Xem Nhiều 1/2023 #️ Hệ Thống Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12 # Top 6 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hệ Thống Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12 # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hệ Thống Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những xúc cảm này cho thấy tư chấtnghệ sĩ của Phùng, con người có tâmhồn nhạy cảm, có những rung độngtinh tế trước cái Đẹp.Đó cũng chính là sự giác ngộ, nhậnthức về sức mạnh kì diệu của cái đẹp,của nghệ thuật đối với con người, bởinói như quan niệm của Dostoiepxki:“Cái Đẹp cứu rỗi thế giới” – khi đứngtrước cái đẹp, người ta thường khôngnghĩ đến cái xấu, cái ác, cái dung tục,tầm thường của cuộc đời mà để tâmhồn mình bay bổng hướng thiện.

Phát hiện chiếc thuyền gần bờ

một gã đàn ông to lớn, dữ dằn; một cảnhtượng tàn nhẫn: gã chồng đánh đập người vợmột cách thô bạo;… Đứa con vì thương mẹđã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt taicủa bố ngã dúi xuống cát…

Chứng kiến những cảnh tượng đó, nghệ sĩPhùng kinh ngạc đến thẫn thờ: “Tất cả mọiviệc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức,trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồn ramà nhìn”. Người nghệ sĩ như chết lặng, khôngtin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Sở dĩnghệ sĩ Phùng trở nên như vậy là vì anh khôngthể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp diệu kì củatạo hóa kia lại có cái ác, cái xấu đến không thểtin được. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy“bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, thất“chân lí của sự toàn thiện” thế mà chỉ ngaysau đó chẳng còn cái gì là đạo đức là cái toànthiện của cuộc đời.

Nguyễn Minh Châu đã gặp gỡ tri kỉtiền nhân Nam Cao, người đã từnghơn một lần để cho các nhân vật thaylời mình phát ngôn những quan điểmđúng đắn về nghệ thuật và người làmnghệ thuật: “Nghệ thuật không phảilà ánh trăng lừa dối càng không phảilà ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật cóthể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ratừ những kiếp lầm than.” (Giăngsáng) và người làm nghệ thuật phải“mở lòng ra để đón lấy tất cả nhữnggì vang động ở đời” (Đời thừa).

Cùng một thời điểm, cùng một người quansát, nhưng với hai cự li và góc độ khác nhau,người nghệ sĩ đã phát hiện ra hai bức tranhhoàn toàn tương phản: phía sau cái đẹp thánhthiện trong trẻo của ngoại cảnh lại là sự độcác, xấu xa, u tối trong cuộc sống con người.Nghịch lí đau đớn này sẽ đưa đến những nhậnthức sâu sắc, mới mẻ cho người nghệ sĩ vềcách nhìn với hiện thực cuộc đời.

 Cuộc đời không đơn giản, xuôichiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí.Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đốilập, những mâu thuẫn: đẹp – xấu,thiện – ác. Nghệ thuật vốn nảy sinh từcuộc đời những không phải bao giờcuộc đời cũng là nghệ thuật. Nhà vănkhẳng định: đừng nhầm lẫn hiện tượngvới bản chất, giữa hình thức bên ngoàivà nội dung bên trong không phải baogiờ cũng thống nhất; đừng vội đánh giácon người, sự vật ở dáng vẻ bên ngoài,phải phát hiện ra bản chất thực sau vẻngoài đẹp đẽ của hiện tượng.

Phát hiệnvề ngƣờiđàn bà

tàn bạo”. Biết mình khổ nhưng người phụ nữấy vẫn âm thầm nhẫn nhục chịu đựng màkhông hề than vãn cho bản thân.Ngược lại chị còn nhận trách nhiệm về mình:“nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyềnđẻ nhiều quá” và thanh minh cho chồng “lãochồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tínhnhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đậptôi”

Về chính mình: Mình đã đơn giản khi nhìnnhận cuộc đời và con người. Chính vì hiểu đờimột cách phiến diện bề ngoài mà anh đã thấtbại thảm hại, hành đông cứu người anh chỉ làmột phiên bản của người đã từng lao vào đánhnhau với cối xay gió trong trang sách của nhàvăn Xecvantec mà thôi. Lẽ đời hoàn toànkhông đơn giản, con người lại càng bí ẩn,tưởng xấu lại tốt, tưởng cao cả lại hóa ra thấphèn, tưởng tội phạm nhưng lại là nạn nhân“lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng rắnrết, thiên thần và ác quỷ” (Bức tranh).

Tống lão vào tù là làm điều chính nghĩa, đòilại sự công bằng, đem lại hạnh phúc cho ngườiphụ nữ hay không? Hay là lại đẩy chị và cuộcsống của những đứa con trên chiếc thuyềnmỏng manh kia vào bão tố. Nhưng nếu khôngtrừng trị lão thì bi kịch tinh thần và thể xácngười phụ nữ và những đứa con đến khi nàomới có hồi kết? Cuối cùng thì những ngườicầm cán cân công lí ở cái làng chài hẻo lánhnày cũng cố tìm được một giải pháp: triệu tậplão chồng lên để giáo dục. Nhưng xem ra,Phùng cũng không mấy tin tưởng vào tính khảthi của giải pháp này.Trận bão biển và bài học cuộc sống

Phải chăng Phùng vẫn canh cánhmột nỗi niềm: những lời giáohuấn tốt đẹp có làm giảm đượckhông những gian khó, nhọcnhằn mà hằng ngày gia đình họphải đối mặt, có đem lại chonhững đứa trẻ tội nghiệp kianhững bữa ăn no, có chống chọiđược với những bão táp trên biểnkhơi vẫn ngày ngày tiếp diễn?

Có 3 vấn đề về cuộc sống mà Phùng đã ngộ ra: Cuộc sống không hề giản đơn, một chiều mà có đủ cả trắng đen, tốt xấu, vui buồn; Con người cũng vô cùng phức tạp, đó là kiểu người đa trị, lưỡng diện; Cái đẹp hoàn toàn không phụ thuộc vào hình thức bề ngoài, không phải cái đẹp lúcnào cũng phát lộ trên bề mặt mà nó có thể lấp lánh sau lần vỏ ngoài xù sì thô nhám.Đồng thời Phùng cũng nhận ra các vấn đề quan trọng của nghệ thuật: Nghệ thuật phải gắn bó hữu cơ mật thiết với cuộc đời; Nghệ thuật khám phá con người ở chiều sâu nhân bản.Đây chính là quan niệm nghệ thuật về con người, về nghệ thuật và người làm nghệ thuậtcủa Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Hệ thống kiến thức bài Đất Nƣớc – Nguyễn Khoa Điềm

Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa điềm làm tagợi nhớ tới câu ca dao mẹ ru thuở nào:“Cày đồng đang buổi ban trưa

ĐẤT NƢỚC LÀ GÌ?

