Xem Nhiều 2/2023 #️ Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học # Top 7 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1.Các tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học

-Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng và thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

-Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, rất giàu hàm nghĩa và gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc.

-Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, những cách thức riêng của thể loại đó.

2.Cấu trúc của các văn bản văn học

a.Tầng ngôn từ:

b.Tầng hình tượng:

Hình tượng trong tác phẩm văn học có thể là người, sự vật hay đồ vật,… Nó là phương thức để nhà văn nói lên tư tưởng của mình. Trong văn bản, nhờ những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng,… và tuỳ từng thể loại mà có sự khác nhau. Vì vậy khám phá tầng hình tượng cần có sự quan sát tinh tế cũng như cần phải huy động nhiều năng lực thẩm mĩ khác nhau.

c.Tầng hàm nghĩa:

3.Văn bản của nhà văn và tác phẩm trong tâm trí người đọc

Nhà văn là người sáng tạo ra tác phẩm, nhưng khi chưa đến tay người đọc, nó chỉ là một tập giấy có chữ, chưa ảnh hưởng gì đến xã hội. Chỉ có thông qua việc đọc thì văn bản của nhà văn mới trở thành tác phẩm. Khi ấy, hệ thống kí hiệu mới hiện lên trong tâm trí người đọc với tạt cả sự sinh động tiềm tàng vốn có của nó và cũng nhờ đó mà những giá trị của tác phẩm mới được khám phá và tiếp nhận. Tác phẩm văn học vận động theo quá trình như thế và cũng chỉ khi ấy mới có thể nói đến tác động của nó đối với cuộc đời.

II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI

1. Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết đã đi vào chiều sâu của văn bản văn học?

Gợi ý: Trong một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng gửi gắm những tư tưởng, tình cảm và thái độ của mình trước cuộc đời thông qua hình tượng. Mà hình tượng nghệ thuật của tác phẩm chính lại được hình thành từ sự khái quát của các lớp nghĩa ngôn từ. Vì thế rõ ràng nếu mới chỉ hiểu tầng ngôn từ mà chưa biết tổng hợp nên ý nghĩa của hình tượng, chưa hiểu được các ý nghĩa hàm ẩn của văn bản thì chưa thể coi là đã nắm được nội dung tác phẩm.

2. Phân tích ý nghĩa một hình tượng mà anh (chị) thấy thích thú trong một bài thơ, hoặc một đoạn thơ ngắn.

Gợi ý: Bài này yêu cầu rèn luyện kĩ năng phát hiện, phân tích và cảm thụ cái hay của hình tượng nghệ thuật. Muốn làm được điều này, cần chú ý ngay từ khi lựa chọn ngữ liệu để phân tích. Ví dụ cộ thể lựa chọn phâri tích các hình tượng: củ ấu gai, tấm lụa đào, khăn, đèn, mắt,… trong những bài ca dao mà chúng ta đã được học ở học kì I (xem Để học tốt Ngữ văn 10,tập một).

3. Hàm nghĩa của văn bản văn học là những lớp nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản được gửi gắm trong hình tượng. Ví dụ trong câu ca dao:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

khi chàng trai nói đến chuyện tre, đan sàng thì câu ca dao không chỉ mang ý nghĩa tả thực như vậy. Nó còn mang hàm nghĩa chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chỉ chuyện ướm hỏi, chuyện cưới xin.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1.Đọc các văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu à dưới.

(1) NƠI DỰA

Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia?

Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào…

Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.

Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có

Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.

Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?

Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.

Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy.

Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nổi cực nhọc gắng gỏi một đời.

Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.

(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, 1983)

a. Hãy tìm hai đoạn có cấu trúc (cách tổ chức) câu, hình tượng tương tự nhau của bài Nơi dựa.

b. Những hình tượng (người đàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già) gợi lên những suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống?

