Xem Nhiều 1/2023 #️ Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11 # Top 4 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11 # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Nguyễn Đình Chiểu là một cây bút xuất sắc của văn học Nam Bộ nói riêng và văn học dân tộc nói chung. Cuộc đời ông là tấm gương lớn về ý chí và nghị lực sống, về lòng yêu nước thương dân nồng nàn tha thiết và về tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất trước kẻ thù xâm lược.

2. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời vào khoảng cuối năm 1861, đầu năm 1862, trước khi triều đình kí hoà ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho thực dân Pháp. Vào thời điểm này, thành Gia Định đã thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu lánh về Cần Giuộc. Trước thế giặc mạnh, phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Kì không tránh khỏi những thất bại nặng nề. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ra đời trong lúc đó. Nó khích lệ cao độ tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói lần đầu tiên trong văn học dân tộc, người nông dân nghĩa sĩ chống ngoại xâm đã được dựng một bức tượng đài bất tử.

II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI A.Tác giả 1.Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thi nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù. về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược. Dù bị tàn tật, ông vẫn là một thầy giáo tận tâm, là một thầy thuốc giàu y đức và là một nhà thơ xuất sắc. Ở cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình.

2. a) Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, bởi thế mà tư tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tưởng đạo đức của ông có nhiều nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hộ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Văn Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trưởng trong những nơi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dột vải,…). Tâm hồn của họ ngay thẳng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đình Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xem là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ở bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng đất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hộ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống, tiếp nhận tác phẩm cửa Nguyễn Đình Chiểu nồng nhiệt đến thế.

b. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ đại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tếTrương Định) Ông căm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Đinh đã một lòng vì nước, vì dân: Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đốn ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phải chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại.

Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đòi thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều ỵ thuật vấn đáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c. Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

3. Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của sự nhân nghĩa là quyển lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhàn dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dai của tư tưởng.

B. Tác phẩm

1. Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất. Bài văn tế thường có hai nội dung cơ bản: kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất và bày tỏ nỗi đau thương của người còn sống trong giờ phút vĩnh biệt. Âm hưởng chung của bài văn tế là bi thương, nhưng sắc thái ở mỗi bài có thể khác nhau. Văn tế cũng có những trường hợp ngoại lệ.

Văn tế có thể được viết theo nhiều thể: văn xuôi, thơ lục bát, song thất lục bát, phú,… Bố cục của bài văn tế thường gồm bốn đoạn với các tên gọi: lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. Giọng điệu chung của bài văn tế nói chung là lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán từ và những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh.

Bố cục của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

-Đoạn 1 – Lung khởi (từ “Hỡi ôi!” đến tiếng vang như mõ.”): khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết của người nghĩa binh nông dân.

-Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): miêu tả hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ qua các giai đoạn từ cuộc đời lao động vất vả đến lúc trở thành nghĩa sĩ đánh giặc và lập chiến công.

-Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): sự tiếc thương, cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người liệt sĩ.

-Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

2. a) Hai câu đầu của bài văn tế khái quát khung cảnh bão táp của thời đại – phản ánh biến cố chính trị lứn lao chi phối toàn bộ thời cuộc. Đó là cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chí chiến đấu kiên cường để bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Hiện lên trên cái nền cảnh ấy là hình ảnh của đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo ước lệ của văn học trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá. Điều đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều được chọn lọc rất tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính chất khái quát, đặc trưng cao:

Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. [..] Ngoài cật cố một manh áo vải, nào đợi mạng bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Chính với những hình ảnh trên mà bức tượng đài ánh lên một vẻ đẹp mộc mạc, ehân phất và hết sức độc đáo.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dừng hằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. […] Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho nã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Hình tượng người anh hùng nghĩa binh nông dân được khắc nổi trên cái nền một trận công đồn náo nhiệt, đầy khí thế tiến công:

Đoạn văn dùng hàng loạt những hình ảnh đối lập giữa ta và địch, giữa vũ khí thô sơ và chiến thắng lớn; dùng các động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô,…), dùng phép liệt kê để tăng cường độ (đùm ngang, chém, ngược, lướt tới, xông vào,…), nhịp câu ngắn gọn,… Tất cả tạo nên một không khí khẩn trương, sôi động, quyết liệt và đầy hào hứng.

