Xem Nhiều 1/2023 #️ Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo ) # Top 5 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo ) # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo ) mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHẦN HAI : TÁC PHẨM I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mói của đất nước và một giai đoạn mợi của cách mạng được mở ra. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc là nơi Tố Hữu đã sống và gắn bó suốt thời kì kháng chiến, nay phải từ giã để về Thủ đô. Trong không khí lịch sử và tâm trạng khi chia tay Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu đã buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Với Tố Hữu, Việt Bắc là nơi ông đã sống và gắn bó suốt thời kì kháng chiến, nay phải từ giã để cùng cơ quan Trung ương Đảng về thủ đô. Trong không khí lịch sử và tâm trạng khi chia tay Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài Việt Bắc. Tác phẩm có độ lùi về thời gian, từ tháng 7 năm 1954 khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đến tháng 10 năm 1954, bài thơ Việt Bắc mới ra đời. Chính khoảng lùi thời gian này đã tạo điều kiện để tác giả suy ngẫm về hiện thực đất nước. Bức tranh đất nước, con người trong kháng chiến được tái hiện trong cảm hứng bao trùm là nỗi nhớ, sự hồi tưởng vể Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ mà hào hùng.

Kết cấu của tác phẩm gần gũi với kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca và có tác dụng thể hiện những tình cảm sâu lắng, tha thiết của người cán bộ cách mạng miển xuôi đối với Việt Bắc. Đây cũng là một yếu tố khiến bài thơ dễ đi vào lòng người và có sức sống lâu bền cùng thời gian.

2. Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên chân thực, sinh động và thấm đẫm ân tình. Hình ảnh mưa nguồn là một nét vẽ đặc sắc giúp người đọc hình dung đầy đủ những gian khổ của kháng chiến. Đó là cả một chặng đường kháng chiến gian khó mà con người đã vượt qua. “Miếng cơm” lại là hình ảnh gợi về một thời nhân dân Việt Bắc và người cán bộ cách mạng đồng cam cộng khổ gánh trên vai trách nhiệm với dân tộc, mối thù với đế quốc, thực dân. Tố Hữu có biệt tài trong việc gợi mở những bức tranh hiện thực bằng những câu thơ lục bát có tiểu đối.

Không gian Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi như ngưng đọng lại ở những nét đẹp quyến rũ, thơ mộng. Âm thanh tiếng mõ rừng chiều trở thành tiếng vọng của tâm hồn con người, là thanh âm đặc trưng của Việt Bắc, là nhịp đồng vọng giữa người đi và kẻ ở, đưa người đọc trở về những tháng ngày gian khổ mà tình nghĩa, vất vả mà gắn bó, đau thương mà anh hùng của dân tộc trong kháng chiến.

Thiên nhiên Việt Bắc được khắc hoạ rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn chứ không lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh mùa đông Việt Bắc đan dệt bởi nhiều màu sắc xanh, đỏ tươi, vàng và ngập tràn ánh sáng. “Ánh” là một từ rất gợi, hé mở sức sống kì diệu của cảnh và người Việt Bắc. Không thấy con người hiện hữu cụ thể nhưng chỉ qua hình ảnh “dao gài thắt lưng”, bóng dáng của người lao động hiện lên thật bình dị, cụ thể. Bức tranh mùa đông đẹp vẻ đẹp ấm áp. Hơi ấm toả ra từ trong lòng cảnh vật, từ sức sống của con người.

Mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ trên nền xanh của lá cây rừng tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng. Màu trắng tinh khiết của hoa mơ bao chiếm không gian. Hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp giản dị trong công việc lao động hằng ngày : “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Câu thơ làm sáng lên vẻ đẹp cần mẫn, bền bỉ, kiên trì trong lao động của người Việt Bắc.

Nếu mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui. Sự hoà quyện giữa âm thanh và màu sắc đã tạo nên sự độc đáo cho cảnh vật : “Ve kêu rừng phách đổ vàng”, sắc vàng của rừng phách như muốn tràn ra ngoài, ứ nhựa sống nhờ tác động của. tiếng ve. Câu thơ vẽ lên một bức tranh mùa hạ tưng bừng bởi thanh âm, màu sắc. Hình ảnh cô gái hái măng không hiện lên lạc lõng, cô đơn mà trở thành điểm nhấn cho bức tranh mùa hạ.

Hình ảnh ánh trăng mùa thu hiện lên mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm. Khúc hát ân tình vang lên trong tâm hồn thi sĩ, vọng lại từ rừng thu Việt Bắc. Cái đẹp của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp của con người.

