Xem Nhiều 1/2023 #️ Lập Biên Bản Khi Tố Tụng Hình Sự Là Gì # Top 5 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lập Biên Bản Khi Tố Tụng Hình Sự Là Gì # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lập Biên Bản Khi Tố Tụng Hình Sự Là Gì mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về biên bản quy định:

Bởi mang tính chất văn bản pháp lý, có thể được sử dụng nhiều lần trong toàn bộ quá trình tố tụng nên một đặc điểm của biên bản tố tụng hình sự là phải được lập bởi những người có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

Cách thức lập một biên bản tố tụng được quy định chặt chẽ trong khoản 2 điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để tránh việc người lập biên bản thực hiện một cách tùy tiện làm ảnh hưởng đến tính chính xác của biên bản. Khoản 2 điều 95 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

“Biên bản phiên tòa phải có chữ ký của chủ tọa phiên tòa và Thư ký Tòa án. Biên bản các hoạt động tố tụng khác phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định trong từng trường hợp. Những điểm sửa chữa trong biên bản cũng phải được xác nhận bằng chữ ký của họ”.

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng quy định về trình tự, cách thức lập biên bản tố tụng được Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cụ thể, chi tiết hơn nhiều so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Điều đó là hoàn toàn hợp lý bởi thực tế cho thấy trong thời gian vừa qua một lượng lớn biên bản tố tụng được lập một cách sơ sài, thiếu trách nhiệm cũng bởi thiếu những quy định cụ thể.

Chủ thể lập biên bản phải là người tiến hành tố tụng trực tiếp tham gia vào thực hiện hoạt động tố tụng đó bởi:

– Thứ nhất, người lập biên bản phải là người tiến hành tố tụng, họ là những người được các cơ quan tiến hành tố tụng trao quyền tiến hành tố tụng vậy nên để đảm bảo quyền lực nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như giá trị pháp lý của biên bản tố tụng thì chỉ những người này mới có quyền lập biên bản ghi lại nội dung của các hoạt động tố tụng.

– Thứ hai, người lập biên bản phải là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động để bảo đảm tính khách quan của các biên bản đó. Rõ ràng rằng, người lập biên bản phải là người trực tiếp thực hiện hoặc có mặt tại nơi diễn ra các hoạt động tố tụng thì mới có khả năng ghi nhận một cách đầy đủ và chính xác nhất của những thông tin có giá trị trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng. Hơn nữa, việc đó cũng tạo điều kiện để xác định trách nhiệm của người lập biên bản bởi chính họ là người tiến hành hoặc chứng kiến sau đó ghi nhận lại vào biên bản nên họ phải là người chịu trách nhiệm cao nhất với tính chính xác của nội dung biên bản.

Có rất nhiều loại biên bản tố tụng được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 như: ở bước đầu tiên của quá trình tố tụng thì có biên bản tiếp nhận yêu cầu hay biên bản ghi nhận lời khai ban đầu( điều 146), trong giai đoạn điều tra thì có biên bản điều tra (điều 178), biên bản hỏi cung bị can (điều 184), biên bản ghi lời khai của người làm chứng (điều 187); giai đoạn xét xử thì có biên bản phiên tòa (điều 258), biên bản nghị án (điều 259) và rất nhiều loại biên bản tố tụng khác nữa.

Từ những phân tích ở trên có thể thấy, trong suốt quá trình tố tụng vụ án hình sự, có rất nhiều biên bản tố tụng khác nhau. Những biên bản này sẽ được những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền lập theo đúng những trình tự, thủ tục luật định khi có yêu cầu phải ghi nhận lại nội dung của các hoạt động tố tụng. Những yêu cầu này có thể xuất hiện sau khi một hoạt động tố tụng kết thúc để tóm tắt lại quá trình thực hiện và kết quả đạt được hoặc được lập khi có sự xuất hiện của những yếu tố mới như bằng chứng, lời khai…có thể ảnh hưởng đến quá trình tố tụng.