Trên cái nền trận đánh đó là hình ảnh những người nông dân nghĩa quân coi giặc cũng như không, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ, nào sợ… đạn nhỏ đạn to,… Khí thế của họ là khí thế đạp lên đầu thù xốc tới, không quản ngại bất kì sự gian khổ, hi sinh nào, rất tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình tượng đó phần nào gần gũi với hình tượng các dũng sĩ oai hùng ở những thiên anh hùng ca thuở xưa.

Trong phần Thích thực, Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca bản chất cao quý tiềm ẩn đằng sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân, đó là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Văn chương trung đại từ xưa cho tới bấy giờ chưa có tác phẩm nào chú ý khai thác vẻ đẹp tâm hồn cao quý đó của người nông dân.

b. Về nghệ thuật, đoạn văn hầu như được xây dựng toàn bằng những chi tiết chân thực, được cô đúc từ đời sống thực tế nên có tầm khái quát cao, không sa vào vụn vặt, tản mạn. Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực ấy kết hợp thật nhuần nhuyễn với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh là sự cảm thông, là niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ bình dị mà rất tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả cao.

3. Đoạn 3 (Ai vãn) là tiếng khóc bi thiết của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Nỗi xót thương đối với người liệt sĩ, trước hết là nỗi tiếc hận cho người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, khi chí nguyện chưa thành, là nỗi xót xa của gia đình mất người thân, tổn thất không gì có thể bù đắp đối với những người mẹ già, những người vợ trẻ, là nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le hoà chung với tiếng khóc bất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc. Nhiều niềm cảm thương cộng lại thành nỗi đau sâu nặng, không chỉ ở trong lòng người mà dường như còn bao trùm cả cỏ cây, sông núi:

[…] Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lụi bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bục trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy Ị Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Có thể nói, tiếng khóc thương của nhà thơ không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người liệt sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó không chỉ gợi nỗi đau mà cao hơn còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy bi thiết, nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài bởi nó mang âm hưởng của niềm tự hào, của sự khẳng định vể ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời sau con cháu vẫn tôn thờ.

4. Bài văn tế sở dĩ có được sức biểu cảm mạnh mẽ, trước hết bởi nó biểu hiện những cảm xúc chân thành, sâu nặng và mãnh liệt của nhà thơ. Nhũng câu văn như:

Đau đớn bấy ! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay ! Vợ yêu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

có sức khơi gợi sâu xa trong lòng người đọc.

Hơn thế, bài văn tế còn có giọng điệu rất đa dạng và đặc biệt gây ấn tượng ở những câu văn bi tráng, thống thiết như:

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

Chùa Tông Thạnh nơm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Giọng văn bi thiết còn được bổ sung sức gợi cảm đáng kể bởi những hình ảnh sống động (manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, mẹ già, ngọn đèn khuya leo ìét,..).

Để làm sáng tỏ ý kiến của Giáo sư Trần Văn Giàu: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục”, có thể dẫn ra và phân tích các câu văn như:

-Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

-Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh ; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN LỚP 11- BÀI LÀM VĂN SỐ 2 TẠI ĐÂY

-Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Văn Bản Sọ Dừa Ngữ Văn Lớp 6

1.Truyện cổ tích là một loại truyện dân gian, thường có yếu tố hoang đường, thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về chiến thắng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu ; sự công bằng đối với sự bất công,… Truyện cổ tích thường kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật: nhân vật bất hạnh (người mồ côi, người con riêng, người em út, người có hình dạng xấu xí,…) ; nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ ; nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật (con vật biết nói năng, có hoạt động và tính cách như con người),…

Người ta chia truyện cổ tích làm ba loại:

-Truyện cổ tích về loài vật có nhân vật chính là các con vật, nhằm giải thích các đặc điểm hoặc thói quen, quan hệ của các con vật,… từ đó đúc kết những kinh nghiệm về thế giới loài vật và các vấn đề đạo đức, kinh nghiệm sống của con người.