Đây là một bài thơ có hình thức giống một tác phẩm văn xuôi (chỉ khác với ngôn từ văn xuôi thông thường ở chỗ nó có ý thơ và nhịp điệu). Bài có hai đoạn gần như đối xứng nhau (về cách cấu trúc câu), nhất là sự giống nhau của câu mở đầu và câu kết của mỗi đoạn. Các nhân vật được đặt trong mối quan hệ tương phản nhằm mục đích làm nổi bật nội dung tư tưởng của bài thơ.

b. Bài thơ này có một cái tứ khá đặc biệt và rất bất ngờ. Thông thường chỉ có những người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở những người vững mạnh, ở đây, Nguyễn Đình Thi có một liên tưởng hoàn toàn ngược lại mà vẫn hợp lí, đặc biệt là phù hợp với lô gích tình cảm. Người mẹ trẻ khoẻ lại dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dạn dày chiến trận dựa vào cụ già yếu ởt đang bước từng bước run rẩy trên đường. Các hình tượng nghệ thuật trong bài thơ (người đàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già), vì thế đã gợi lên những suy nghĩ về nơi dựa. “Nơi dựa” nói theo Nguyễn Đình Thi là điểm tựa về mặt tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống. Trong thực tế, quả đúng có điều như vậy. Con người đâu chỉ tồn tại với cuộc sống vật chất đơn thuần. Họ cần có tình yêu (tình yêu đối với con cái, tình yêu đối với bố mẹ, ông bà… ). Rộng hơn, họ cần phải sống với lòng hi vọng về tương lai, với lòng biết ơn quá khứ… Chính những tình cảm này làm nên phẩm giá của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại.

(2) THỜI GIAN

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỉ niệm trong tôi

như tiếng sỏi

trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ

Riêng những bài hát

Và đôi mắt em

như hai giếng nước

(Văn Cao, Lá, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998)

a.Các câu sau đây hàm chứa ý nghĩa gì?

-Kỉ niệm trong tôi

như tiếng sỏi

trong lòng giếng cạn

-Riêng những câu thơ

Riêng những bài hát

(Đối sánh với hai câu mở đầu của bài, chú ý từ xanh)

-Và đôi mắt em

như hai giếng nước.

b.Qua bài Thời gian, Văn Cao định nói lên điều gì?

Gợi ý:

a.Bài thơ có một cái tứ rõ ràng gắn với bố cục có thể chia làm hai đoạn: bốn câu thơ đầu nói lên sức mạnh tàn phá của thời gian và ba câu còn lại nói lên những cái tồn tại vĩnh hằng. Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt (“Thời gian qua kẽ tay”), thời gian “làm khô những chiếc lá”. “Chiếc lá” ở đây rõ ràng chỉ là một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng. Chiếc lá hay chính là những mảnh đời đang trôi đi theo nhịp thời gian? Những chiếc lá khô hay chính là những cuộc đời không thể tránh khỏi vòng sinh diệt? Những chiếc lá khô, những cuộc đời ngắn ngủi và những kỉ niệm của đời người cũng sẽ bị rơi vào quên lãng (hòn sỏi rơi vào lòng giếng cạn đầy bùn cát thì chẳng có tiếng vang gì cả). Như thế cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà.

Thế nhưng trong cuộc sống vẫn có những điều tồn tại mãnh liệt với thời gian,

Riêng những câu thơ

Riêng những bài hát

Đó là nghệ thuật khi đã đạt đến độ kết tinh xuất sắc sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian, như Truyện Kiều chẳng hạn.

Bài thơ khép lại bằng câu thơ đầy xúc động;

Và đôi mắt em

như hai giếng nước.

“Đôi mắt em”: đôi mắt người yêu (kỉ niệm tình yêu); “giếng nước”: giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành. Câu kết đúng là rất giàu sức gợi. Lời thơ tự nhiên mà ý tứ thấm đượm, sâu xa. Sau này, trong bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyên Đình Thi, ta cũng gập hình ảnh đôi mắt người yêu rất đẹp:

Những đêm dài hành quân nung nấu,

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu:

b. Qua bài thơ này, Văn Cao muốn gửi đến chúng ta một thồng điệp: Thời gian có thể xoá nhoà đi tất cả, thậm chí tàn phá cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Duy chỉ có văn học nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài.

(3) MÌNH VÀ TA

Mình và ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình.

Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!

Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy.

Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành.

(Chế Lan Viên, Ta gửi cho mình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986)

a. Giải thích rõ quan niệm của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà vần (ta) ở các câu 1,2.

b. Nói rõ quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc ở các câu 3, 4.