Cơ bản

* NHÂN DÂN LÀ NGƢỜI LÀM RA KHÔNGGIAN ĐỊA LÍ DÂN TỘC:Tư tưởng đất nước của nhân dân khiến cho những địadanh ngàn đời của Tổ quốc qua cái nhìn sắc sảo đầykhám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của nhữngcon người bình dị, vô danh “những con người khôngai nhớ mặt đặt tên” nhưng họ đã làm ra đất nước.+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là kết tinh tình yêuthuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong

Nguyễn Khoa Điềm đãkhông lặp lại một thói quan lànêu lên sự trù phú đẹp tươicủa Đất Nước vớiNhững cánh đồng thơm mátNhững ngả đường bát ngátNhững dòng sông đỏ nặngphù sa(Đất nước – Nguyễn ĐìnhThi)

(Tố Hữu)+ Cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao củavua Hùng:“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầmđể lại

Chính những nét đẹp tâm hồnđã góp phần hình thành nên vẻđẹp tài hoa, khí phách, sự giản

Tóm Tắt Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12

Tài liệu ôn thi THPT quốc gia môn Văn

Tóm tắt các tác phẩm văn học lớp 12

Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông

I . Tác phẩm học chính khoá

Mẫu 1

Bản tuyên ngôn mở đầu bằng những câu trích dẫn từ “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ, ” Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Tiếp đó, bản tuyên ngôn lên án tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam trong đó hơn 80 năm chúng xâm lược chúng ta. Đó là tội ác về kinh tế , chính trị , văn hóa, tội bán nước hai lần cho Nhật. Bản tuyên ngôn nêu cao cuộc đấu tranh chính nghĩa và thắng lợi của nhân dân ta. Bản tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố quyền độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của toàn dân tộc.

Mẫu 2

Tuyên ngôn độc lập-văn kiện có ý nghĩa lịch sử sống còn với vận mệnh dân tộc. Nếu ở Mỹ có Tuyên ngôn độc lập năm 1776, ở Pháp có bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 thì Việt Nam có bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được tuyên bố ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình để xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định quyền tự chủ và vị thế của dân tộc ta trên thế giới, đó là mốc son chói lọi đánh dấu kỉ nguyên mới-kỉ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Tuyên ngôn độc lập được Bác triển khai theo ba nội dung rõ ràng. Phần mở đầu: Bác có đưa ra cơ sở cho bản Tuyên ngôn nói về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc dựa vào hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp-hai nước tư bản lớn trên thế giới-hai quốc gia xâm lược Việt Nam. Bác dùng những lí lẽ đó để làm bản lề vạch ra cho ta thấy những việc làm trái với tuyên ngôn của chúng. Phần nội dung: Những cơ sở thực tế đã được chỉ ra, đó là những tội ác của Pháp, chúng đã thi hành ở nước ta hơn 80 năm nay trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-giáo dục. Tất cả những điều đó đập tan luận điệu xảo trá của kẻ thù đã, đang và sẽ nô dịch nước ta trở lại. Phần kết luận: Lời tuyên bố đanh thép và khẳng định quyết tâm sắt đá giữ vững nền độc lập dân tộc. Tuyên ngôn độc lập đã hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh đồng thời cho thấy khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

2. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng):

Phần 1 : Đặt vấn đề cho bài viết. Tác giả nêu luận điển xuất phát: Phải có cái nhìn đúng về văn chương Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông. Cách nhìn đó là: ” Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường , nhưng con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thấy càng sáng.thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”

Phần 2 : Giải quyết vấn đề : Tác giả nêu các luận điểm bổ sung để chứng minh cho luận điểm xuất phát: cách nhìn đúng đắn đó được cụ thể hoá qua cách đánh giá (của tác giả) về:

+ Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu ( chủ yếu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

+ Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên – Tác phẩm phổ biến , đặc sắc của NĐC ( cả nội dung và nghệ thụât).

Phần 3 : Kết thúc vấn đề: (Luận điểm kết luận, cái đích của bài viết)

Đánh giá đúng vị trí của NĐC trong nền văn học dân tộc theo cách nhìn mới mẻ đã nêu ở phần đầu: ” NĐC là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao đại vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trân mặt trận văn hoá và tư tưởng”.

3. Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 (Cô-phi-an-nan)

1) Mở đầu :

Nhắc lại việc cam kết của các quốc gia trên thế giới để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS vào năm 2001 và Tuyên bố về cam kết phòng chống HIV/AIDS của quốc gia đó.

2) Nhìn lại tình hình thực hiện phòng chống HIV/AIDS:

Đã có một số dấu hiệu của chúng ta về nguồn lực, ngân sách, chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS.

Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành gay tử vong trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, cứ mỗi phút trôi qua có 10 người nhiễm HIV, và đại dịch này đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ , đang lan rông nhanh nhất ở chính khu vực mà trước nay hình như vẫn còn an toàn- đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ Châu Á, từ dãy núi U-ran đến Thái Bình Dương.

Không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra trong Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS và với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào năm 2005.

3) Nhiệm vụ cấp bách , quan trong hàng đầu là tích cực phòng chống AIDS

Phải nỗ lực thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết.

Phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động .

Phải công khai lên tiếng về AIDS

Không được kì thị và phân biệt đối xử đối với những người sống chung với HIV/AIDS.

Đừng một ai ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên cách bức tường rào ngăn cách ” giữa chúng ta và họ”.

Trong thế giới khốc liệt này không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giớio đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết. Có nghĩa là phải hành động để chống lại đại dịch AIDS đang đe doạ mọi người trên hành tinh này, không trừ một ai.

4) Kết thúc: Lời kêu gọi phòng chống HIV/AIDS:

Hãy sát cách cùng chúng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt nguồn từ chính các bạn.