-Truyện cổ tích thần kì có nhiều yếu tố tưởng tượng, thần kì .kể về người em út, người mang lốt xấu xí, ngựời mồ côi, người dũng sĩ, người có tài năng kì lạ,…

-Truyện cổ tích sinh hoạt kể về sự thông minh sắc sảo, tài phân xử của các nhân vật gắn với đời thực, có ít hoặc không có yếu tố thần kì.

2.Sọ Dừa thuộc kiểu truyện người mang lốt xấu xí – một trong những kiểu truyện phổ biến ở Việt Nam, Đông Nam Á và một số nước trên thế giới. Nhân vật của kiểu truyện này có ngoại hình xấu xí, dị dạng, thường mang lốt con vật, bị mọi người xem thường… nhưng có tài năng đặc biệt và sau đó trút bỏ lốt vật, kết duyên cùng người đẹp, sống hạnh phúc. Do vậy, có thể nói : Kiểu truyện về người mang lốt xấu xí giàu tinh thần dân chủ và nhân đạo của người xưa.

HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1.Sự ra đời của Sọ Dừa có những đặc điểm khác thường :

-Sự mang thai của bà mẹ khác thường : uống nước mưa ở cái sọ dừa bên gốc cây to.

-Hình dạng khi ra đời khác thường : không chân không tay, tròn như một quả dừa.

-Tuy hình dạng khác thường nhưng Sọ Dừa biết nói như người. Lớn lên “vẫn không khác lúc nhỏ, cứ lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được việc gì”.

Kể về sự ra đời của Sọ Dừa, nhân dân thể hiện sự cảm thông với nhân vật có số phận thấp hèn trong xã hội xừa – đó là nhân vật mang lốt xấu xí. Chính sự ra đời khác thường ấy bao hàm khả năng mở ra những tình huống khác thường để phát triển cốt truyện.

2.Những chi tiết thể hiện sự tài giỏi của Sọ Dừa :

-chăn bò rất giỏi

-thổi sáo rất hay ;

-tự tin (chăn bò, giục mẹ hỏi con gái phú ông làm vợ và lo đủ sính lễ theo điều kiện phú ông đặt ra);

-thông minh (thi đỗ trạng nguyên);

-có tài dự đoán tương lai chính xác (khi đi sứ, đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn vợ phải luôn giắt trong người).

Hình thức bề ngoài dị dạng; (tròn như một quả dừa) của nhân vật đối lập với phẩm chất bên trong (thông minh, tài giỏi). Sự đối lập này khẳng định giá trị bản chất và chân chính của con người, đồng thời thể hiện ước mơ mãnh liệt về một sự đổi đời của người xưa.

3.Cô út bằng lòng lấy Sọ Dừa vì:

-Cô út nhận biết được thực chất, vẻ đẹp bên trong của Sọ Dừa “không phải người phàm trần”.

-Cô út yêu Sọ Dừa chân thành “có của ngon vật lạ đều giấu đem cho chàng”.

Một số nhận xét về nhân vật cô út:

-Cô út “hiền lành, tính hay thương người, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế” ; khác với hai cô chị “ác nghiệt, kiêu kì, thường hắt hủi Sọ Dừa”.

-Cô út thông minh, biết xử trí kịp thời để thoát nạn (đâm chết cá khoét bụng cá chui ra, cọ đá vào nhau bật lửa, nướng cá sống qua ngày, chờ có thuyền đi qua thì gọi vào cứu”.

-Đây là con người bằng tình thương, tình yêu con người để đi đến hạnh phúc, nên xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Cùng với nhân vật Sọ Dừa, nhân vật cô út cũng thể hiện ước nguyện của nhân dân.

4.Trong truyện, Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã được trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị thì phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, người lao động thể hiện những mơ ước :

-Mơ ước về sự đổi đời : Sọ Dừa từ thân phận thấp kém,, xuất thân trong một gia đình đi ở, dị hình xấu xí… trở thành người đẹp đẽ thông minh tài giỏi và được hưởng hạnh phúc.

-Mơ ước về sự công bằng : người thông minh, tài giỏi thì được hưởng hạnh phúc, kẻ tham lam, độc ác thì bị trừng trị đích đáng.