Nói tóm lại, biên bản tố tụng có vai trò quan trọng, là công cụ đắc lực để các cơ quan chức năng thực hiện hoạt động cũng như là kênh thông tin để những người tham gia tố tụng có thể theo dõi quá trình tố tụng vụ án hình sự.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Tố Tụng Hình Sự Là Gì?

Những mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tố tụng hình sự là các mới quan hệ giữa: cơ quan và người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, giữa các cơ quan và người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng được pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh, trong đó quy định các quyền và nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như của người tham gia tố tụng.

Căn cứ vào “Phạm vi điều chỉnh” của Bộ luật tố tụng hình sự, ta có thể thấy các giai đoạn của tố tụng hình sự như sau:

– Giai đoạn 1: tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

– Giai đoạn 2: Khởi tố, điều tra

– Giai đoạn 3: Truy tố

– Giai đoạn 4: Xét xử

II. Các giai đoạn của Tố tụng hình sự

1. Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Theo điều 144 BLTTHS:

“Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng”

– Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

Bộ Luật TTHS quy định cơ quan điều tra, viện kiểm sát và cơ quan khác được giao nhiệm vụ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. (Điều 145 Bộ luật TTHS)

Sau khi kết thúc giai đoạn giải quyết tín báo, tố giác về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định: khởi tố vụ án hình sự; không khởi tố vụ án; tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Điều tra là giai đoạn mà trong đó cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự.

Về thời hạn điều tra quy định tại điều 172 BLTTHS:“Không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.”

Các trường hợp gia hạn điều tra được quy định chi tiết trong điều 172 BLTTHS

-Về thời hạn truy tố, điều 240 BLTTHS quy định:

Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.

Điều 240. Thời hạn quyết định việc truy tố

Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:

a) Truy tố bị can trước Tòa án;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

– Xét xử sơ thẩm

Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Giai đoạn chuẩn bị xét xử (điều 276, 277 BLTTHS)

Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.

Thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án phức tạp có thể gia hạn thời hạn xét xử không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Sau khi kết thúc giai đoan chuẩn bị xét xử, thẩm phán ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án

– Xét xử phúc thẩm

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

+ Thời hạn kháng cáo (điều 333)

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

+ Thời hạn kháng nghị (điều 337)

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Nhật Bản

Hệ thống pháp luật Nhật Bản là kết quả học hỏi pháp luật phương Tây về mặt hình thức nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống của Nhật Bản. Tùy theo từng thời kỳ, Nhật Bản tiếp nhận pháp luật của Pháp, Đức, Mỹ để sáng tạo ra hệ thống pháp luật của riêng mình. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự Nhật bản cho thấy trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp Nhật Bản thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai thì pháp luật Nhật Bản đã du nhập nhiều chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và cách thức tổ chức Tòa án trong pháp luật của Hoa Kỳ. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự của Nhật Bản gắn liền với sự phát triển của hệ thống tư pháp hình sự, có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn I. Từ thế kỷ 19, Nhật Bản tiến hành chính sách cách tân đất nước, chuyển từ thể chế quân chủ sang thể chế dân chủ. Vào khoảng năm 1868, để đảm bảo duy trì an ninh trật tự sau khi chính quyền Mạc phủ Edo tan rã, Hoàng đế Minh Trị học hỏi mô hình luật hình sự của Trung Quốc. Sau đó, Nhật Bản áp dụng mô hình pháp lý Châu Âu nhằm tạo vị trí bình đẳng của Nhật trong các Hiệp định ký kết với các nước Châu Âu. Vào thời kỳ này, hệ thống common law (luật bất thành văn) của Anh – Mỹ rất xa lạ với Nhật Bản, do đó Nhật Bản tiếp cận và nghiên cứu hệ thống pháp luật Pháp. Năm 1873, Nhật bản mời giáo sư Boissonade từ Trường Đại học Tổng hợp Paris giúp cho việc soạn thảo các bộ luật nội dung và tố tụng cả dân sự và hình sự và kết quả đã ban hành Bộ luật hướng dẫn hình sự vào năm 1880, có hiệu lực vào tháng 01 năm 1882, theo đó chế định Công tố viên theo mô hình của Pháp du nhập vào Nhật Bản. Công tố viên thực hiện truy tố tội phạm, phù hợp với việc phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật, với mục đích chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt thích hợp với kẻ phạm tội (Điều 1). Công tổ viên thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm, yêu cầu Thẩm phán kiểm tra tội phạm và áp dụng các điều khoản theo quy định cùa pháp luật, chỉ đạo việc thi hành lệnh hay quyết định của Tòa án và bảo vệ lợi ích công của Tòa án. Thẩm phán được trực tiếp thu thập chứng cứ ban đầu (Điều 34). Trong thời gian sau đó, hệ thống tư pháp Nhật Bản bắt đầu bị ảnh hưởng của Đức. Năm 1890, Luật tổ chức Tòa án được ban hành dựa trên dự thảo của người Đức tên là Rudorff, theo đó xác định, Công tổ viên cũng có quyền giám sát hoạt động của Thẩm phán, đại diện cho quyền lợi công trước Tòa án (độc quyền truy tố), và đây là nền móng để phát triển hệ thống công tố Nhật Bản. Vào năm 1893, Nhật Bản xây dựng Hiến pháp mới dựa trên Hiến pháp Đức và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cũng dựa theo mô hình của Đức. Bộ luật này gần như sao chép toàn bộ nội dung của Luật tố tụng hình sự Pháp, tuy nhiên không quy định chế định Bồi thẩm đoàn như ở Pháp vì cho rằng chế định đó không phù hợp với Nhật Bản lúc bấy giờ. Năm 1913, Nhật ban hành Luật về thủ tục rút gọn, theo đó Công tố viên có thể trực tiếp xử phạt bị can mà không cần đưa ra Tòa xét xử nhằm giảm thời gian và chi phí cho quá trình tố tụng.