4. Người lái đò sông Đà ( Nguyễn Tuân )

Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông đà vừa hung bạo trữ tình. Sông Đà có lúc dịu dàng như người phụ nữ kiều diễm.Nước sông Đà thay đổi theo mùa phản chiếu trời xuân nắng thu ” Mùa xuân dòn xanh ngọc bích,mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa ” .Dọc theo sông Đà,có lắm thác nhiều ghềnh,có đá dựng vách thành,có đá tảng,đá hòn bày thế thạch trận,tạo nên cửa sinh cửa tử.Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hình ảnh ông lái đò sông Đà. Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùng sông nước với thân hình cao to,nước da rám nắng. Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bó với dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó. Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từng vách đá, luồng nước, từng cửa sinh cửa tử do thế thạch trận tạo nên .Ông đã dùng kinh nghiệm nghề nghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm.Ông đã đưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống.

Sau khi vượt sông Đà, ông lái đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình,ông neo thuyền chỗ khúc sông bình lặng và nấu ống cơm lam, bàn tán về cá Anh Vũ cá dầm xanh.

5. Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Bài bút kí đã ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương gắn liền với xứ Huế mơ mộng đã đi vào lòng người và với truyền thống lịch sử xứ Huế. Lúc ở thượng nguồn, sông Hương có vẻ đẹp mãnh liệt và hoang dại , có nhiều ghềnh thác đáy vực bí ẩn. Có thể xem sông Hương như bản trường ca của rừng già Lúc về đồng bằng ,sông Hương thơ mộng làm say đắm lòng người.Hai bên bờ sông Hương chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên.Dòng sông mềm như tấm lùa uốn cong ,cảnh đẹp như bức tranh có đường nét,hình khối ” trôi đi giũa hai dãy đồi sừng sửng như thành quách “, ” cao đột ngột như VỌNG CẢNH, TAM THAI,LƯU BẢO “.Sông hương có vẻ đẹp da màu biến ảo : ” sớm xanh,trưa vàng ,chiều tím “

Lúc qua thành phố Huế, sông Hương ” trôi đi thực chậm “,chảy lặng lờ như điệu slow. Sông Hương ” đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya “.Trên sông vọng lại tiếng hát trong một khoang thuyền nào đó. Sông Hương mang vẻ đẹp vừa trữ tình, vừa trầm mặc gắn liền với lịch sử bi tráng của dân tộc mà trên thế giới không có dòng sông nào như thế. Và trước về với biển sông hương lưu luyến tình cảm với thành phố Huế ví như nỗi vấn vương của nàng Kiều với Kim Trọng.

6. Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài

Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già mà món nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô vẫn còn. Năm đó, ở Hồng Ngài tết đến, A Sử con trai thống lí Pá Tra lừa bắt cóc được Mị về làm vợ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ. Khổ hơn con trâu con ngựa, lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Mị toan ăn lá ngón tự tử. Thương cha già, Mị chết không đành. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Một cái tết nữa lại đến. Mị thấy lòng phơi phới. Cô uống rượu ực từng bát, rồi chuẩn bị lấy váy áo đi chơi. A Sử đã trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay.

A Phủ vì tội đánh con quan nên bị làng phạt vạ một trăm bạc trắng. A Phủ trở thành người ở nợ cho Pá Tra. Một năm rừng động, A Phủ để hổ bắt mất một con bò. Pá Tra đã trói đứng anh vào một cái cọc bằng một cuộn mây. Mấy ngày đêm trôi qua, A Phủ sắp chết đau, chết đói, chết rét thì được Mị cắt dây trói cứu thoát. Hai người trốn đến Phiềng Sa nên vợ nên chồng. A Phủ gặp cán bộ A Châu kết nghĩa làm anh em được giác ngộ trở thành chiến sĩ du kích đánh Pháp.

7. Vợ nhặt – Kim Lân

Anh Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò chở thuê. Đã nhiều tuổi, thô kệch, có tính vừa đi vừa nói lảm nhảm. Hai mẹ con ở trong một mái nhà tranh vắng teo, rúm ró bên ảnh vườn . Trận đói kinh khủng đang diễn ra, người chết đói như ngả rạ. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, hắn hò một câu vượt dốc rất tình. Một cô gái ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mắt cười tít. Lần thứ hai, Tràng gặp lại thị, trông khác hẳn, thị gầy sọp hẳn đi, áo quần tả tơi như tổ đỉa. Một vài câu trách móc, mời chào, thị ăn một chập 4 bát bánh đúc do Tráng đãi. Mua một cái thúng và 2 hào dầu, Tràng dẫn thị về nhà ra mắt mẹ. Xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà xa lạ đi theo Tráng họ bàn tán, có phần lo ngại. Trong nhá nhem tối, bà cụ Tứ gặp và nói chuyện với nàng dâu mới. Lần đầu nhà Tràng có dầu thắp đèn… Tiếng ai hờ khóc người chết đói ngoài xóm lọt vào. Sáng hôm sau, bà mẹ chồng và nàng dâu mới quét dọn trong nhà ngoài sân. Bữa cơm – cháo cám – đón nàng dâu mới. Bà cụ Tứ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu, nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này. Lại một buổi sáng. Tiếng trống thúc thuế dồn dập. Quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật. Tràng nhớ lại lá cờ đỏ bay phấp phới hôm nào…