5.Những ý nghĩa chính của truyện Sọ Dừa :

-Truyện đề cao giá trị thực chất, ca ngợi vẻ đẹp bên trong của con người, Từ đó, truyện nêu một bài học kinh nghiệm khi đánh giá con người : phải xem xét toàn diện, không chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngoài. Đó là ý nghĩa nhân bản, thể hiện đạo lí truyền thống của nhân dân.

-Truyện đề cao lòng nhân ái : “Thương người như thể thương thân”. Chính lòng nhân ái sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.

-Truyện khẳng định niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của sự công bằng đối với bất công, của tình yêu chân chính với sự tham lam, độc ác.

GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA

2.Để có thể kể diễn cảm truyện Sọ Dừa, cần lưu ý thể hiện đúng giọng kể và giọng đối thoại của các nhân vật:

-Giọng van nài của nhân vật Sọ Dừa : “Mẹ ơi, con là người đấy…tội nghiệp”.

-Giọng than phiền của người mẹ : “Con nhà người ta…chẳng được tích sự gì”.

-Giọng thuyết phục của Sọ Dừa : “Gì chứ chăn bò… đến ở chăn bò”.

-Giọng mỉa mai, kẻ cả của phú ông : “ừ, được… sang đây”.

-Giọng chống chế và khinh miệt của phú ông : “Để ta hỏi…không đã”.

Ngoài việc thể hiện chất giọng, việc ngắt lời, ngừng nghỉ để chuyển đoạn và tình huống truyện cũng là yếu tố giúp cho việc kể diễn cảm.

Xem lại hướng dẫn đọc hiểu văn bản Sự tích hồ Gươm :

Ngữ văn 6 : Bài 4 Sự tích Hồ Gươm

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Văn Bản Thạch Sanh Ngữ Văn 6

Thạch Sanh sớm mổ côi cả cha lẫn mẹ. Chàng sống lủi thủi trong túp lều cũ dưới gốc đa và gia tài chỉ có lưỡi búa của cha để lại. 

Thấy Thạch Sanh “khoẻ như voi”, Lí Thông gạ kết nghĩa anh em. Thạch Sanh nhận lời đến ở chung với mẹ con Lí Thông.

Trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, có phép lạ. Hằng năm dân phải nộp người cho nó ăn thịt. Đến lưọt Lí Thông nộp mình. Hắn nghĩ kế lừa Thạch Sanh. Thạch Sanh đã giết chết chằn tinh. Lí Thông lại lừa Thạch Sanh để chàng trốn đi rồi đem đầu chằn tinh nộp cho vua, và được phong làm Quận công.

Nhà vua có công chúa đến tuổi kén chồng. Trong ngày hội lớn, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh bắn nó bị thương và theo dấu máu, chàng biết được chỗ ở của đại bàng. Vua sai Lí Thông tìm công chúa, hứa sẽ gả con và truyền ngôi. Lí Thông nhờ Thạch Sanh giúp rồi lại lừa nhốt chàng dưới hang sâu.

Thạch Sanh giết đại bàng và cứu thái tử con vua Thuỷ Tể bị nhốt trong cũi ở cuối hang rồi xuống chơi thuỷ phủ. Chàng được tặng nhiều vàng bạc nhưng chỉ xin một cây đàn và trở về gốc đa.

Hồn chằn tinh và đại bàng trả thù, vu vạ cho Thạch Sanh để chàng bị bắt hạ ngục. Khi nghe thấy tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa đã khỏi câm. Nghe Thạch Sanh kể lại mọi chuyện, vua giao cho chàng xử tội mẹ con Lí Thông;. Chàng tha cho họ nhưng dọc đường về hai mẹ con bị sét đánh chết, hoá kiếp thành bọ hung.

Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh. Các nước chư hầu tức giận đem quân sang đánh. Thạch Sanh lấy đàn ra gảy, quân 18 nước xin hàng. Thạch Sanh nấu một niêu cơm thết đãi. Quân sĩ coi thường, nhưng ăn mãi không hết, họ kính phục Thạch Sanh và rút quân về nước.