Thơ Chế Lan Viên rất giàu chất triết lí và đây là một trong những bài thơ như thế. Chỉ có điều, cái chất triết lí ấy không phải được trình bày một cách khô khan mà trình bày bằng những hình tượng giàu tính nghệ thuật. Ví như trong hai câu đầu của bài thơ này, nhà thơ đã có một liên tưởng sâu sắc và tinh tế khi so sánh mối quan hệ giữa bạn đọc và nhà văn như hai người tri kỉ (mình với ta):

Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình.

Sâu thẳm mình ư ? Lại là ta đấy !

Đúng vậy! Thực ra chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng chính là chỗ mà người viết tìm đến khai thác và diễn tả. Nó cũng là cái đích mà người viết muốn vươn tới để sáng tạo nên những áng văn chương bất hủ, mang đậm tính nhân dân và tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc. Ngược lại, người đọc vừa là những người bạn đồng hành, vừa là người kiểm nghiệm, định giá và khẳng định hay phủ định những điều mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm văn chương.

Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy,

Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành.

Nhà thơ Chế Lan Viên lại muốn nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc. Theo đó, một tác phẩm văn chương chỉ trở thành tác phẩm văn chương thực sự khi nó đến tay độc giả. Thêm nữa, quá trình đi từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm trong tâm trí người đọc không phải là một quá trình sao chép hoàn toàn thụ động của người xem sách. Nhà văn khi sáng tác đã tự “để ra” những “khoảng trống” cho người đọc và kế độ trong quá trình tiếp nhận, người đọc lại tiếp tục phát huy tính chủ động sáng tạo của mình (từ tro nhen lên thành lửa, từ đá dựng lại nên thành). Cứ thế, tác phẩm văn chương tồn tại trong trạng thái động và có sức cuốn hút người đọc nhiều thời với nhiều thế hệ khác nhau.

XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THỀ NGUYỀN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY

Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản

VĂN BẢN I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Khái niệm văn bản

Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức.

-Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời cả văn bản còn phải được xây dựng theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng.

-Mỗi văn bản thường hướng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định.

-Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thường mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản.

3.Các loại văn bản thường gặp

Dựa vào lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau:

-Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí,…)

-Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tuỳ bút,…)

-Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học ( sách giáo khoa, tài liệu học tập, bài báo khoa học, luận văn, luận án, công trình khoa học….)

-Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ (đơn, giấy khai sinh, giây ủy quyền,…). Các loại văn bản này thường có mẫu biểu quy định sẵn về hình thức.

II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI A.Khái niệm, đặc điểm

1.Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm,., với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi.

2.Văn bản (1) đề cao đến một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè), văn bản (2) nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập tới một vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người đúng lên chống Pháp). Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghîa rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

3.Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa kiên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ “thân em”. Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn đươc nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.

-Mở bài: gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”

-Thân bài: tiếp theo đến thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

-Kết bài: phần còn lại.

4.Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “Lời kêu gọi”. Thế nên, nó có dấu hiệu hình thức riêng. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi “Hỡi đồng bào toàn quốc!” để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp.

5.Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đọi vào sự rủi may); mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

B.Các loại văn bản

1.So sánh các văn bản 1,2 với văn bản 3 (ở mục I, SGK) về các phương diện sau:

-Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị.

-Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hằng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày,…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị (kháng chiến, hoà bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc,…).

-Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung.

2.So sánh các văn bản 2,3 (ở mục I, SGK) với:

-Một bài học trong SGK thuộc môn học khác (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,…)

-Một đơn xin nghỉ học hoặc một giấy khai sinh.

a.Phạm vi sử dụng của các loại văn bản:

-Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.

-Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị.

-Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học.

-Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính.

c.về từ ngữ:

-Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật.

-Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội.

-Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học.

-Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính.

d.Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản.

-Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát.

-Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng, mạch lạc.

-Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục,.,.

-Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung.

XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (TIẾP THEO) – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY Theo chúng tôi

Hướng Dẫn Phân Tích Đọc Hiểu : Sóng

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội. Mười ba tuổi, Xuân Quỳnh được tuyển làm diễn viên múa của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương. Tại đây, Xuân Quỳnh tiếp tục học văn hoá và bắt đầu làm thơ. Từ năm 1963, Xuân Quỳnh chuyển sang làm báo, làm biên tập ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới và tiếp tục sáng tác. Năm 1988, Xuân Quỳnh mất đột ngột cùng chồng là nhà viết kịch Lưu Quang Vũ vì tai nạn giao thông tại Hải Dương.