8. Rừng Xà nu – Nguyễn Trung Thành

Sau 3 năm đi “lực lượng”, Tnú về thăm làng. Bé Heng gặp anh ở con nước lớn dẫn anh về. Con đường cũ, hai cái dốc, rừng lách chằng chịt hố chông, hầm chông, giàn thò sắc lạnh. Mặt trời chưa tắt thì anh về đến làng. Cụ Mết già làng và bà con dân làng reo lên mừng rỡ. Cụ Mết đưa anh về nhà ăn cơm. Từ nhà ưng vang lên một hồi, ba tiếng mõ dài, cả lũ làng cầm đuốc kéo tới nhà cụ Mết gặp Tnú. Có ông bà già. Nhiều trai tráng và lũ con gái. Đông nhất là lũ trẻ con. Có cả cô Dít, em gái Mai, nay là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã hội. Ai cũng muốn ngồi gần anh Tnú. Dít thay mặt lũ làng xem giấy có chữ ký chỉ huy cho phép Tnú về thăm làng một đêm. Quanh bếp lửa rộn lên: “Tốt lắm rồi!” “Một đêm thôi, mai lại đi rồi, ít quá, tiếc quá!”. Rồi cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cho lũ làng nghe. Tiếng nói rất trầm. “Anh Tnú đó, nó đi Giải phóng quân đánh giặc… Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị giặc chặt đầu, nó và em Mai đi vào rừng nuôi anh Quyết cán bộ. Anh dạy nó học chữ. Nó học chữ thì hay quên nhưng đi rừng làm liên lạc thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó vượt thác, xé rừng mà đi, lọt tất cả vòng vây của giặc. Một lần Tnú vượt thác Đắc nông thì bị giặc bắt, bị tra tấn, bị đầy đi Kông Tum. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trốn về, lưng đầy thương tích. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi cho dân làng Xô Man trước khi anh tử thương. Tnú đi bộ lên núi Ngọc Linh đem về một gùi đá mài. Đêm đêm làng Xô Man thức mài vũ khí. Thằng Dục chỉ huy đồn Đắc Hà đưa lũ ác ôn về vây ráp làng. Tiếng kêu khóc vang dậy. Cụ Mết và trai tráng lánh vào rừng, bí mật bám theo giặc. Bọn giặc đã giết chết mẹ con Mai. Tay không ra cứu vợ con, Tnú bị giặc bắt. Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy 10 ngón tay anh. Cụ Mết và lũ thanh niên từ rừng xông ra, dùng mác, và rựa chém chết tất cả 10 tên ác ôn. Thằng Dục ác ôn và xác lũ lính ngổn ngang quanh đống lửa trên nhà ưng. Từ đó, làng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng. Sau đó, Tnú ra đi tìm cách mạng…”

Cụ Mết ngừng kể, rồi hỏi Tnú đã giết được mấy thằng Diệm, mấy thằng Mĩ rồi? Anh kể chuyện đánh đồn, xông xuống hầm ngầm dùng tay bóp chết thằng chỉ huy… thằng Dục, “đúng chớ… chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục!”. Mưa rơi nặng hạt. Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Sáng hôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường. Ba người đứng nhìn những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời…

9. Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

Việt quê ở Bến Tre. Chị gái là Quyết Chiến, hai chị em cùng đi bộ đội một ngày. Trong một trận đánh lớn trong rừng cao su, Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép Mĩ. Nhưng Việt đã bị thương nặng, ngất đi trên chiến trường, bị lạc đơn vị ba ngày đêm. Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỷ niệm vui, buồn tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị em, nhớ chú Năm. Cả ba lẫn má đều hy sinh trong chiến tranh. Việt và chị Chiến ra đi đánh giặc để báo thù cho ba má, để giải phóng quê hương, tiếp tục trang sử anh hùng của gia đình. Anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm Việt suốt 3 ngày, mấy lần đụng địch, lục suốt mặt trận dài dặc mới gặp được Việt và đưa về bệnh viện quân y. Lúc vết thương sắp lành, anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến.

10. Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

Nhiếp ảnh Phùng đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ. Anh được trưởng phòng phân công xuống vùng biển để chụp một bức ảnh cảnh biển buổi sáng. Anh quan sát và giơ máy bấm máy. Đó là một cảnh “đắt” trời cho. ” Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và rất đẹp. Nó đẹp như ” bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ” . Phùng rất xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình. Anh liên tưởng đến câu nói của ai đó ” bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.

Ngay lúc ấy Phùng thấy mũi thuyền tiến thẳng vào bờ. Một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền. Tiếng quát của người đàn ông :” Cứ ngồi yên nay. Động nay tao giết cả mày đi bây giờ”. Người đàn bà cao lớn, đường nét thô kệch mệt mỏi sau một đêm kéo lưới. Người đàn ông có tấm long rộng và cong như một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ, lão đi chân chữ bát. Hai con mắt dữ tợn. Cả hai đến chỗ chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ bỏ lại. Người đàn ông trở nên hùng hổ, rút chiếc thắt long trongngười quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : ” Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Giưã lúc ấy thằng Phác ( con của cặp vợ chồng) lao ra như một mũi tên. Phùng cũng lao tới. Khi anh tới nơi thì chiếc dây da nằm trong tay thằng Phác. Nó đánh vào ngực bố nó. Lão đàn ông giằng lại chiếc dây thắt lưng không được liền dang thẳng cách tay cho thằng bé 2 cái tát . Lão bỏ về thuyền , hai mẹ con ôm nhau khóc.

Ba hôm sau Phùng lại chứng kiến một cảnh tương tự. Chỉ có khác là chị thằng Phác giằng được con dao mà thằng em trai địng dùng làm vũ khí để bảo vệ bà mẹ. Không thể chịu được, Phùng xông ra buộc lão đàn ông chấm dứt hành động độc ác. Lão đánh trả, Phùng bị thương phải đưa vào bệnh xá của toà án huyện.Tại đây anh biết được cảnh ngộ qua lời tâm sự của người đàn bà hàng chài. Anh ngạc nhiên và thực sự thông cảm. Anh và chánh án Đẩu vỡ ra một điều nghịch lí , không có trong sách sở nhưng phải chấp nhận. Sau đó anh trở về phòng văn hoá , suy nghĩ về tấm ảnh chụp được trong lốc lịch.

11. Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ ): Gồm 7 cảnh

Trương Ba giỏi đánh cờ, bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai, Nam Tào và Đế Thích cho hồn TB nhập vào xác anh hàng thịt rồi chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác anh hàng thịt, TB gặp nhiều điều phiền toái: Lí trưởng sách nhiễu khiến con trai TB phải đưa hối lộ cho lí trưởng , để đến nửa đêm TB mới được rời nhà anh hành thịt về nhà mình; chi hàng thịt đòi chồng lại. Trong con mắt người thân, từ vợ, con dâu đến cháu gái, TB trở thành kẻ xa lạ…

TB đau khổ vi phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Hồn TB bi thể xác hồn thịt xui khiến, dần dần bi nhiễm một số thói xấu, những cái tầm thường của anh đồ tể. Ý thức được điều đó, linh hồn TB giằn vặt đau khổ và đi đến quyết định chống lại bằng cách tách linh hồn ra khỏi thể xác anh hàng thịt. Xác hàng thịt chế giễu, ve van hồn TB thỏa hiệp.