Nhà vua nhường ngôi báu cho Thạch Sanh.

1.Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh khác thường ở chỗ :

+ Bố mẹ già mới sinh Thạch Sanh.

+ Chàng là Thái tử do Ngọc Hoàng sai xuống đầu thai.

+ Bà mẹ mang thai trong nhiều năm mới sinh ra Thạch Sanh.

+ Thạch Sanh được thiên thần dạy võ nghệ và phép thần thông.

-Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, nhân dân muốn làm cho nhân vật lí tưởng thêm kì lạ và đẹp đẽ. Nhân vật ra đời và lớn lên khác thường sẽ là người lập được chiến công lớn,

2.- Trước khi được kết hôn với công chúa, Thạch Sanh đã trải qua những thử thách :

+ Đi canh miếu và giết chết chằn tinh ;

+ Xuống hang diệt đại bàng cứu công chúa, bị Lí Thông lấp cửa hang ;

+ Bị bắt hạ ngục do hồn chằn tinh, đại bàng báo thù.

-Qua những thử thách đó, Thạch Sanh đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp. Đó là sự chất phác, thật thà, sự khoan dung, đặc biệt là lòng dũng cảm và tài năng (đánh nhau, tiêu diệt được chằn tinh và đại bàng có nhiều phép lạ).

3.Sự đối lập của Thạch Sanh và Lí Thông rất rõ rệt trong truyện :

Thạch Sanh vô tư Lí Thông vụ lợi (Lí Thông thấy Thạch Sanh khoẻ, hắn nghĩ: “Nó về ở cùng thì lợi biết bao nhiêu”).

Thạch Sanh thật thà Lí Thông xảo trá, lừa lọc (Lí Thông lừa bảo đi canh miếu Lí Thông lừa, bảo chằn tinh là do vua nuôi).

Thạch Sanh vị tha Lí Thông độc ác (Lí Thông sai lấp cửa hang).

Đây là sự đối lập giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và gian tà.

4*.- Ý nghĩa chi tiết tiếng đàn :

Tiếng đàn giúp cho Thạch Sanh được giải oan, nhờ tiếng đàn, Thạch Sanh có cơ hội vạch mặt Lí Thông. Tiếng đàn tượng trưng cho công lí.

Tiếng đàn làm cho quân sĩ mười tám nước chư hầu xin hàng. Nó tượng trưng cho sức mạnh của chính nghĩa.

-Ý nghĩa của chi tiết niêu cơm : Niêu cơm nhỏ mà mấy vạn người cũng không thể ăn hết được. Niêu cơm đãi quân sĩ thể hiện sự khoan dung, tấm lòng nhân đạo, yêu chuộng hoà bình của nhân dân ta.

5.Kết thúc truyện, mẹ con Lí Thông phải chết, Thạch Sanh được kết hôn cùng công chúa và lên ngôi vua. Qua cách kết thúc này, nhân dân ta muốn thể hiện sự công bằng : Những kẻ xấu, kẻ ác dù mưu mô xảo trá đến đâu cũng sẽ bị trừng trị; còn người hiền lành tốt bụng sẽ được sung sướng, hạnh phúc. Đây là cách kết thúc phổ biến của các truyện cổ tích. Ví dụ như truyện Sọ Dừa, Cây bút thần, Cây tre trăm đốt, Tấm Cám,…

-Thạch Sanh bên túp lều dưới gốc đa. Có thể chọn chi tiết.này vì nó thể hiện được hoàn cảnh sống của Thạch Sanh : lủi thủi, mồ côi và đơn độc. Bức tranh này có thể đặt tên : Túp lều Thạch Sanh.

-Thạch Sanh diệt chằn tinh hoặc Thạch Sanh diệt đại bàng. Có thể chọn một trong hai chi tiết này vì nó thể hiện được lòng dũng cảm và trí thông minh của Thạch Sanh. Với các bức tranh này , có thể đặt tên : Dũng sĩ Thạch Sanh.

2.Để có thể kể diễn cảm truyện này, cần kể đúng thứ tự các chi tiết ; đồng thời thể hiện rõ lời kể và ngôi kể.