Điều đặc biệt là bức tranh về cảnh và người Việt Bắc được nhìn bằng tất cả niềm yêu thương, nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả. Từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần. Tố Hữu đã dựng lên một bức tranh Việt Bắc giản dị, thân thuộc mà đẹp đẽ, mĩ lệ. Tài năng sáng tạo của nhà thơ đã được thể hiện tập trung ở việc dựng nên một bộ tứ bình độc đáo, hoàn chỉnh về cảnh và người Việt Bắc. Lời thơ lục bát ngọt ngào, tha thiết càng khiến nỗi nhớ trở nên thiết tha, sâu nặng.

3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến đã được Tố Hữu khắc hoạ rất rõ trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc.

– Đoạn thơ từ câu “Những đường Việt Bắc của ta” đến câu “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong kháng chiến với không gian núi rừng rộng lớn, những hình ảnh hào hùng, những bước hành quân vang dội, dồn dập, náo nức. Đoạn thơ mang đậm âm hưởng anh hùng ca, thể hiện thật đẹp khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tiết tấu của các câu thơ nhanh, manh, gợi lại không khí của những trận đánh :

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

và cả những chiến công :

Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

– Không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến, nhà thơ còn đi sâu lí giải cội nguồn sức mạnh dẫn tới những chiến công ấy. Đó là sức mạnh của lòng căm thù (“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”), của tình nghĩa thuỷ chung (“Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”) và hơn hết là sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân.

– Trong một số câu thơ của đoạn trích, nhất là những câu thơ từ “Ở đâu u ám quân thù” đến câu “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”, với những lời thơ trang trọng mà tha thiết, Tố Hữu đã khẳng định vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến. Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, đầu não của cuộc kháng chiến ; là nơi hội tụ bao tình cảm, niềm tin và hi vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước. Trong suốt cả đoạn trích, Việt Bắc hiện lên với vai trò là cái nôi che chở và nuôi dưỡng cho cách mạng và kháng chiến, là nơi Trung ương, Chính phủ và Bác Hồ vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Với tất cả những ý nghĩa đó, Việt Bắc xứng đáng là nơi cả dân tộc gửi trọn niềm tin yêu :

Nhìn lên Việt Bắc : Cụ Hồ sáng soi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

4. Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn trích nói riêng đậm đà tính dân tộc.

– Đoạn trích trong SGK là phần mở đầu của bài thơ, thể hiện niềm hoài niệm về một Việt Bắc gian khó và nghĩa tình trong kháng chiến. Tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật của đoạn trích trước hết được thể hiện ở cấu tứ của bài thơ. Đó là lối cấu tứ theo hình thức đối đáp của ca dao trữ tình . Hai nhân vật của cuộc đối đáp này là ta và mình. Đây là hình thức quen thuộc của kiểu đối đáp giao duyên truyền thống và trên cơ sở đó, bài thơ đã thể hiện được một vấn đề có ý nghĩa lớn lao : sự thuỷ chung của cách mạng với nhân dân.

– Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú trọng sử dụng những từ ngữ gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân, những từ ngữ giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện những kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Ngôn ngữ thơ trong Việt Bắc rất giàu hình ảnh (“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng”, “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, “Ve kêu rừng phách đổ vàng”,…) và giàu nhạc điệu (“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều – Chày đêm nện cối đều đểu suối xa”, “Những đường Việt Bắc của ta – Đêm đêm rầm rập như là đất rung”,…).

– V ề các biện pháp nghệ thuật, trong Việt Bắc, Tố Hữu rất thành công trong việc phát huy sức biểu cảm của các tiểu đối (“Tiếng ai tha thiết bên cồn – Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”, “Mình đi, mình lại nhớ mình – Nguồn bao nhiêu nước / nghĩa tình bấy nhiêu”,…). Nhờ sử dụng những tiểu đối này mà ý thơ của Tố Hữu chẳng những được nhấn mạnh mà nhịp thơ cũng uyển chuyển, cân xứng, hài hoà. Vì thế mà câu thơ cũng trở nên dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Việt Bắc cũng thể hiện tài năng của Tố Hữu trong việc sử dụng phép trùng điệp. Hàng loạt các câu thơ bắt đầu bằng các cụm từ như : “Mình về” (“Mình về, mình có nhớ ta”, “Mình về, có nhớ chiến khu”), “Nhớ sao” (“Nhớ sao ngày tháng cơ quan”, “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”),… đã làm cho lời thơ thêm tha thiết, ngọt ngào, dễ đi vào tâm trí người đọc.