Đế Thích đ̣ịnh giúp hồn TB nhập vào xác cu Tị, TB kiên quyết từ chối, xin cho cu Tị được sống, đồng thời trả xác lại cho anh hàng thịt và chấp nhận cái chết.

12. Thuốc – Lỗ Tấn

13. Ông già và biển cả – Ernest Hemingway

Sau khi kéo được con cá kiếm vào mạn thuyền lão Xanchiagô đã mệt lả, những vết máu ở con cá kiếm lan ra đã làm cho bầy cá mập kéo đến. Lão Xanchiagô lại một lần nữa chiến đấu với đàn cá mập nhưng đàn cá mập, vẫn lao vào tấn công con cá kiếm và chiếc thuyền của lão Xanchiagô. Ông đã chiến đấu với chúng một cách quyết liệt đến vô vọng. Cuối cùng khi lão kéo được con cá kiếm lên thì chỉ còn trơ lại bộ xương, ông kéo thuyền vào bờ và trở về lều của mình.

14. Số phận con người – SôLôKhốp

Chiến tranh kết thúc, Xôcôlốp giải ngũ. Anh không trở về quê hương, sống trơ trọi tại nhà một người bạn làm nghề lái xe. Tình cờ anh gặp bé Vania và nhận bé làm con nuôi, vì Vania có hoàn cảnh giống anh: Không gia đình, không nơi nương tựa. Tình cảm đứa bé làm anh ấm lại. Hai tâm hồn sưởi ấm cho nhau. Sau đó, Xôcôlốp rủi ro gây ra một tai nạn lái xe và bị mất bằng lái. Anh phải đổi chỗ ở để kiếm việc làm và để quên người thân. Những đêm đêm trong những giấc mơ Xôcôlốp vẫn thấy người thân hiện về và anh đã khóc trong giấc mơ. Mặc dù cuộc sống còn nhiều nỗi đau, nhiều khó khăn, anh vẫn còn niềm tin hướng về tương lai và nhất là sự trưởng thành của đứa trẻ.

1. Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp ):

4 đoạn :

Đoạn 1 : Từ đầu đến “ập vào miền Bắc” : Tư thế đứng vững mạnh, hiên ngang của dân tộc thời chống Mĩ, tác giả hồi tưởng về “giờ phút hiểm nghèo” của nước Việt Nam mới.

Đoạn 2 : Tiếp theo đến “thêm trầm trọng” : Những khó khăn mọi mặt của đất nước tưởng khó có thể vượt qua.

Đoạn 3 : Tiếp theo đến “Ba trăm bảy mươi ki-lô-gam vàng : Những biện pháp tích cực của chính quyền mới và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách của toàn Đảng, toàn dân ta.

Đoạn 4 : Còn lại : Hình ảnh Bác Hồ như sự tượng trưng cho một chính thể mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân.

2. Bắt sấu ở rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)

Truyện kể về tài bắt sấu của ông năn Hên, người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang. Nghe tin ngọn rạch Cái Tàu có cái ao sấu ” nhiều như trái mù u chin rụng ” , ông năm Hên tìm đến để bắt sấu cho dân làng ở đó. Và ông đã bắt sấu bằng… tay không ! Chỉ can một người dẫn đường đến cái ao cá sấu. Trên xuồng đi bắt cá sấu cũng chỉ có một loin nhang trần và một hũ rượu. Vậy mà , chỉ một giờ đồng hồ sau, Tư Hoạch (người dẫn đường) đã bơi xuồng về như dạo mát , kéo theo sau chiếc bè quái dị được kết bằng 45 con cá sấu còn sống nhăn, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như một khúc cây khô dài. Bà con chưa heat ngạc nhiên , khâm phục thì ở mé rừng , ông năm Hên đã xuất hiện như tướng ông thầy pháp, ” áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua, quơ lại trên tay”. Có một vẻ gì như thần bí, nhưng thực chất đây cũng là một ” nghệ sĩ tay không bắt sấu” ở rừng U Minh Hạ.

3. Mùa lá rụng trong vườn: (Ma Văn Kháng)

Chuyện xảy ra ngay trong gia đình ông Bằng , một gia đình được coi là nền nếp, luôn giữ gia pháp, gia phong nay trở nên chao đảo trước những thay đổi lớn của XH. Những con người hôm qua chấp nhận hy sinh nay lại rơi vào quyền lực của tiền tài (Lí), có người hôm qua là anh hùng nay trở nên lạc lõng ( Đông). Có người xưa là bộ đội nay trốn sang nước ngoài ( Cừ)…Nhưng cũng có những người trong gia đình giữ vững được truyền thống gia đình như ông Bằng ,chị Hoài . Chị Hoài – người con dâu trưởng gia đình ông Bằng, vợ anh cả Tường liệt sĩ- nay có gia đình riêng, nhưng vẫn gắn bó sâu sắc với gia đình nhà chồng trước. Ơ nông thôn, công việc bận rộn quanh năm , lại là chủ nhiệm hợp tác xã , mẹ của 4 đứa con , nhưng đúng chiều 30 tết , chị vẫn lên Hà Nội thăm gia đình ông Bằng và cúng tất niên cùng với bố chồng và các em. Mọi người trong gia đình đều ngạc nhiên và mừng rỡ. Ông Bằng và chị Hoài không nén được xúc động trước cuộc gặp gỡ cuối năm. Rồi cảnh cúng gia tiên nghiêm trang , thiêng liêng , sau đó là bữa cơm sum hợp gia đình chiều 30 tết đầm ấm , vui vẻ…Tất cả đã nói lên nét đẹp tình người gắn bó với nhau- dù trong hoàn cảnh nào- và cả nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc trong ngày Tết Nguyên đán.

4. Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

Nhân vật trung tâm trung truyện ngắn là cô Hiền , một người Hà Nội bình thường. Cũng như những người Hà Nội bình thường khác, cô đã cùng HN , cùng đất nước trải qua những biến động, thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách HN, cái bản lĩnh văn hoá của người HN. Cô sống thằng thắn, chân thành, không giấu giếm quan điểm,thái độ riêng của mình với mọi hiện tượng xung quanh.Thời trẻ, cô Hiền là một người tài hoa, yêu thích văn chương, giao du với đủ loại thanh niên con nhà giàu, nghệ sĩ văn nhân, nhưng khi chọ chồng cô không hề lãng main mà chọn ông anh giáo dạy cấp Tiểu học hiền lành , chăm chỉ . Cô tính toán kĩ lưỡng khi quản lí gia đình, dạy dỗ con cái từ cách ăn nói , đi đứng… sao cho thể hiện được nét văn hoá của người HN

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về niềm vui và cả những cái có phần máy móc, cực đoan của cuộc sống xung quanh: vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, theo cô chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá …. Cô tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo và đã tính là làm, đã làm là không để ý đến những đàm tiếu của thiên hạ…

Miền Bắc bước vào thời kì đương đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ. Cô Hiền dạy con cách sống “biết tự trọng, biết xấu hổ”, biết sống đúng với bản chất người Hà Nội. Đó cũng là lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra trận: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó giám đi cũng là biết tự trọng”…

+ Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ của thời kinh tế thị trường, cô Hiền vẫn là “một người Hà nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Từ chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, cô Hiền nói về niềm tin vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Các Thể Loại Văn Học Lớp 12

Để học tốt môn Ngữ văn lớp 12, mời các em tham khảo bài Các thể loại văn học lớp 12 được tổng hợp bởi Đọc Tài Liệu.

Hệ thống các thể loại văn học lớp 12 đầy đủ nhất

I. Một số thể loại văn học

Cơ sở chung để phân chia loại thể văn học là dựa vào phương thức ( cách thức phản ánh hiện thực, tình cảm của tác phẩm ).

Là phương thức tồn tại chung, là loại hình, chủng loại. Tác phẩm văn học được chia làm 3 loại: tự sự, trữ tình, trào phúng

– Là hiện thực hóa của loại, nhỏ hơn loại. – Căn cứ để phân chia đa dạng: Có khi dựa vào độ ngắn dài; đề tài; cấu trúc; tính chất mâu thuẫn; cảm hứng chủ đạo… – Có một thể loại tồn tại độc lập: Văn nghị luận (chính trị xã hội, văn hóa)

3. Kiến thức về các thể loại văn học

Thể văn có thể có nhiều loại khác nhau, theo nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ. Nhưng phần này sẽ tập trung nói về những thể văn thường xuyên xuất hiện trong các đề thi, thuộc các phong cách chức năng: sinh hoat, chính luận, báo chí, nghệ thuật. Còn các thể thuộc phong cách chức năng khoa học và hành chính – công vụ, các em có thể xem lại cụ thể trong phần nội dung Phong cách chức năng ngôn ngữ đã được Đọc tài liệu tổng hợp trước đó.

* Thần thoại

Thần thoại là truyện kể tưởng tượng về các vị thần, cong người hoặc loài vật nhằm lí giải các hiện tượng tự nhiên và xã hội theo quan niệm vạn vật đều có linh hồn.

* Truyền thuyết

Truyền thuyết là truyện kể về các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử nhằm thể thiện thái độ của nhân dân về nhân vật, sự kiện đó. Truyền thuyết thường có những yếu tố hoang đường, kì ảo nhằm giải thích hiện tượng, sự kiện lịch sử.

* Truyện cổ tích

Truyện cổ tích là truyện kể về các nhân vật quen thuộc: nhân vật mồ côi, bất hanh, người thông minh, dũng si, các con vật…. nhằm thể hiện triết lí nhân sinh: ở hiền gặp lành, ước mơ về sự công bằng, cái thiện luôn thắng cái ác. Truyện cổ tích thường có yếu tố kì ảo nhằm tạo ra tính hấp dẫn, giải quyết được các tình huống bất công, thể hiện mong muốn công bằng trong cuộc sống.

* Truyện ngụ ngôn

Truyện ngụ ngôn là truyện kể về nhân vật là loài vật, đồ vật hoặc con người. Từ đó phê phán thói hư tât xấu, gửi gắm những bài học luân lí, lời giáo huấn sâu sắc. Thể loại truyện này thường sử dụng lối nói cường điều và hàm ẩn.

* Truyện cười

Truyện cưới là truyện kể về các nhân vật là loài vật hoặc con người, nhằm tạo ra tiếng cười mua vui, giải trí, phên phán các thói hư tật xấu, đả kích cái xấu xa độc ác hoặc ca ngợi trí tuệ của con người.

* Sử thi

Sử thi là tác phẩm theo thể tự sự, có nội dung hàm chứa bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân với nhân vật trung tâm là người anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới nào đó.

* Truyện ngắn

Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi tự sứ có hình thức ngắn gọn, chủ yếu nhằm khắc họa một hiện tượng hoặc một khía cạnh của hiện thực đời sống, thường chỉ xoay quanh một, một vài nhân vật chính. Truyện ngắn có dung lượng ngắn, nên ít khi chia thành các mục. Nhân vật trong truyện thường chỉ khắc họa một phần, một mảnh của cuộc đời. Trong truyện cũng thường chỉ có một tình huống gây chú ý để từ đó nhân vật bộc lộ tính cách, tình cảm.

* Tiểu thuyết

Tiểu thuyết là tác phẩm tái hiện cuộc sống một cách phức tạp, đầy đủ, có thể phân chia nhân vật theo các tuyến hoặc theo sự kiện có quan hệ phức tạp hơn. Tiểu thuyết thường có dung lượng dài, có thể chia bố cục thành các chương, hồi, mục… Nhân vật có thể sẽ được khắc họa trọn vẹn cả cuộc đời, có nhiều tình huống, sự kiện để tạo những cung bậc thăng trầm hơn cho cốt truyện.

* Hịch

Hịch là một thể văn cổ mà các tướng lĩnh dùng để kêu gọi quân lính, nhân dân hăng hái tham gia vào các phong trào đánh giặc, tiêu diệt kẻ thù hoặc tham gia vào một mục tiêu chung nào đó.

* Cáo

Cáo là thể văn cổ để nhà vua dùng ban bố hoặc thông báo rộng khắp cho toàn thể nhân dân một chủ trương hoặc một kết quả của sự việc.

* Chiếu

Chiếu (chiếu chỉ) là thể văn cổ nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thái tử hoặc nhân dân.

* Biểu

Biểu là thể văn cổ, bề tôi dùng để dâng lên nhà vua, trong đó bày tỏ về một vấn đề nào đó với lời lẽ cung kính.