Tác phẩm chính : Tơ tằm – Chồi biếc (in chung với cẩm Lai, 1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989),… Xuân Quỳnh còn sáng tác cho thiếu nhi, tiêu biểu là các tập truyện : Bến tàu trong thành phố, Bầu trời trong quả trứng, Vẫn còn ông trăng khác,… Mảng sách này thể hiện những tình cảm trong trẻo, trìu mến, nhân hậu và một cái nhìn hóm hỉnh, thông minh.

Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường.

2. Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh, được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Bài thơ là những nhịp đập sôi nổi, rạo rực của một trái tim yêu trẻ trung và giàu khát vọng.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Âm điệu của bài thơ Sóng lúc khoan thai, dìu dặt khi dào dạt, âm vang. Đó là âm điệu của những con sóng trên biển cả và cũng chính là nhịp của những con sóng lòng nhiều cung bậc, nhiều sắc thái cảm xúc trong trái tim của nữ thi sĩ. Âm điệu đó được tạo nên bởi hai yếu tố chính : thể thơ và ngôn từ, hình ảnh thơ. Sử dụng thể thơ năm chữ với những câu thơ ngắn, cách ngắt nhịp, phối âm đa dạng, linh hoạt, Xuân Quỳnh đã gợi lên được nhịp của sóng biển và cả nhịp điệu của những cung bậc cảm xúc trong lòng người.

2. Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục vể sóng. Có thể nói hình tượng sóng là một sự sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh trong tác phẩm này. Trong bài thơ, sóng và em hợp thành cặp hình ảnh song hành, quấn quýt. Sóng là đối tượng, là cơ sở để thi sĩ tỏ bày mọi trạng thái bí ẩn và mãnh liệt của tình yêu – thứ tình cảm muôn thuở mà không bao giờ cũ của nhân loại.

. Bài thơ tập trung thể hiện hình tượng sóng. Trong hai khổ thơ đầu, sóng là đối tượng để chia sẻ, giãi bày, cảm nhận. Những đặc điểm của sóng trong sự cảm nhận của nhân vật trữ tình có điểm tương đồng với các cung bậc của tình yêu.

Nối tiếp mạch cảm xúc ở hai khổ thơ đầu, từ khổ thơ thứ 3, hình tượng sóng trở thành đối tượng để ngẫm nghĩ, để suy tư, để truy nguyên ngọn nguồn của tình yêu và những cung bậc, trạng thái của nó.

Trong ba khổ thơ cuối, từ chỗ là đối tượng của sự suy tư, sóng trở thành khát vọng. Sóng và em song hành từ đầu bài thơ, đến đây em hoà tan vào sóng để đẩy con sóng tới chan chứa yêu thương.

3. Kết cấu bài thơ dựa trên sự tương đồng giữa tâm trạng của người phụ nữ đang yêu với những con sóng. Tác giả đã mượn những cung bậc của sóng để thể hiện những cung bậc, những nhịp điệu tâm hồn của người phụ nữ đang yêu. Hình tượng sóng được cảm nhận ở chiều sâu và bề rộng. “Con sóng dưới lòng sâu – Con sóng trên mặt nước” đều diễn tả cái thẳm sâu, vòi vợi của tình yêu con người. Cái cồn cào, khắc khoải trong nỗi nhớ của em với anh được diễn tả bằng nỗi nhớ của sóng với bờ, trong một nhịp điệu xao xuyến, da diết. Nhớ chính là một thuộc tính của tình yêu. Mượn hình ảnh con sóng nhớ bờ để diễn tả nỗi nhớ anh không cùng của Sóng không ngủ hay là em thao thức, sóng nhớ bờ hay là trái tim em bồi hồi, xao xuyến vì anh ?

Tình yêu luôn có sự vận động như những con sóng xô bờ. Tình yêu khiến trái tim của người phụ nữ luôn luôn xao động với những nhung nhớ, hờn giận, buồn vui. Người phụ nữ yêu bằng cả trái tim nên nỗi nhớ trong tình yêu cũng được biểu hiện da diết, thường trực, ám ảnh. Thức trong mơ là trạng thái kì lạ của tâm hồn người con gái khi yêu, là sự biểu hiện của tình yêu mãnh liệt, thuỷ chung.