– Sử dụng thể lục bát truyền thống, Tố Hữu không chỉ kế thừa được những tinh hoa của thể loại này mà bằng sự sáng tạo và vận dụng linh hoạt, nhà thơ đã đưa thể thơ lục bát phát triển lên một tầm cao mới.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ xưng hô ta – mình trong bài thơ.

– Cách sử dụng hai đại từ xưng hô mình, ta trong bài thơ Việt Bắc đã góp phần thể hiện chiều sâu trong tình cảm của con người. Lối đối đáp quen thuộc của ca dao tạo nên một giọng điệu ngọt ngào, sâu lắng. Lời đối đáp giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng là những bộc bạch, tâm tình khẳng định tình cảm thuỷ chung son sắt.

– Các đại từ xưng hô mình, ta được sử dụng linh hoạt, có lúc chuyển hoá lẫn nhau là một sáng tạo độc đáo của Tố Hữu trên cơ sở ảnh hưởng của thơ ca dân gian.

2. Chọn trong bài thơ hai đoạn tiêu biểu :

– Đoạn thơ về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc, có thể chọn đoạn thơ sau :

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Phân tích : Xem gợi ý câu 2 phần Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản.

Đoạn thơ về khung cảnh hùng tráng của Việt Bấc trong kháng chiến :

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đẩu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Để thấy được vẻ đẹp của đoạn thơ cũng như hình ảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến, cần tập trung phân tích những đặc điểm sau :

+ Phân tích những hình ảnh kì vĩ có tính chất sử thi thể hiện sức mạnh vũ bão của đoàn quân kháng chiến : “Đêm đêm rầm rập”, “Quân đi điệp điệp trùng trùng”, “Dân công đỏ đuốc từng đoàn”,…

+ Niềm vui chiến thắng toả rộng khắp không gian.

+ Về nghệ thuật, chú ý nghệ thúật sử dụng từ láy (rầm rập, điệp điệp trùng trùng, thăm thẳm), nghệ thuật nói quá (“Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”) thể hiện sức manh của đoàn quân anh hùng ; nghệ thuật liệt kê (các địa danh : Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, …) nhằm biểu hiện niềm tự hào, niềm vui chiến thắng.

XEM THÊM : Hướng dẫn đọc hiểu : Việt Bắc – Ngữ văn 12 ” TẠI ĐÂY “

Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản ( Tiếp Theo)

c.Có thể đặt tên cho đoạn văn với nhan đề: Mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường hoặc Sự ảnh hường của môi trường đến cơ thể sống, Cơ thể và môi trường,…

Có thế đặt cho văn bản nhan đề: về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc hoặc Giới thiệu bài thơ Việt Bắc,…

3.Viết tiếp một số câu để tạo thành một văn bản có nội dung thống nhất.

Môi trường sống của loài người hiện nay đang bị hủy hoại ngày càng nghiêm trọng. Một số nhà khoa học cho rằng nguyên nhân gây nên sự hủy hoại này là do con người không có ý thức giữ gìn môi trường. Các nhà máy, xe cộ cứ thải hàng tấn khối khí độc vào bầu khí quyển mỗi năm và thải rác xuống sông làm chết rất nhiều cá tôm, trong khi đó hiện tượng phổ biến nhất là do con người phun thuốc trừ sâu, chất độc hoá học, chất phóng xạ vào bầu khí quyển nhiều vượt quá mức báo động, nhưng việc đe doạ cao nhất đối với con người là hiện tượng xả rác bừa bãi hầu như trở thành thói quen của mọi người. Các bạn biết đấy hiện nay rác thải đa số là bao ni-lông mà chúng ta biết ni-lông không thể phân hủy, nó còn gây ra những hậu quả nặng nề như: xói mòn đất, cây cối chết dần dẫn đến hiện tượng hạn hán, lũ lụt thất thường gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Phần khác cũng đe doạ không kém đến thế giới tự nhiên là do con người khai thác rừng bừa bãi, đốt rừng để làm nương rẫy khiến cho nhiều loài thú mất nơi sinh sống có thể dẫn đến tuyệt chủng. Rất nhiều nguyên nhân đe doạ đến xã hội loài người còn tiếp tục diễn ra thì trong một khoảng thời gian nào đó thì gây ra hiệu ứng nhà kính, tầng ôzon bị thủng trái đất sẽ mất một lượng oxi lớn và sẽ không còn sự sông. Khác với các hành tinh khác trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống, bất kì ai trên thế giới này chỉ cần là con người thì phải biết nhận thức và cải tạo môi trưòng tự nhiên vì bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ chính mình. Nếu chúng ta không biết bảo vệ môi trường sống của chúng ta thì nền văn minh của con người sẽ đi vào lãng quên chúng ta sẽ tuyệt chủng như loài khủng long xa xưa. Ai trong chúng ta, tất cả mọi người hãy góp phần bảo vệ môi trường để môi trường sạch đẹp, cuộc sống sẽ tốt hơn. Mong các bạn hãy giữ gìn môi trường.