Đến năm 1922, BLTTHS sửa đổi được ban hành và có hiệu lực năm 1924. BLTTHS này được áp dụng đến Đại chiến thế giới II với mô hình tố tụng hình sự chuyển từ mô hình của Pháp sang mô hình của Đức, theo đó mô hình tranh tụng được chuyển theo mô hình của Đức, quan tòa là người chủ tọa, dẫn dắt cuộc họp, giải quyết tranh luận. Nhưng điểm khác của mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng hình sự của Đức là chế định tùy nghi truy tố của Công tố viên Nhật Bản. Theo quy định của BLTTHS này thì Công tố viên có nhiệm vụ điều tra, cảnh sát thực hiện yêu cẩu của Công tố viên; cơ chế xem xét ban đầu trong quá trình tra được giao cho Thẩm phán (đối với một số vụ án cụ thể hoặc một số tội phạm đặc biệt, các biện pháp điều tra đặc biệt do Thẩm phán quyết định). Tuy nhiên, trong thực tiễn, do cơ quan cảnh sát không phải lúc nào cũng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vi phạm quyền con người và để tránh sự độc quyền của Tòa án, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan công tố được giám sát hoạt động điều tra và bác bỏ cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán.

Giai đoạn II: Từ năm 1945, chiến tranh thế giới thứ II, Nhật chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ. Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc ban hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự: Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo có quyền được mời luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo. Hiên pháp mới dẫn đến sự ra đời của BLTTHS mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm 1949) và được áp dụng cho đến nay. BLTTHS mới trong quá trình soạn thảo có sự giúp đỡ tích cực từ phía Hoa Kỳ và phản ảnh rõ nét quan điểm pháp luật tố tụng Hoa Kỳ, thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tranh tụng, điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, hạn chế trong việc chấp nhận chứng cứ gián tiếp. BLTTHS của Nhật Bản được soạn thảo theo khuôn mẫu của BLTTHS Mỹ ngoại trừ chế định xét xử có Bồi thẩm đoàn. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong quá trình tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy vậy, vai trò của Thẩm phán Nhật Bản cũng khác với vai trò Thẩm phán Mỹ. Nhờ không tiếp thu chế định bồi thẩm của Mỹ mà các thẩm quyền của Thẩm phán Nhật Bản rộng hơn thẩm quyền của các Thẩm phán Mỹ. Trong thủ tục tố tụng, có sự thay đổi phương thức thẩm vấn nhân chứng theo kiểu tố tụng đối kháng.