Thật khó có thể tìm thấy trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam một tác phẩm vừa lớn về đề tài và nội dung, vừa phong phú về loại hình nhân vật và chặt chẽ, hoàn chỉnh về kết cấu nghệ thuật như truyện Thạch Sanh.

ở đây vừa có đấu tranh thiên nhiên chống các loài ác thú (ở trên trời “đại bàng”, ở mặt đất “chằn tinh”, trong hang động “hồ tinh”), vừa có đấu tranh giai cấp trong xã hội (giữa Thạch Sanh và Lí Thông) ; lại có cả đấu tranh dân tộc chống ngoại xâm ( với quân “mười tám nước chư hầu”) và đấu tranh cho tình yêu đôi lứa (giữa Thạch Sanh và công chúa).

Trong truyện cổ tích nói riêng cũng như truyện cổ dân gian nói chung của nước ta, có rất nhiều những nhân vật độc đáo và tiêu biểu về mặt này hay mặt khác cho trí tuệ, tài năng, tâm hồn, phẩm chất của con người Việt Nam trong những địa phương và những thời kì khác nhau của lịch sử dân tộc (Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Chử Đổng Tử, Mị Châu, nàng Tô Thị, vợ chàng Trương, cô Tấm…). Nhưng có lẽ không nhân vật nào có nhiều mặt hoạt động rộng lớn, nhiều chiến công, nhiều loại kẻ thù và nhiều tài năng, phẩm chất cao đẹp như Thạch Sanh. Có thể nói, trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng nên, Thạch Sanh là con người đẹp nhất, tiêu biểu nhất và hoàn hảo nhất.

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài Bánh Chưng,Bánh Giầy Ngữ Văn 6

1.Xem lại mục 1.1 của bài Con Rồng cháu Tiên (trang 5).

2.Bánh chưng, bánh giầy là một truyền thuyết giải thích về phong tục làm bánh chưng, bánh giầy trong dịp Tết Nguyên đán ; qua đó tác giả dân gian đề cao lòng tôn kính đối với Trời, Đất và sự biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên của mình ; đồng thời ca ngợi tài năng sáng tạo và ý thức tìm tòi, xây dựng nền văn hoá đậm đà phong vị dân tộc.

3.Tóm tắt truyện

Hùng Vương có tới hai mươi người con trai. Lúc về già, để chọn người kế ngôi, nhà vua ra điều kiện : Không nhất thiết là con trưởng, ai làm vừa y vua trong lễ Tiên vương sẽ được vua truyền ngôi cho. Các lang đua nhau làm lễ thật hậu, chỉ có Lang Liêu – người con trai thứ mười tám là buồn, vì mẹ bị ghẻ lạnh và đã mất. Không như các lang khác có thể sai người đi tìm của quý trên rừng, dưới biển, Lang Liêu chỉ quen việc trồng khoai, trồng lúa, và chàng lại nghĩ : khoai lúa tầm thường quá !

Một đêm, chàng mộng thấy thần và đựợc thần gợi ý, chàng làm ra một loại bánh hình vuông và một loại bánh hình tròn để dâng vua. Vua rất vừa ý, chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất và Tiên vương.

Vua họp mọi người lại, đặt tên bánh hình tròn là.bầnh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng và truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đấy, bánh chưng, bánh giầy là hương vị không thể thiếu trong ngày Tết.

HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1.a) Vua Hùng chọn người nối ngôi trong hoàn cảnh : đất nước thanh bình và nhà vua đã già.

b)Ý định của vua : người nối ngôi phải nối được chí của vua, không nhất thiết là con trưởng.

c)Hình thức chọn : thử tài (nhân lễ Tiên vương, ai làm vừa ý vua sẽ được truyền ngôi).

2.Trong các con vua, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ, vì :

Mẹ chàng trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm rồi chết. So với anh em, chàng là người thiệt thòi nhất.

Tuy là con vua, nhưng “từ khi lớn lên, ra ở riêng” chàng “chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai” – sống cuộc sống như dân thường.

Chàng là người hiểu được ý thần : “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo” ; đồng thời chàng tự sáng tạo để thực hiện được ý đó : lấy gạo làm bánh lễ Tiên vương.