* Phú

Phú là thể văn cổ miêu tả phong cách, kể về sự việc, bàn chuyện đời, phô diễn tâm tình của tác giả.

* Thư

Thư là một thể loại văn nghị luận có từ lâu đời, viết cho một người nhận hoặc đối tượng xác định nào đó, cung cấp thông tin cho người nhận, trình bày tư tưởng, tình cảm, cách đánh giá cá nhân về vấn đề.

* Bài phên bình

Bài phên bình là thể văn bàn bạc, nhận định ,đánh giá về một tình hình, một vấn đề chính trị, xa hội hoặc tác phẩm văn chương, nghệ thuật.

* Bài xã luận

* Báo cáo

Báo cáo là thể văn nghị luận nhằm tổng kết, đánh giá về kết quả của một quá trịnh hoặc một hoạt động nào đó.

* Bút kí

Bút kí là ghi chép về con người và sự iện có thật theo trình tự nhất địn nhằm mục đích thể hiện một tư tưởng. Bút kí hạn chế đưa ra các chi tiết hư cấu, đề cao tình chân thực. Để viết được một bài bút kí hấp dẫn, cần dựa vào tài năng, trình độ quan sát và diễn đạt lại của các nhà văn.

* Kí sự

Kí sự là ghi chép lại một câu chuyện, một sự kiện có thật một cách tương đối hoàn chính và có phần ít yếu tố chủ quan của người viết.

* Tùy bút

Tùy bút ghi chép con người và sự kiện cụ thể có thực nhưng chú trọng tới việc bộc lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức của tác giả. Vì vậy tùy bút thường mang đậm yếu tố trữ tình và đánh giá chủ quan của người viết.

* Phóng sự

* Nhật kí

Nhật kí là thể loại tự sự ở ngôi thứ nhất, ghi chép theo thứ tự ngày tháng những sự việc hàng ngày mà tác giả là người trực tiếp tham gia, chứng kiến. Nhật kí được coi là thể loại độc thoại.

* Hồi kí

Hồi kí là kể lại những sự kiện, biến cố xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham gia hoặc chứng kiến. Hồi kí mang tính chủ quan và có phần phiếm diện.

* Chính kịch

Chính kịch là thể loại kịch tái hiện cuộc sống riêng của các nhân vật là người được đặt trong các mối quan hệ xã hội, có chứa đựng những mâu thuẫn.

* Bi kịch

Bi kịch là thể loại kịch khắc họa nhân vật thường là anh hùng, có hình tượng cao cả, tân tiến, đấu tranh nhưng thường nhận được các kết cục bi thảm.

* Hài kịch

Hài kịch là thể loại kịch mà nhân vật có tính cách hài hước hoặc được đặt vào các tình huống gây cười, có sự mâu thuẫn về bề ngoài và bản chất, dùng để phê phán cái xấu, cái lỗi thời trái với đạo đức.

II. Các thể loại văn học lớp 12

1. Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập

– Trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, thơ và truyện chỉ chiếm một phần nhỏ còn chủ yếu là văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị cuả Người. Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất.

– Tuyên ngôn Độc lập được viết ngày 26/8/1945 tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội. Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

– Trên thế giới, phe Đồng minh vừa thắng phát xít. Ở Việt Nam nhân cơ hội Nhật hàng Đồng minh, Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân ta tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhưng chính quyền non trẻ bị đe doạ bởi dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân Anh, Pháp, Mĩ và hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch.

– Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập để cảnh cáo, ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước đế quốc; tuyên bố khai sinh nước Việt Nam độc lập; kêu gọi khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta.

– Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.

2. Kim Lân và Vợ nhặt

– Kim Lân (1920 – 2007) là cây bút chuyên viết truyện ngắn.

– Những sáng tác của Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm hồn trong sáng, lạc quan, thật thà. Tác phẩm chính : Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962)…

Truyện ngắn Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí (1962), được viết dựa trên một phần tiểu thuyết Xóm ngụ cư.

Nội dung

– Tình cảm thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.

– Niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết.

– Tô Hoài (1920) quê Hà Nội, là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục, tập quán nhiều vùng khác nhau của đất nước.

– Văn Tô Hoài có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trãi, vốn từ vựng phong phú. Năm 1996 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941); Truyện Tây Bắc (tập truyện,1953); Miền Tây (tiểu thuyết, 1967)

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập truyện Tây Bắc, là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc

Nội dung

Cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách áp bức kìm kẹp của thực dân và chúa đất thống trị; quá trình người dân các dân tộc thiểu số thức tỉnh cách mạng và vùng lên tự giải phóng đời mình, đi theo tiếng gọi của Đảng.

4. Nguyễn Trung Thành và Rừng xà nu

Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), trong hai cuộc kháng chiến gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Những tác phẩm thành công của ông gắn với mảnh đất ấy.

– Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết “hịch thời đánh Mĩ”. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.

– Truyện ngắn “Rừng xà nu” được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965, xuất hiện lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền trung Trung Bộ, số 2 năm 1965 – năm 1969, in trong tập truyện ký “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.

– Truyện ngắn Rừng xà nu trước hết phản ánh hiện thực đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng cây xà nu.

– Qua câu chuyện bi thương của của nhân vật Tnú và cuộc nổ dậy của dân làng Xô Man, nhà văn khẳng định : dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng đấu tranyh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng.

5. Nguyễn Thi và Những đứa con trong gia đình (trích)

Nguyễn Thi:

Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong thời kì chống Mĩ. Sinh ra ở miền Bắc nhưng gắn bó máu thịt với mảnh đất miền Nam và được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Có biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo.

Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được hoàn thành vào tháng 2 năm 1966, trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt, khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

Nội dung

– Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình phản ánh hiện thực đau thương nhưng rất đỗi anh dũng, kiên cường của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ : lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình là sức mạnh tinh thần to lớn trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước.

– Tình huống truyện : Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương phải nằm lại chiến trường. Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc ngất) của “người trong cuộc” làm câu chuyện trở nên chân thật hơn ; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.

6. Nguyễn Minh Châu và Chiếc thuyền ngoài xa

– Nguyễn Minh Châu ( 1930- 1989), trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có khuynh hướng trữ tình lãng mạn.,ông là 1 trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học Việt nam thời kì đổi mới.

