chuyên nghiệp, hiệu quả.

– Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những sai phạm trong tuyển dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ không đúng quy định; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

– Quốc hội phê phán nghiêm khắc ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016 trước Quốc hội và cử tri cả nước do đã có những vi phạm về công tác cán bộ trong thời gian đảm nhiệm chức vụ nêu trên, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, Bộ Công Thương, gây bức xúc trong xã hội, được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm chất vấn. Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan bảo vệ pháp luật tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời, tăng cường công tác giám sát, quản lý cán bộ, làm tốt việc thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu; khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để xử lý công bằng và nghiêm minh các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.

Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xem xét những vấn đề quan trọng, được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm và cử tri kiến nghị để tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tổ chức báo cáo giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, các cơ quan, tổ chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết.

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Từ năm học 2018 – 2019, đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Báo Cáo Của Chính Phủ Về Việc Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn / 2023

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thưa các vị đại biểu Quốc hội, Thưa đồng bào, cử tri cả nước,

Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn, Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên Chính phủ đã nghiêm túc chấp hành, khẩn trương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện gắn với việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đến nay đã đạt được những kết quả tích cực.

Hôm nay, theo sự phân công của đồng chí Thủ tướng, thay mặt Chính phủ tôi xin báo cáo việc thực hiện Nghị quyết số 69/2013/QH13 và Nghị quyết số 75/2014/QH13 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn, tập trung vào một số lĩnh vực sau:

I. Lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

1. Về huy động nguồn lực phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, trong những năm qua Chính phủ luôn quan tâm bố trí ngân sách nhà nước và thực hiện nhiều giải pháp tăng cường huy động nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình trọng yếu về giao thông, thủy lợi, đê sông, đê biển, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến, thu hút nhiều lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn.

Các chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn nông thôn tiếp tục được ưu tiên bố trí, huy động nguồn lực và tích cực triển khai thực hiện. Năm 2014, tổng vốn đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 4,2%; tín dụng tính đến hết tháng 10 tăng 8,2% . Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,5%. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện. Dự kiến đến cuối năm sẽ có khoảng 790 xã đạt chuẩn nông thôn mới (19 tiêu chí), chiếm 8,8%. Tỷ lệ hộ nghèo nông thôn giảm từ 17,4% năm 2010 xuống còn 14,4% năm 2012 và 12,7% năm 2013. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh năm 2014 ước đạt 84%, tăng 2% so với năm 2013.

2. Về tái cơ cấu, nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và bảo vệ, phát triển rừng

Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; đã ban hành và tích cực triển khai các đề án tái cơ cấu đối với 6 lĩnh vực chủ yếu, gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, chế biến nông lâm thủy sản. Đồng thời, ban hành 6 kế hoạch chuyên đề hỗ trợ tái cơ cấu, gồm: Đổi mới cơ chế, chính sách và pháp luật; đổi mới, phát triển các hình thức hợp tác; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới cơ cấu, cơ chế, nâng cao hiệu quả đầu tư công; thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính và tổ chức sự nghiệp công lập.

Đã rà soát quy hoạch và xây dựng phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với lợi thế của địa phương và nhu cầu thị trường. Phát triển sản xuất lúa dưới hình thức hợp tác liên kết, cánh đồng lớn ở 43 địa phương với trên 120 nghìn ha; chuyển đổi gần 90 nghìn ha đất trồng lúa sang trồng mầu hiệu quả cao hơn; phát triển đàn bò sữa hơn 200 nghìn con. Ban hành các chính sách hỗ trợ chăn nuôi nông hộ theo hướng an toàn, bền vững. Chủ động phòng chống dịch bệnh, kiểm soát dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh, bảo đảm an toàn thực phẩm.

Triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm của lĩnh vực lâm nghiệp là: Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất; Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; Phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ; Phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp. Rà soát quy hoạch rừng, duy trì hợp lý diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, phát triển và khai thác có hiệu quả, bền vững rừng nguyên liệu tập trung. Tăng cường bảo vệ rừng, vùng sinh quyển gắn với phát triển du lịch. Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng rừng kinh tế, trồng rừng gỗ lớn. Phấn đấu đến năm 2017 có 235 nghìn ha rừng sản xuất có thể khai thác sản phẩm.

Thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản; tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chủ lực, sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao. Tập trung chuyển dịch cơ cấu khai thác, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đẩy mạnh khai thác xa bờ gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh. Tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng và phát triển các mô hình liên kết, liên doanh, từng bước hình thành các trung tâm nghề cá lớn gắn với các ngư trường trọng điểm. Tiếp tục rà soát việc thực hiện quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão. Triển khai thí điểm tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi. Củng cố tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Kiểm ngư. Đã ban hành và triển khai thực hiện các Nghị định về nuôi, chế biến, xuất khẩu sản phẩm cá tra và về một số chính sách phát triển thủy sản. Tăng cường phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực thủy lợi; rà soát quy hoạch, điều chỉnh các chương trình an toàn hồ chứa, đê sông, đê biển. Nghiên cứu, xây dựng các mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi. Phát triển thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, tưới cho cây trồng cạn. Hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai .

3. Về hoàn thiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ nông dân, ngư dân, di dân tái định cư

Đã ban hành và triển khai các cơ chế, chính sách, quy định mới về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Thực hiện các chính sách hỗ trợ: Lãi suất vay vốn trong thu mua lúa gạo tạm trữ; giảm tổn thất trong nông nghiệp; khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ hậu cần trên các vùng biển xa; tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn; giống cây trồng để chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng mầu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 – 2020.

Thực hiện có hiệu quả Chương trình bố trí dân cư các vùng bị thiên tai, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng. Điều chỉnh bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư các dự án thủy điện Sơn La, Huội Quảng, Bản Chát. Rà soát quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư; hoàn thiện chính sách và đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu và di dân ra khỏi vùng lòng hồ các dự án thủy điện, trong đó có Thủy điện Lai Châu.

4. Về quản lý vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm

Đổi mới phương thức quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp. Chỉ đạo thực hiện xây dựng mô hình điểm chuỗi thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn tại các địa phương. Đến nay, 61/63 tỉnh, thành phố đã thành lập Chi cục quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản; một số Chi cục đã thành lập đơn vị cung ứng dịch vụ kiểm nghiệm và tư vấn về chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm. Hệ thống thanh tra chuyên ngành được thành lập và đi vào hoạt động ở hầu hết các địa phương.

5. Về bảo đảm an toàn hồ, đập thủy lợi

II. Lĩnh vực Nội vụ:

1. Về rà soát, đánh giá và chấn chỉnh tổ chức bộ máy, biên chế

Đã tổng kết thực hiện và soạn thảo, trình Quốc hội các dự án Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Xây dựng Đề án mô hình chính quyền địa phương, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Cơ bản hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh, ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng cục và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

Thực hiện các Kết luận Trung ương và Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, cải cách tiền lương. Đã phê duyệt tổng biên chế trong các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài năm 2014 trên nguyên tắc giữ ổn định biên chế công chức đến năm 2016. Xây dựng, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đề án tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

2. Về quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức; cải cách chế độ công vụ, công chức và xử lý tiêu cực

Đã ban hành 18 Nghị định, 13 Thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Việc cải cách chế độ công vụ, công chức được tích cực triển khai; đã thành lập Ban Chỉ đạo ở các Bộ, ngành, địa phương; phấn đấu đến năm 2015 phê duyệt đề án vị trí việc làm của 70% các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tiếp tục thực hiện việc thi tuyển, thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh. Thí điểm thi tuyển công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý.

Tinh giản biên chế, bảo đảm tuyển dụng mới không quá 50% số công chức ra khỏi biên chế; 50% số biên chế còn lại bổ sung cho lĩnh vực cần tăng. Sớm ban hành Nghị định về chính sách tinh giản biên chế.

Triển khai thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong quản lý công chức, viên chức và thi đua khen thưởng. Tiếp tục hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý; đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức và người quản lý trong doanh nghiệp nhà nước; đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

3. Về tiền lương, phụ cấp công vụ và chính sách đối với cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Từ năm 2011 đến nay đã 3 lần điều chỉnh tăng mức lương cơ sở và 2 lần tăng phụ cấp công vụ với mức điều chỉnh cao hơn tốc độ tăng giá. Tại kỳ họp này, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua việc điều chỉnh tăng 8% đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công và tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống) từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công. Chỉ đạo xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương đến năm 2020. Tuy nhiên, do khó khăn trong việc bố trí nguồn để thực hiện nên Chính phủ sẽ tiếp tục hoàn thiện và trình Đề án vào thời điểm thích hợp.