3.Hai thứ bánh của Lang Liêu được vua cha chọn để tế Trời, Đất, Tiên vương và Lang Liêu được chọn nối ngôi vua vì:

Hai thứ bánh đó thể hiện sự quý trọng nghề nông, quý trọng sản phẩm do con người làm ra.

Hai thứ bánh đó thể hiện ý tưởng sáng tạo sâu xa : gợi hình Trời, gợi hình Đất, bao hàm phong vị cây cỏ muôn loài và tinh thần đùm bọc.

Việc vua Hùng chọn Lang Liêu nối ngôi chứng tỏ vua trọng người vừa có tài có đức vừa có lòng hiếu thảo ; đổng thời qua đó cũng đề cao phẩm chất sáng tạo của nhân dân.

4.Ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy :

Thông qua việc giải thích nguồn gốc sự vật (bánh chưng, bánh giầy), truyện đề cao trí thông minh và lòng hiếu thảo của người lao động, đề cao nghề nông.

Qua cách vua Hùng lựa chọn người nối ngôi là Lang Liêu, truyện còn thể hiện ý thức tôn kính tổ tiên, đồng thời thể hiện ý thức xây dựng phong tục tập quán trên cơ sở coi trọng những yếu tố giản dị nhưng thiêng liêng và giàu ý nghĩa của nhân dân.

GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA

1.Phong tục làm bánh chưng, bánh giầy trong ngày Tết của nhân dân ta có một ý nghĩa hết sức cao đẹp, đó là sự tưởng nhớ và tỏ lòng tôn kính tổ tiêri, đồng thời thể hiện tinh thần coi trọng nghề nông.

2.Đọc truyện, mỗi người có thể thích một chi tiết khác nhau, chẳng hạn :

Chi tiết nhà vua..gọi-các con lại và nói; ta già rồi, không sống mãi ở đời, người nối ngôi ta phải nối được chí ta, không nhất thiết phải là con trưởng. Năm nay, nhân lễ Tiên vương, ái làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên vương chứng giám” vì đây là chi tiết tạo nên sự hồi hộp cho người nghe ; nó có tính chất như câu đố trong một cuộc thi. Các “dữ kiện” đặt ra vừa rõ ràng (không nhất thiết là con trưởng), vừa hàm chứa nhiều khả năng dự đoán bất ngờ (nối được chí ta, làm vừa ý ta).

Chi tiết Lang Liêu mộng thấy thần đến bảo : “Trong đất trời, không gì quý bằng hạt gạo…” vì đây là chi tiết kì ảo có giá trị làm tăng sức hấp dẫn của truyện, đồng thời khẳng định giá trị của sản phẩm do nhân dân làm ra…

Chi tiết “Vua họp mọi người lại” rồi nói về ý nghĩa của hai loại bánh và nhận xét của vua về bánh chưng, bánh giầy thể hiện sự trân trọng khả năng sáng tạo của người lao động.

Vậy là, trong hai thứ bánh có cả .đất trời vũ trụ, cầm thú, cỏ cây, lại có cả tình người đùm bọc lẫn nhau. Thật thiêng liêng biết bao ! Bánh đã được đích thân vua Hùng đặt tên một cách trang trọng giữa triều đình cùng với lời truyền ngôi cho Lang Liêu – người anh hùng văn hoá đã sáng tạo ra loại bánh làm bằng hạt gạo – sản phẩm của nghề nông. Bánh chưng, bánh giầy đã làm cho “nước ta chãm nghể trồng trọt, chăn nuôi” và đã đi vào phong tục Tết Việt Nam từ những ngày ấy. Cho nên, tìm về Sự tích bánh chưng, bánh giầy không chỉ là tìm về nguồn gốc những thứ bánh ngon trong ngày Tết cổ truyền, mà chính là tìm về hồn thiêng cửa dân tộc. Hương vị quê hương đất nước, ý chí của cha ông đọng lại trong câu chuyện dồi dào ý nghĩa này.

Xem lại hướng dẫn đọc hiểu văn bản : Con rồng cháu tiên

Ngữ văn 6 : Bài 1 Con rồng cháu tiên

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!