– Chiếc thuyền ngoài xa thuộc thể loại tác phẩm văn học Truyện ngắn, được viết 8/1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được sáu năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa, nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra.

– Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường.

Nội dung

– Qua suy nghĩ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh khi phát hiện ra mâu thuẫn éo le trong nghề nghiệp của mình; ta thấu hiểu: mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người.

– Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người không thể tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời.

7. Nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân : ( 1910-1987).

– Nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, có vị trí và đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại, đưa thể tùy bút, bút ký đạt đến trình độ nghệ thuật cao làm phong phú cho ngôn ngữ dân tộc, đem đến cho nền văn học hiện đại một phong cách văn học tài hoa, độc đáo.

Người lái đò sông Đà là tác phẩm thuộc thể loại Tùy bút. Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.

Nội dung

– Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hoá. Cảm nhận và miêu tả sông Đà Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.

8. Kịch: Hồn Trương Ba da Hàng thịt- Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này. Ở thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổi gió, sức sống mãnh liệt và khả năng sáng tạo miệt mài. Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu. Các tác phẩm chính : Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nàng Si-ta,…

– Đây là tác phẩm thuộc thể loại kịch của Lưu Quang Vũ, một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của truyện dân gian.

********

Bài 12. Cách Làm Bài Văn Biểu Cảm Về Tác Phẩm Văn Học

Người thực hiện: Đỗ Thị Thuật * Trường THCS Phú Hòa *cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học Văn bản biểu cảmĐời sống

(người, vật, cảnh)– Biểu đạt tình cảm, cảm xúc, đánh giá – Khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọcTác phẩm văn học

(Truyện, thơ, ca dao…)Tiết 50:CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌCI. TÌM HIỂU CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC Đêm qua ra đứng bờ aoTrông cá cá lặn trông sao sao mờ… Buồn trông con nhện chăng tơNhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao maiSao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ…

Đêm đêm tưởng dải Ngân HàChuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn… Đá mòn nhưng dạ chẳng mònTào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ2. Nhận xét:1. Đọc bài văn: Cảm nghĩ về một bài ca dao I. TÌM HIỂU CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC 1. Đọc bài văn: Cảm nghĩ về một bài ca dao2 . Nhận xét:

a.PHáT BI?U C?M NGHĩ V? TáC PH?M VAN H?C Là:Trình bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình về nội dung và hình thức của tác phẩm đóTiết 50:CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC1. Đọc bài văn:2. Nhận xét:3. Kết luận:b.DÀN Ý BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC-MB: Giới thiệu TP và hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm.-TB: Những cảm xúc ,suy nghĩ do TP gợi lên.-KB: Ấn tượng chung về TP.I. TÌM HIỂU CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC II-LUYỆN TẬP:1-Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ CẢNH KHUYA Gợi ý: Cảm xúc của người viết bắt nguồn từ cái gì?Từ một so sánh mới mẻ hấp dẫn(câu 1)Từ những hình ảnh quấn quít sinh động(câu 2)Từ sự hài hòa giữa cảnh và người(câu3)Từ tâm hồn cao cả của BÁC HỒ(câu 4)Trình bày dàn ý về bài thơ CẢNH KHUYA?Tiết 50:CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC

II-LUYỆN TẬP:

1-Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ CẢNH KHUYA Dµn ý:MB: Giíi thiÖu hoµn c¶nh ra ®êi cña bµi th¬, Ên t­îng ban ®Çu …TB: * C¶nh ®ªm tr¨ng ë rõng ªm ®Òm, th¬ méngTừ một so sánh mới mẻ hấp dẫn(câu 1)Từ những hình ảnh quấn quít sinh động(câu 2)* T©m hån cao c¶ cña B¸cTừ sự hài hòa giữa cảnh và người(câu3)Từ tâm hồn cao cả của BÁC HỒ(câu 4) . KB: – Bµi th¬ cã sù kÕt hîp hµi hßa gi÷a cæ ®iÓn vµ hiÖn ®¹i– ThÓ hiÖn t©m hån nh¹y c¶m tinh tÕ cña B¸cTiết 50:CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC I. TÌM HIỂU CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌCII.LUYỆN TẬP:2)Lập dàn ý bài NGẪU NHIÊN VIẾT NHÂN BUỔI MỚI VỀ QUÊ

A-MB:Giới thiệu TP và hoàn cảnh sáng tác. B-TB:Cảm xúc chủ đạo: nỗi ngạc nhiên ,buồn, cô đơn của nhà thơ sau bao nhiêu năm xa cách nay trở về quê hương.Đồng cảm với tình yêu quê hương được biêủ hiện trong hoàn cảnh đặc biệt xa lạ ngay giữa quê hương C-KB: Ấn tượng chung về TP.Tiết 50:CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC* Lưu ý:Khi làm bài phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học: – Phải dựa vào tác phẩm văn học ? Xác định những cảm nghĩ cần phát biểu ? Hình thành cảm xúc từ chi tiết, hình ảnh gây ấn tượng.– Phải có cảm xúc chân thành, kỹ năng cảm thụ nhân vật, từ ngữ dùng từ đặt câu, dựng đoạn…. – Từ cảm xúc ? phát huy trí tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng ? rút ra suy nghĩ về ý nghĩa của tác phẩm. Cảm xúc của người viết:– C?m xỳc v? c?nh, v? ngu?i trong ta?c phõ?m.– C?m xỳc v? tõm h?n con ngu?i, s? ph?n nhõn võ?t trong tỏc ph?m .– C?m xỳc v? v? d?p ngụn t? trong tỏc ph?m.– C?m xỳc v? tu tu?ng c?a tỏc ph?m.Phần thân bài của bài cảm nghĩ về tác phẩm văn học thường có nội dung nào sau đây ?BÀI TẬP TRẮC NGHIỆMGiới thiệu tác phẩm và hoàn cảnhTiếp xúc tác phẩm.Trình bày diễn biến sự việc.Những cảm xúc suy nghĩ do tác phẩm gợi lên.Ân tượngChung về tác phẩm.ABCDssĐsV. Dặn dò:-Viết hoàn chỉnh bài :” Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”.-Soạn:Tiếng gà trưaCHÀO CÁC EM VÀ THẦY CÔCHÚC SỨC KHỎE

Bạn đang xem bài viết Hệ Thống Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!