Biển không bao giờ vắng sóng cũng như khát vọng tình yêu của con người là vĩnh cửu. Dù muôn vời cách trở, sóng vẫn tìm đến bờ cũng như em luôn nghĩ về anh, hướng đến anh. Bờ là điểm đến của sóng và anh là điểm đến của tình em. Những cung bậc tha thiết của trái tim người phụ nữ trong tình yêu đã được Xuân Quỳnh gửi gắm trong những nhịp xôn xao của sóng.

4. Bài thơ Sóng là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Có thể hình dung rất rõ điều đó qua các cung bậc tình cảm của nhân vật trữ tình được biểu hiện trực tiếp qua hình tượng sóng.

Bài thơ mở đầu bằng việc khám phá các cung bậc của sóng (“Dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ”) để rồi câu thơ cho người đọc hình dung về hình ảnh một người con gái đang yêu đang bộc bạch lòng mình một cách táo bạo và đáng yêu. Từ chuyện của sóng, câu thơ chuyển tự nhiên sang chuyện tình yêu, từ đối tượng để cảm nhận, sóng giờ đây trở thành đối tượng để người con gái đang yêu giãi bày và suy tư. Dòng suy tư bắt đầu bằng nỗi băn khoăn, trăn trở, khát khao tìm đến ngọn nguồn của tình yêu. Nhưng thiên nhiên bí ẩn đôi khi còn có thể cắt nghĩa được, còn tình yêu thì : “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân Diệu).

Không cắt nghĩa được ngọn nguồn, nguyên nhân của tình yêu, nhân vật trữ tình tìm về để vừa trăn trở, vừa say sưa với những cung bậc tình yêu muôn thuở, đó là nỗi nhớ và sự thuỷ chung. Phần hai của bài thơ đã diễn tả thật sâu sắc và tinh tế những cung bậc cảm xúc của một trái tim phụ nữ đang yêu. Ở đó, có sự đam mê, khao khát nhưng đẹp nhất là sự dâng hiến – vẻ đẹp thánh thiện của người phụ nữ trong tình yêu.

Tinh yêu là đề tài muôn thuở của thơ ca. Thơ tình yêu là nguồn nhựa sống dào dạt chảy mãi đến muôn đời. Những bài thơ tình hay nhất bất tử với thời gian và sống mãi trong tâm hồn nhiều thế hệ bạn đọc. Xuân Quỳnh đã góp một tiếng thơ độc đáo viết về tình yêu bằng giọng thiết tha, đằm thắm, đầy nữ tính. Thơ tình Xuân Quỳnh là những nhịp đập nồng nàn của một trái tim yêu tha thiết dội lên từ tâm thức một người phụ nữ nhiều khao khát, lắm mê say. Cái mới mẻ, hấp dẫn của thơ Xuân Quỳnh chính là sự chân thành, nồng nhiệt mà binh dị, táo bạo mà đầy nữ tính. Tinh yêu gắn liền với sự thuỷ chung, dâng hiến và hướng tới sự bền vững, vĩnh hằng. Người ta thấy trong thơ Xuân Quỳnh một tình yêu mãnh liệt, một tâm hồn tự nguyện gắn bó, hiến dâng và thuỷ chung son sắt. Xuân Quỳnh đã thể hiện được những đặc điểm, cũng là vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Sức sống của bài thơ cũng bắt nguồn từ đó.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Tìm những câu thơ so sánh tình yêu với sóng và biển trong các bài thơ sau : Biển của Xuân Diệu, Biển của Nguyễn Thị Hồng Ngát, Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh, Chùm nhỏ thơ yêu của Chế Lan Viên,…

XEM THÊM : Hướng dẫn phân tích, đọc hiểu : Đò lèn – Ngữ văn 12 ” TẠI ĐÂY ”

Hướng Dẫn Đọc Hiểu Văn Bản : Sự Tích Hồ Gươm Ngữ Văn 6

KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1.Tóm tắt truyện

Nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh nhưng nhiều lần bị thua. Đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần.

Lê Thận đánh cá ba lần đều bắt được thanh sắt, nhìn kĩ lại dưới mồi lửa mới nhận ra là thanh gươm. Một hôm Lê Lợi đến nhà Lê Thận, thanh gươm sáng rực lên, trên đố có khắc chữ “Thuận Thiên”, nhưng không ai biết đó là báu vật. Một lần bị giặc đuổi, Lê Lợi chạy vào rừng, bắt được chuôi gươm nạm ngọc trên cây đa. Ông đem về tra vào lưỡi ở nhà Lê Thận thì vừa như in, mới biết đó là gươm thần.