Xây dựng Đề án phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020. Quan tâm thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số. Ưu tiên tuyển dụng và phân công công tác phù hợp đối với người dân tộc thiểu số.

4. Về cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ban hành các quy định, cơ chế chính sách tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nhất là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, đất đai, xây dựng, thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp, thủ tục đầu tư, tiếp cận điện năng…

Thực hiện Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện đã trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

III. Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông:

1. Về phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo điều kiện để nhân dân theo dõi, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

Thực hiện nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò của báo chí. Chỉ đạo thực hiện nghiêm quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời. Tăng cường phổ biến chính sách pháp luật, thông tin truyền thông về Hiến pháp, hoạt động của Đảng, Nhà nước và những sự kiện quan trọng của đất nước, về gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến. Đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội.

2. Về tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí

3. Về tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng

Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước, thành lập các Cục về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng tại một số Bộ, ngành chức năng. Triển khai hệ thống giám sát mạng Internet quốc gia để cảnh báo và điều phối ứng cứu sự cố mạng trong nước. Trong 9 tháng, đã kịp thời phát hiện, khắc phục gần 7.300 trường hợp các cổng, trang thông tin điện tử đặt tại Việt Nam bị tấn công. Triển khai Đề án đào tạo phát triển nguồn nhân lực an toàn, an ninh thông tin và chỉ đạo xây dựng Đề án nâng cao năng lực quản lý thông tin trên Internet. Tăng cường nâng cao nhận thức của xã hội, người dân về bảo đảm an toàn thông tin. Nghiên cứu, xây dựng dự án Luật An toàn thông tin.

4. Về rà soát quy hoạch tổng thể hạ tầng viễn thông

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, ban hành các quy hoạch về hạ tầng, tài nguyên và quản lý, phát triển thị trường viễn thông. Thực hiện Quy hoạch phát triển hạ tầng viễn thông đến năm 2020. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật phát triển hệ thống viễn thông; chỉ đạo khẩn trương ban hành Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và Chương trình phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng. Tập trung đầu tư xây dựng và mở rộng các tuyến cáp quang biển quốc tế, khai thác vệ tinh Vinasat 1 và Vinasat 2, mở rộng vùng phủ sóng và nâng cao chất lượng mạng 3G. Phê duyệt và triển khai các đề án tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty viễn thông. Nhiều doanh nghiệp viễn thông đã xúc tiến và mở rộng đầu tư ra nước ngoài, trong đó Viettel đã thiết lập mạng và phát triển thuê bao cung cấp dịch vụ tại nhiều quốc gia.

5. Về quản lý nội dung thông tin trên mạng và tăng cường kiểm tra, hạn chế SIM rác, tin nhắn rác

Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước đối với thông tin mạng. Thiết lập hệ thống quản lý, tăng cường kiểm tra, thanh tra, phối hợp giữa các cơ quan chức năng, ngăn chặn thông tin không lành mạnh, sai trái, độc hại ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, đạo đức, lối sống và xử lý nghiêm các vi phạm. Trong 10 tháng, đã xử phạt 17 doanh nghiệp phát tán tin nhắn rác.

IV. Lĩnh vực Tài chính:

1. Về bảo đảm an toàn nợ công, nợ Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo đảm an toàn nợ công, nợ Chính phủ theo quy định của Luật Quản lý nợ công. Đến cuối năm 2013, nợ công bằng 54,2% GDP, nợ Chính phủ 42,3% GDP; dự kiến cuối năm 2014 nợ công khoảng 60,3% GDP, nợ Chính phủ 46,9% GDP, nằm trong giới hạn cho phép theo quy định.

Thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quản lý chặt chẽ nợ công; tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ lệ vay trong nước với thời hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn . Kiểm soát chặt chẽ việc trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh và thu nợ đối với các khoản vay về cho vay lại. Bố trí nguồn từ ngân sách nhà nước trong giới hạn theo quy định và sử dụng Quỹ tích lũy trả nợ để bảo đảm trả nợ đúng hạn. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường quản lý nợ công gắn với đổi mới cơ cấu ngân sách nhà nước theo hướng lành mạnh, tích cực. Phấn đấu đến năm 2020 nợ công khoảng 60,2% GDP, nợ Chính phủ khoảng 46,6% GDP, bảo đảm trong giới hạn an toàn cho phép theo quy định.