-Có thể đặt nhan đề cho văn bản là: Chúng ta đang hủy hoại cuộc sống cùa chính mình; Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính mình,…

4.Đơn xin phép nghỉ học là một văn bản hành chính.

-Đơn gửi cho cô giáo chủ nhiệm lớp. Người viết đơn ở cương vị là học sinh đề đạt nguyện vọng của mình, để cô giáo giúp đỡ.

-Mục đích viết đơn là xin cô giáo chủ nhiệm cho nghỉ buổi học buổi sáng vì bị ốm phải đi khám bệnh ở bệnh viện.

-Nội dung cơ bản của đơn là:

Xưng họ tên, nêu lí do xin nghỉ, thời gian nghỉ, lời hứa thực hiện đầy đủ các công việc học tập khi phải nghỉ học.

-Kết cấu của đơn: a.Phần mở đầu phải có đủ:

+ Tiêu ngữ (quốc hiệu)

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

+ Tiêu đề đơn: Đơn xin nghỉ học.

+ Nơi nhận đơn (người nhận đơn).

Ví dụ: Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp… trường…

b.Phần triển khai:

+ Tự giới thiệu: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, chỗ ở, trình độ văn hoá,…

+ Trình bày nguyện vọng, yêu cầu: cần viết cụ thể, rõ ràng, nghiêm túc,…

c.Phần kết thúc:

+ Lời hứa hẹn và cảm ơn của người làm đơn.

+ Ngày tháng năm viết đơn.

+ Chữ kí và ghi rõ họ tên.

+ Phần ghi chú (nếu có) sẽ viết ở góc trái, phía dưới của lá đơn.

T RƯỜNG THPT TRẦN PHÚ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

HOÀN KIẾM – HÀ NỘI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN PHÉP NGHỈ HỌC

Kính gửi: Giáo viên chủ nhiệm lớp……………………………….

Em tên là:……………………………………………………………………………………………….

Học lớp:………………………………………………………………………………………………….

Em viết đơn này xin phép được nghỉ học từ ngày………………. đến ngày…………..

Lí do:………………………………………………………………………………………………………………..

Em hứa sẽ học bài và làm bài tập đầy đủ.

Trong thời gian nghỉ học, nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Kính mong thầy (cô) xem xét, giúp đỡ em.

Em xin chân thành cảm ơn.

…. ngày…. tháng…. năm 2013

PHỤ HUYNH Người viết đơn

(Kí và ghi rõ họ tên)

-XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ DỌC HIỂU VĂN BẢN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY

– XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY TẠI ĐÂY

Theo chúng tôi

Đọc Hiểu Và Phân Tích Tác Phẩm Việt Bắc

– Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra.

– Tháng 10/1954, những người kháng chiến từ chiến khu Việt Bắc trở về miền xuôi. Trung ương Đảng và Chính phủ từ quê hương cách mạng về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Đó là một cuộc chia tay lịch sử để đưa đất nước tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới. Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc, gồm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn trích được học là phần đầu của tác phẩm.

II. NỘI DUNG VĂN BẢN 1. Kết cấu của bài thơ

– Bài thơ là lời đối đáp giữa người dân Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến từ giã Việt Bắc. Đây là cuộc chia tay mang ý nghĩa lịch sử, cuộc chia tay giữa những người đã từng gắn bó dài lâu, đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nổng, từng chia sẻ mọi đắng cay, ngọt bùi, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại bao kỉ niệm đẹp, cùng cất lên nỗi hoài niệm tha thiết vê’ những ngày đã qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước trong tương lai.

– Lời đối đáp gần gũi, thân thuộc như trong ca dao, dân ca.

– Bài thơ vì thế mà như lời tâm tình chan chứa yêu thương của những người yêu nhau.

– Trong đối đáp, Tố Hữu sử dụng đại từ ‘mình – ta” với ý nghĩa vừa là ngôi thứ nhất, vừa là ngôi thứ hai. Tình cảm chan chứa yêu thương vì thế mà như được nhân lên. Chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đến với lòng người bằng con đường của tình yêu.

– Nhìn sâu hơn vào kết cấu bài thơ thì đối thoại chỉ là lớp bên ngoài, còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại của chính nhân vật trữ tình đang đắm mình trong hoài niệm vê quá khứ gian khổ mà tươi đẹp, ấm áp nghĩa tình. Đó là nghĩa tình nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, thể hiện khát vọng vê’ tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp có thể xem là sự phân thân để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

2. Phân tích

a. Tám câu đầu: Những phút giây đẩu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở người đi.