Từ khi có gươm, nghĩa quân chiến thắng liên tiếp, đuổi hết quân xâm lược.

Một năm sau khi thắng giặc, Lê Lợi đi thuyền chơi hồ Tả Vọng. Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại gươm. Lê Lợi trả gươm. Từ đó hồ mang tên Họ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

Việc trả gươm giải thích tên gọi mới của hồ Tả Vọng và nói lên mơ ước được sống trong hoà bình, không phải dùng vũ khí chiến tranh của nhân dân ta.

HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1.Đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần vì:

-Giặc Minh đô hộ nước ta, chúng làm nhiều điều bạo ngược, nhân dân ta căm thù chúng đến tận xương tuỷ.

-Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc nhưng thế lực còn yếu nên nhiều lần bị thua.

-Đức Long Quân muốn cho nghĩa quân thắng giặc. 

2.- Lê Lợi không trực tiếp nhận được thanh gươm.

+ Đầu tiên là người đánh cá Lê Thận thả lưới bắt được gươm. Khi Lê Lợi đến nhà Lê Thận thì lưỡi gươm “sáng rực lên”. Trên gươm có hai chữ “Thuận Thiên”. Nhưng không ai biết đó là báu vật.

+ Khi Lê Lợi bị giặc đuổi, thấy “ánh sáng lạ”, ông bắt được chuôi gươm nạm ngọc trên cây đa.

+ Tra lưỡi gươm ở nhà Lê Thận vào chuôi gươm này thì “vừa như in”.

+ Lê Thận nâng gượm lên, dâng cho Lê Lợi.

-Cách Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm có ý nghĩa :

+ Sức mạnh của thanh gươm thần là sức mạnh tập hợp, từ vùng sông nước đến vùng rừng núi, từ miền xuôi đến miền ngược.

+ Mỗi bộ phận của gươm ở một nơi nhưng khi khớp lại thì “vừa như in”, thể hiện sự thống nhất nguyện vọng, ý chí chống giặc của toàn dân tộc.

+ Chữ “Thuận Thiên” trên lưỡi gươm nhấn mạnh tính chất chính nghĩa, hợp lòng người, hợp.lòng trời của nghĩa quán Lam Sơn.

3.Sức mạnh của gươm thần thể hiện ở chỗ :

-Từ khi có gươm, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng, quân Minh bạt vía.

-Từ bị động trốn tránh, nghĩa quân chủ động, xông xáo tìm giặc.

-Gươm thần mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, tiêu diệt và đuổi hết bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi đất nước.

4*. – Khi đất nước đã thanh bình, Lê Lợi đã lên ngôi vuạ và dời đồ về Thăng Long thì Long Quân đòi lại gươm.

-Cảnh đòi gươm và trả lại gươm diễn ra trên hồ Tả Vọng.

+ Nhà vua ngự thuyền rồng dạo chơi trên hồ, Long Quân sai Rùa Vàng, lên đòi lại gươm.

+ Khi Rùa Vàng nhô lên, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người động đậy. Rùa nổi tiếng người : “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”. Nhà vua trả gươm, Rùa Vàng đóp lấy lặn xuống nước. “Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hổ xanh”.

5.Ý nghĩa của truyện Sự tích Hồ Gươm :

-Truyện giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, nhưng cũng nói lên nguyện vọng của nhân dân ta muốn sống trong hoà bình, hạnh phúc, không phải dùng vũ khí chiến tranh.

6*. Truyền thuyết khác của nước ta cũng có hình ảnh Rùa Vàng là An Dương Vương (một phần của truyện này là truyện Mị Châu, Trọng Thuỷ).

Hình ảnh Rùa Vàng trong truyền thuyết của Việt Nam tượng trưng cho khí thiêng của sông núi, tình cảm và trí tuệ của nhân dân. Rùa Vàng trong truyện Sự tích Hồ Gươm là sứ giả của Long Quân, thể hiện tình cảm và trí tuệ, khát vọng hoà binh của dân tộc.

Xem lại hướng dẫn đọc hiểu Sơn tinh, Thủy tinh :

Ngữ văn 6 : Bài 3 Sơn tinh,Thủy tinh

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!