2. Về tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, nhất là thuế, hải quan

Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường quản lý thu ngân sách, phát hiện, ngăn ngừa và xử lý gian lận thương mại, trốn thuế, nợ thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, chuyển giá. Đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuế, hải quan, tăng cường công tác kê khai thuế qua mạng Internet, nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế; triển khai cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển quốc tế và tham gia cơ chế một cửa ASEAN. Ngay trong năm 2014 giảm thời gian nộp thuế khoảng 290 giờ/năm; phấn đấu đến năm 2015 thời gian thông quan giảm xuống còn 14 ngày đối với hàng xuất khẩu, 13 ngày đối với hàng nhập khẩu. Nâng cao phẩm chất, năng lực; thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan thuế, hải quan.

Thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước; rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi; cắt giảm tối đa các khoản chi tổ chức lễ hội, hội nghị, đi công tác trong và ngoài nước… Kiểm soát chặt chẽ chi thường xuyên và chi đầu tư, thanh toán vốn đối với các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Bảo đảm tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán. Bố trí nguồn thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng an ninh và trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Sử dụng toàn bộ bội chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển.

3. Về triển khai Luật Giá và quản lý giá cả, thị trường

Đã ban hành các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giá. Tăng cường phổ biến và triển khai thực hiện pháp luật, xử lý nghiêm vi phạm. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp quản lý giá cả, thị trường, bảo đảm cân đối cung cầu và bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu. Tiếp tục thực hiện giá thị trường đối với các mặt hàng xăng dầu, than, điện, nước, dịch vụ y tế, giáo dục…; có chính sách hỗ trợ phù hợp cho đối tượng chính sách, hộ nghèo. Quản lý chặt chẽ giá các mặt hàng sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi, đấu thầu giá thuốc chữa bệnh; liên tục giảm giá xăng dầu theo thị trường thế giới.

4. Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, thực hiện đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong 10 tháng, đã tái cơ cấu được 119 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 100 doanh nghiệp. Đã thoái vốn được trên 3,5 nghìn tỷ đồng, gấp hơn 3,6 lần so với năm 2013. Tăng cường công khai minh bạch tình hình tài chính và kết quả hoạt động. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu và quốc phòng an ninh.

Quản lý chặt chẽ Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp, sử dụng đúng mục đích theo quy định. Hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn có lãi, vốn chủ sở hữu được bảo toàn và phát triển, đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng. Thời gian tới, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu, tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành, nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa 432 doanh nghiệp.

V. Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo:

1. Triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ và thành lập Ủy ban quốc gia về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục đào tạo. Xây dựng Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trình Quốc hội tại kỳ họp này. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy và học. Đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá, nhất là đối với kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh cao đẳng, đại học. Tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng giáo viên. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục.

2. Về tuyển sinh, đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động; chấn chỉnh tình trạng mở trường đại học và tuyển sinh tràn lan

Tiếp tục rà soát điều chỉnh và tổ chức lại mạng lưới trường đại học, cao đẳng đến năm 2020 phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực cả nước, vùng và địa phương. Đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo với sự tham gia của nhà quản lý, người sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra từng ngành đào tạo. Bảo đảm sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp; chú trọng hướng nghiệp, tư vấn lựa chọn ngành nghề cho học sinh.

Kiểm soát chặt chẽ việc nâng cấp, thành lập trường đại học, trường cao đẳng và mở ngành đào tạo mới; chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo gắn với thị trường lao động. Thực hiện nghiêm công tác hậu kiểm đối với các cơ sở đào tạo. Tăng cường kiểm tra giám sát việc xây dựng và đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên.

Đổi mới chương trình đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Triển khai thực hiện các đề án đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ ASEAN và quốc tế giai đoạn 2012 – 2015, phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020. Tổ chức thành công thi tay nghề ASEAN 2014.