– Bốn câu đầu: Lời ướm hỏi của người ở lại.

+ Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng gian khổ hào hùng, cảnh và người Việt Bắc gắn bó nghĩa tinh với những người kháng chiến; khẳng định tấm lòng thủy chung của mình.

+ Nghĩa tình của kẻ ở – người về được biểu hiện qua các đại từ “mình – ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đôi lứa, tạo nên sự thân mật, gần gũi. Điệp từ “nhớ” láy đi, láy lại cùng với lời nhắn nhủ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi.

+ Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó.

– Bổn câu sau: Tiếng lòng của người cán bộ vê’ xuôi.

+ Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bổn chồn, cùng với cử chỉ “cầm tay nhau” xúc động, bồi hồi đã nói lên tình cảm: chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn, lưu luyến của người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc.

+ Lời hỏi của người ở lại đã khéo nhưng câu trả lời còn khéo léo hơn thế: Không phải là câu trả lời “có” hay “không” mà là những cử chỉ. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..diễn tả thái độ nghẹn ngào không nói nên lời của người cán bộ giã từ Việt Bắc về xuôi.

+ Hình ảnh “áo chàm” – nghệ thuật hoán dụ, trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc. Rất có thể đó là hình ảnh thực, nhưng cũng có thể là hình ảnh trong tưởng tượng của người cán bộ kháng chiến, để rồi mỗi lần hình ảnh áo chàm hiện lên trong tâm trí là biết bao nỗi nhớ thân thương lại ùa về.

b. Mười hai câu tiếp theo: Gợi lại những kỉ niệm chiến khu gian khổ nhưng thắm đượm nghĩa tình.

+ Nhớ về thiên nhiên, cuộc sống, tình người Việt Bắc.

+ Nhớ cảnh thiên nhiên khắc nghiệt: Mưa nguồn, suối lũ, những mây cùng mù.

+ Nhớ nơi chiến khu đầy khó khăn, gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

+ Nhớ những sản vật miền rừng: “trám bùi”, “măng mai”.

+ Nhớ những mái nhà lá đơn sơ nhưng ấm áp tình người, tình cách mạng.

+ Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: “cây đa Tân Trào”, “mái đình Hồng Thái”.

– Nỗi nhớ ấy được thể hiện bằng những dòng thơ lục bát đậm chất dân gian, những cặp lục bát có sự phối hợp thanh điệu hài hòa. Sáu dòng lục bát tạo thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu trúc thanh bằng – trắc – bằng, tạo nên khúc nhạc điệu ngân nga trầm bổng, nhẹ nhàng, khoan thai.

– Hầu hết các câu thơ ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân xứng, hô ứng về cấu trúc, nhạc điệu: Mưa nguồn suối lủ/ những mây cùng mù; Miếng cơm chấm muối/ mối thù nặng vai… Có những cặp tiểu đối khắc ghi những sự kiện, có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc son sắt thủy chung. Người đọc như gặp lại hồn xưa dân tộc nương náu trong những trang thơ lục bát của Tố Hữu.

– Câu thơ: Mình đi mình lại nhớ mình: “nhớ mình” – tức là nhớ người ở lại nhưng cũng là nhắc nhở chính mình hãy nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đượm nghĩa tình.

c. Từ câu 25 – 42: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ mà ấm áp nghĩa tình.

– Nỗi nhớ được so sánh với nhớ người yêu: Mãnh liệt và da diết.

– Từ nỗi nhớ “như nhớ người yêu”, Việt Bắc hiện lên với những nét đẹp rẩt riêng: “trăng đầu núi”, “nắng lưng nương” cùng những tên gọi, địa danh cụ thể.

– Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại làm cho nỗi nhớ thêm ngân vang da diết. Trong kí ức của người đi còn in dấu khoảnh khắc thời gian (trăng đầu núi, nắng chiều lưng nương), từng khoảng không gian của cây, sông, suối (Nhớ từng rừng nứa… vơi đầy). Vẻ đẹp thiên nhiên nên thơ sẽ còn đọng mãi trong nỗi nhớ nhung của người ra đi.

– Tuy nhiên, da diết và đậm sâu hơn cả vẫn là nỗi nhớ về con người, về ân tình Việt Bắc: mộc mạc, giản dị mà ân nghĩa thủy chung.

+ Nhớ Việt Bắc là nhớ đến tấm lòng biết sẻ chia: Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

+ Nhớ cả những người mẹ Việt Bắc với dáng hình địu con lên nương hái bắp: Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

+ Nhưng cũng là nhớ đến đổng chí, đổng đội với bao gian nan vất vả: Nhớ sao… núi đèo.

– Việt Bắc vì thế tuy gian khổ, vất vả nhưng trong kí ức vẫn thanh bình, đẹp đẽ: Nhớ sao tiếng mõ… suối xa.

Đoạn thơ gợi ra thật rõ nét và thấm thìa khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dân của chiến khu những năm kháng chiến chống Pháp với tất cả những đường nét, âm thanh, thấm nghĩa đượm tình. Những câu thơ nói về mẹ, về trẻ thơ, về người thương yêu cất lên nghe thật trìu mến.

d. Từ câu 43 – 52: Bức tranh tứ bình vê’ thiên nhiên, con người Việt Bắc.

– Hai dòng thơ đầu là lời khẳng định nỗi nhớ thương da diết và tình cảm thủy chung của người ra đi dành cho quê hương Việt Bắc. Nỗi nhớ đã làm sống dậy trong tâm tưởng hình ảnh thiên nhiên, con người nơi chiến khu cách mạng.

– Thiên nhiên Việt Bắc đẹp trong sự đan cài với Yẻ đẹp của con người: “hoa” cùng “người”. Đoạn thơ có bốn cặp câu lục bát: câu 6 miêu tả thiên nhiên; câu 8 miêu tả con người.

Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong vẻ đẹp bốn mùa:

+ Mùa đông: Trên nền xanh bạt ngàn cây lá bỗng hiện lên sắc đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ ấy dường như làm ấm cả không gian.

+ Mùa xuân: Với sắc trắng của hoa mơ – loài hoa đặc trưng của Việt Bắc, một màu trắng miên man, tinh khiết, đẹp đến nao lòng.

+ Mùa hè: Với tiếng ve kêu vang ngân và sắc vàng của rùng phách.

+ Mùa thu: Với ánh trăng chan hòa chiếu rọi khắp nơi, đem lại không khí bình yên.

– Hình ảnh con người đã trở thành tầm điểm của bức tranh tứ bình, tạo nên sức sống của thiên nhiên cảnh vật. Những con người Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ thật thân quen, bình dị, thầm lặng trong những công việc thường nhật nên mùa đông đã trở nên ấm áp hơn với “nắng ánh dao gài thắt lưng”.

+ Bức tranh mùa xuân hòa cùng dáng vẻ cần mẫn, chút chăm của “người đan nón”.

+ Bức tranh mùa hè quá đỗi dịu dàng với hình ảnh “cô em gái hái măng một mình”.

+ Mùa thu là “tiếng hát ân tình thủy chung” của con người cẫt lên giữa đêm trăng.

– Đoạn thơ mang nét đẹp cổ điển mà hiện đại:

+ Vẻ đẹp cổ điển: Bức tranh tứ bình hiện lên qua những nét gợi tả.

+ Vẻ đẹp hiện đại: Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm, tạo nên yẻ đẹp, sức sống của bức tranh.

e, Từ câu 53 – 83: Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến, lập nhiều chiến công, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.

*Từ câu 53 – 74:

Trong hoài niệm bao trùm có ba mảng thống nhất hòa nhập, đó là: nỗi nhớ thiên nhiên – nỗi nhớ cuộc sống con người ở Việt Bắc – nỗi nhớ về cuộc chiến đấu anh hùng chống thực dân Pháp xâm lược. Theo dòng hổi tưởng, người đọc được sống lại những giây phút của cuộc kháng chiến với không gian rộng lớn, những hoạt động sục sôi khí thế được vẽ bằng bút pháp của những khúc tráng ca. Cảnh Việt Bắc đánh giặc được miêu tả bằng những bức tranh rộng lớn, kì vĩ:

– Rừng núi mênh mông, hùng vĩ trở thành bạn của ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc.

– Chiến khu là căn cứ vững chắc, đầy nguy hiểm với quân thù.

– Nghệ thuật so sánh, nhân hoá: “núi giăng thành luỹ sắt”, “rừng che”, “rùng vây”,…

– Những cái tên, những địa danh ở chiến khu Việt Bắc: “Phủ Thông”, “đèo Giàng”, “sông Lồ”, “phố Ràng”, “Cao – Lạng”… vang lên đầy mến yêu, tự hào, cũng trở thành nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về xuôi.

– Không khí chiến đấu hào hùng, khí thế hừng hực trào sôi:

+ Sức mạnh của quân ta với các lực lượng bộ đội, dân công,… sự hợp lực của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc.