VI. Lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp:

1. Về triển khai thi hành Hiến pháp

Đã chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp 2013; tổ chức Lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2014 và phát động cuộc thi viết tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Về công tác xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; tăng cường thẩm định, kiểm tra việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật Đã xây dựng, trình Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình năm 2014 và 2015, trong đó có dự án Luật Ban hành văn bản pháp luật. Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh đã có chuyển biến rõ nét, giảm đáng kể tình trạng nợ đọng văn bản.

Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được chú trọng, bảo đảm tiến độ, chất lượng, gắn kết chặt chẽ giữa các khâu trong quá trình soạn thảo, góp ý, thẩm định, kết hợp với kiểm soát thủ tục hành chính, phát huy vai trò phản biện xã hội thông qua hội đồng tư vấn.

Công tác kiểm tra văn bản được thực hiện thường xuyên hơn; đã hình thành cơ chế theo dõi, phát hiện, xử lý và kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật.

3. Về công tác thi hành án dân sự

Chính phủ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội trong việc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp này.

Năm 2014 công tác thi hành án dân sự đã có chuyển biến tích cực; kết quả số vụ và số tiền được thi hành án cao hơn năm 2013, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao về số vụ việc. Quan tâm chỉ đạo việc ra quyết định thi hành án và phân loại án dân sự. Tập trung chấn chỉnh và xử lý thiếu sót, vi phạm trong thi hành án dân sự.

Bộ máy, tổ chức hệ thống cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục được kiện toàn. Chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ công chức thi hành án dân sự, nâng cao phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường kỷ luật kỷ cương; xử lý nghiêm cán bộ thi hành án vi phạm pháp luật.

VII. Lĩnh vực Thanh tra:

1. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân

Tập trung chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tổ chức các hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Chỉ thị số 35/CT-TW của Bộ Chính trị, Luật Tiếp công dân và đôn đốc, chỉ đạo xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài. Chỉ đạo người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân, tổ chức đối thoại công khai và thực hiện đồng bộ các giải pháp để giải quyết dứt điểm các vụ việc.

Các Bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch và thành lập các đoàn thanh tra, tổ công tác để giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Tại nhiều địa phương, các cấp chính quyền với sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, sự vào cuộc quyết liệt của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và Đoàn Luật sư đã tạo chuyển biến tích cực trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đến nay đã giải quyết 500/528 vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài, đạt tỷ lệ 94,7%. Thanh tra Chính phủ đã ban hành kế hoạch tiếp tục giải quyết các vụ việc tồn đọng, phức tạp khác; các Bộ, ngành, địa phương đã kiểm tra, rà soát 532 vụ việc, trong đó có 241 vụ việc đủ điều kiện chấm dứt thụ lý.

Đã ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tiếp công dân. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thành lập Ban Tiếp công dân Trung ương và chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thành lập, kiện toàn Ban Tiếp công dân theo quy định. Hầu hết lãnh đạo Bộ, ngành, địa phương đã trực tiếp đối thoại, giải quyết khiếu nại của công dân. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Tổng Thanh tra Chính phủ và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ về các địa phương nơi xảy ra vụ việc nhằm giảm tập trung khiếu kiện về Hà Nội và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân.

2. Về công tác phòng, chống tham nhũng

Tiếp tục hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xây dựng Đề án kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát kê khai tài sản. Đã ban hành và triển khai thực hiện quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, chương trình Sáng kiến phòng, chống tham nhũng trong ngành thanh tra và công khai kết luận thanh tra. Đã xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng, nhất là các vụ nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Tăng cường phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

3. Về công tác thanh tra và xây dựng ngành thanh tra

Tiếp tục kiện toàn bộ máy, tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của cán bộ, công chức và chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong toàn ngành thanh tra. Triển khai thí điểm thi tuyển lãnh đạo cấp phòng tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Ban hành quy định hướng dẫn cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra cấp tỉnh và cấp huyện. Nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển ngành thanh tra đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

Kính thưa Quốc hội,

Thời gian tới, Chính phủ tập trung chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương phát huy kết quả đạt được, nỗ lực khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Quốc hội, phấn đấu thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội, đồng chí, đồng bào.

Bạn đang xem bài viết Hđnd Xã Phước Thành Ban Hành Nghị Quyết Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!