+ Các từ: rầm rập, điệp diệp, trùng trùng,… thể hiện khí thế dồn dập.

+ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước cao hơn “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”.

– Chiến công tưng bừng vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà bốn phương: Vui về, vui từ, vui lên.

– Đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như ánh sáng của niềm vui tràn ngập và niềm tin vào ngày mai tươi sáng.

– Nhịp thơ dồn dập, gấp gáp, âm hưởng hào hùng, náo nức tạo thành khúc ca chiến thắng.

Đoạn thơ phác họa hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp Chính phủ trong hang núi mà vẫn rực rỡ dưới ánh cờ đỏ sao vàng trong nắng trưa và kết thúc bằng sự thâu tóm hình ảnh Việt Bắc quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù”.

3. Đặc sắc nghệ thuật

Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tiếng thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.

– Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc vẽ thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm tha thiết, gắn bó sâu sắc của tác giả.

– Tình nghĩa của người cán bộ và đổng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hổ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.

+ Thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.

+ Lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách hợp lý, tài tình.

+ Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ) được vận dụng khéo léo, tinh tế.

+ Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô “mình – ta” quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc.

4. Chủ đề

Việt Bắc là một câu chuyện lớn, một vấn đề tư tưởng được diễn đạt bằng một cảm nhận mang tính chất riêng tư. Bài thơ gợi về những ân nghĩa, nhắc nhở sự thủy chung của con người đối với con người và đối với quá khứ cách mạng nói chung. 

HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1 (2 điểm). Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bấc. Xem mục I. Câu 2. (2 điểm). Sự sáng tạo của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô “mình – ta” trong bài thơ. Xem mục II.2. a Câu 3. (2 điểm). Nhận xét về hình thức nghệ thuật đậm đà tính dần tộc trong bài thơ Việt Bắc. Xem mục II. 3 Cáu 4. (5 điểm) Đề ra theo đoạn, học sinh luyện tập theo mục II.

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn Lớp 11

(NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Nguyễn Đình Chiểu là một cây bút xuất sắc của văn học Nam Bộ nói riêng và văn học dân tộc nói chung. Cuộc đời ông là tấm gương lớn về ý chí và nghị lực sống, về lòng yêu nước thương dân nồng nàn tha thiết và về tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất trước kẻ thù xâm lược.

2. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời vào khoảng cuối năm 1861, đầu năm 1862, trước khi triều đình kí hoà ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho thực dân Pháp. Vào thời điểm này, thành Gia Định đã thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu lánh về Cần Giuộc. Trước thế giặc mạnh, phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Kì không tránh khỏi những thất bại nặng nề. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ra đời trong lúc đó. Nó khích lệ cao độ tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói lần đầu tiên trong văn học dân tộc, người nông dân nghĩa sĩ chống ngoại xâm đã được dựng một bức tượng đài bất tử.

II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI A.Tác giả 1.Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thi nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù. về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược. Dù bị tàn tật, ông vẫn là một thầy giáo tận tâm, là một thầy thuốc giàu y đức và là một nhà thơ xuất sắc. Ở cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình.

2. a) Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, bởi thế mà tư tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tưởng đạo đức của ông có nhiều nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hộ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Văn Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trưởng trong những nơi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dột vải,…). Tâm hồn của họ ngay thẳng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đình Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xem là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ở bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng đất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hộ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống, tiếp nhận tác phẩm cửa Nguyễn Đình Chiểu nồng nhiệt đến thế.

b. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ đại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tếTrương Định) Ông căm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Đinh đã một lòng vì nước, vì dân: Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đốn ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phải chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại.

Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đòi thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều ỵ thuật vấn đáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c. Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

3. Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của sự nhân nghĩa là quyển lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhàn dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dai của tư tưởng.

B. Tác phẩm

1. Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất. Bài văn tế thường có hai nội dung cơ bản: kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất và bày tỏ nỗi đau thương của người còn sống trong giờ phút vĩnh biệt. Âm hưởng chung của bài văn tế là bi thương, nhưng sắc thái ở mỗi bài có thể khác nhau. Văn tế cũng có những trường hợp ngoại lệ.

Văn tế có thể được viết theo nhiều thể: văn xuôi, thơ lục bát, song thất lục bát, phú,… Bố cục của bài văn tế thường gồm bốn đoạn với các tên gọi: lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. Giọng điệu chung của bài văn tế nói chung là lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán từ và những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh.

Bố cục của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

-Đoạn 1 – Lung khởi (từ “Hỡi ôi!” đến tiếng vang như mõ.”): khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết của người nghĩa binh nông dân.

-Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): miêu tả hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ qua các giai đoạn từ cuộc đời lao động vất vả đến lúc trở thành nghĩa sĩ đánh giặc và lập chiến công.

-Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): sự tiếc thương, cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người liệt sĩ.

-Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

2. a) Hai câu đầu của bài văn tế khái quát khung cảnh bão táp của thời đại – phản ánh biến cố chính trị lứn lao chi phối toàn bộ thời cuộc. Đó là cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chí chiến đấu kiên cường để bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Hiện lên trên cái nền cảnh ấy là hình ảnh của đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo ước lệ của văn học trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá. Điều đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều được chọn lọc rất tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính chất khái quát, đặc trưng cao:

Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. [..] Ngoài cật cố một manh áo vải, nào đợi mạng bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Chính với những hình ảnh trên mà bức tượng đài ánh lên một vẻ đẹp mộc mạc, ehân phất và hết sức độc đáo.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dừng hằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. […] Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho nã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Hình tượng người anh hùng nghĩa binh nông dân được khắc nổi trên cái nền một trận công đồn náo nhiệt, đầy khí thế tiến công:

Đoạn văn dùng hàng loạt những hình ảnh đối lập giữa ta và địch, giữa vũ khí thô sơ và chiến thắng lớn; dùng các động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô,…), dùng phép liệt kê để tăng cường độ (đùm ngang, chém, ngược, lướt tới, xông vào,…), nhịp câu ngắn gọn,… Tất cả tạo nên một không khí khẩn trương, sôi động, quyết liệt và đầy hào hứng.

Trên cái nền trận đánh đó là hình ảnh những người nông dân nghĩa quân coi giặc cũng như không, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ, nào sợ… đạn nhỏ đạn to,… Khí thế của họ là khí thế đạp lên đầu thù xốc tới, không quản ngại bất kì sự gian khổ, hi sinh nào, rất tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình tượng đó phần nào gần gũi với hình tượng các dũng sĩ oai hùng ở những thiên anh hùng ca thuở xưa.

Trong phần Thích thực, Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca bản chất cao quý tiềm ẩn đằng sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân, đó là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Văn chương trung đại từ xưa cho tới bấy giờ chưa có tác phẩm nào chú ý khai thác vẻ đẹp tâm hồn cao quý đó của người nông dân.

b. Về nghệ thuật, đoạn văn hầu như được xây dựng toàn bằng những chi tiết chân thực, được cô đúc từ đời sống thực tế nên có tầm khái quát cao, không sa vào vụn vặt, tản mạn. Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực ấy kết hợp thật nhuần nhuyễn với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh là sự cảm thông, là niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ bình dị mà rất tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả cao.

3. Đoạn 3 (Ai vãn) là tiếng khóc bi thiết của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Nỗi xót thương đối với người liệt sĩ, trước hết là nỗi tiếc hận cho người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, khi chí nguyện chưa thành, là nỗi xót xa của gia đình mất người thân, tổn thất không gì có thể bù đắp đối với những người mẹ già, những người vợ trẻ, là nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le hoà chung với tiếng khóc bất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc. Nhiều niềm cảm thương cộng lại thành nỗi đau sâu nặng, không chỉ ở trong lòng người mà dường như còn bao trùm cả cỏ cây, sông núi:

[…] Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lụi bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bục trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy Ị Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Có thể nói, tiếng khóc thương của nhà thơ không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người liệt sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó không chỉ gợi nỗi đau mà cao hơn còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy bi thiết, nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài bởi nó mang âm hưởng của niềm tự hào, của sự khẳng định vể ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời sau con cháu vẫn tôn thờ.

4. Bài văn tế sở dĩ có được sức biểu cảm mạnh mẽ, trước hết bởi nó biểu hiện những cảm xúc chân thành, sâu nặng và mãnh liệt của nhà thơ. Nhũng câu văn như:

Đau đớn bấy ! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay ! Vợ yêu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

có sức khơi gợi sâu xa trong lòng người đọc.

Hơn thế, bài văn tế còn có giọng điệu rất đa dạng và đặc biệt gây ấn tượng ở những câu văn bi tráng, thống thiết như:

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

Chùa Tông Thạnh nơm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Giọng văn bi thiết còn được bổ sung sức gợi cảm đáng kể bởi những hình ảnh sống động (manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, mẹ già, ngọn đèn khuya leo ìét,..).

Để làm sáng tỏ ý kiến của Giáo sư Trần Văn Giàu: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục”, có thể dẫn ra và phân tích các câu văn như:

-Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

-Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh ; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN LỚP 11- BÀI LÀM VĂN SỐ 2 TẠI ĐÂY

-Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo ) trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!