Kết cấu của Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy tố tụng hình sự Nhật Bản theo mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc sâu xa từ nguyên tắc tranh tụng của pháp luật Hoa Kỳ, thể hiện rõ qua việc chuyển từ nguyên tắc thẩm quyền sang áp dụng nguyên tắc đương sự, việc thay đổi quan hệ giữa tư pháp và kiểm sát trong vận dụng tư pháp hình sự bằng các quy định: Đảm bảo tính độc lập của Tòa án – Tòa án không được xem tài liệu của cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra do cơ quan công tố và cảnh sát tiến hành, việc xem xét quyết định trong quá trình điều tra giao cho Thẩm phán. Vai trò tích cực trong tố tụng thuộc về Thẩm phán trước đây được trao cho Công tố viên và Luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ tranh luận với luật sư trước Tòa. Luật sư có quyền bình đẳng trong việc đề xuất tài liệu và tranh luận với Công tố viên tại phiên tòa. Hạn chế vai trò của Tòa án, cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán bị xóa bỏ và quyền này được trao cho cơ quan điều tra. Tòa án đóng vai trò vị trí trung lập, lắng nghe tranh luận và đưa ra kết luận về các chứng cứ rồi tuyên án. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn nhất giữa tổ tụng hình sự Nhật Bản với tố tụng hình sự Hoa Kỳ là BLTTHS Nhật Bản không quy định về chế định bồi thẩm. Ở Mỹ, Bồi thẩm đoàn quyết định bị cáo có tội hay không có tội, còn tội danh và hình phạt thuộc thẩm quyền quyết định của Thẩm phán. Tuy nhiên, Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia luận tội khi bị cáo chối tội, nếu bị cáo nhận tội thì áp dụng thủ tục rút gọn, Thẩm phán sẽ quyết định hình phạt.

Trong khi đó, theo BLTTHS Nhật Bản thì cho dù bị cáo nhận tội, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường theo nguyên tắc tranh tụng và sau đó Thẩm phán quyết định hình phạt. Trước khi xét xử, Công tố viên chỉ chuyển cho Tòa án bản cáo trạng, không chuyển hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án chỉ chuyển cho Thẩm phán khi bắt đầu phiên tòa. Trong thực tiễn, các bên tranh tụng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ rất cẩn thận trước khi đưa ra tòa. Việc xem xét và tranh luận về các chứng cứ, tài liệu một cách công khai trong phiên tòa tạo điều kiện cho Thẩm phán xét xử công bằng và khách quan.

Quan hệ giữa cơ quan tư pháp cảnh sát – công tố – Tòa án đã có sự thay đổi. Theo quy định cũ thì cảnh sát giúp việc cho cơ quan công tố, cơ quan công tố chịu trách nhiệm điều tra. Quan hệ này là quan hệ trên – dưới.

Vai trò Công tố viên được cường theo nguyên tắc tranh tụng. Cơ quan công tố có trách nhiệm lập cáo trạng, đưa ra chứng cứ để chứng minh sự buộc tội. Tòa án chỉ xét xử, không điều tra như trước đây. Công tố viên tiến hành điều tra, giám sát hoạt động và quyền truy tố hoặc không truy tố.

Giai đoạn III. Từ đầu những năm 2000 cho đến nay, Nhật Bản đã có những nỗ lực để cải cách tư pháp về tố tụng hình sự. Chủ trương cải cách tư pháp của Nhật Bản xuất phát từ hiệu quả xét xử trên thực tế kông cao, thời gian nhiều phiên tòa xét xử còn kéo dài do không ít vụ án phức tạp, nghiêm trọng đã không chuẩn bị lập luận được đầy đủ; nội dung xét xử cũng khó hiểu đối với người dân, làm mất niềm tin của người dân đối với tư pháp. Năm 1999, Hội đồng tư vấn cải cách chế độ tư pháp đặt dưới chính phủ được thành lập đã kiến nghị kiện toàn và tăng tốc việc xét xử hình sự và hoàn thiện chế độ người dân tham gia vào thủ tục phiên tòa hình sự (hội thẩm nhân dân), thực hiện xét xử với trọng tâm là lập luận. Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 Luật tố tụng hình sự và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi BLTTHS với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết các yêu cầu thực tiễn.

II. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH TỔ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

1. Mục tiêu và phương pháp của tố tụng hình sự

Điều 1 BLTTHS Nhật Bản quy định: “mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với vụ án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân”. Như vậy, mục tiêu tố tụng hình sự Nhật Bản yêu cầu xác định sự thật khách quan, bảo đảm công lý (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng thẩm vấn hướng tới) đồng thời bảo đảm quyền con người, duy trì phúc lợi công (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng tranh tụng hướng tới). Từ đó, tố tụng hình sự Nhật Bản sử dụng phương pháp của cả hai hệ thống tố tụng tranh tụng và thẩm vấn, vừa áp dụng nguyên tắc tranh tụng, đồng thời chú trọng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Nghiên cứu tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy rõ tính chất tranh tụng qua hàng loạt quy định về yêu cầu và xác định chứng cứ chứng minh, kiểm tra nhân chứng, vị trí bình đẳng như nhau của các bên tranh tụng, nguyên tắc chỉ gửi bản cáo trạng nhằm loại bỏ thành kiến của Tòa án khi xét xử, giới hạn xét xử của Tòa án chỉ trong phạm vi buộc tội mà Công tố viên đưa ra và việc tranh tụng của các bên, vị trí độc lập của Tòa án đối với các bên… Bên cạnh đó, một số nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn cũng được sử dụng như việc đương nhiên xác minh chứng cứ của Tòa án, xét xử không có Bồi thẩm đoàn, Tòa án có thể điều hành việc kiểm tra bằng chứng theo thẩm quyền của mình khi xét thấy cần thiết. Trong quá trình xét xử, nếu xét thấy hợp lý Tòa án có thể bổ sung hoặc thay đổi lý do, thay đổi điều khoản áp dụng hình phạt.

2. Vai trò của các chủ thể tham gia tố tụng

Vấn đề xác định mô hình tố tụng hình sự phải trên cơ sở xem xét toàn diện không chỉ ở mục tiêu, phương pháp tố tụng mà còn về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn các chủ thể tham gia tố tụng và mối quan hệ của các chủ thể này trong cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Luật tố tụng hình sự Nhật Bản phân chia quá trình tố tụng hình sự thành 4 giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử, giai đoạn truy tố và giai đoạn thi hành án, trong mỗi giai đoạn đều xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể tham gia tố tụng. Giai đoạn điều tra có sự tham gia của ba cơ quan là cơ quan cảnh sát, Viện công tố và Tòa án. Cơ quan Cảnh sát và Viện công tố tiến hành điều tra phát hiện tội phạm, Tòa án ban hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện công tố. Giai đoạn truy tố gắn liền chỉ với vai trò cơ quan công tố và Công tố viên với quyền tùy nghi truy tố. Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với Công tố viên. Những hoạt động tố tụng tại phiên tòa do Thẩm phán điều khiển. Sau khi nghe các bên tranh luận, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ và rút ra kết luận rồi tuyên án. Giai đoạn thi hành án được bắt đầu khi bản án có hiệu lực (sau 2 tuần kế từ khi tuyên án). Cơ quan công tố có quyền ra quyết định thi hành án và giám sát việc thi hành án. Các trại cải tạo chịu trách tổ chức lao động cải tạo và quản lý phạm nhân.

Như vậy, trong năm chủ thể gia tố tụng thì cảnh sát, luật sư, thi hành án đóng vai trò quan trọng trong một giai đoạn tố tụng, Tòa án đóng vai trò quan trọng không chỉ ở giai đoạn xét xử mà cả giai đoạn điều tra, chỉ có Viện công tố là cơ quan duy nhất có vai trò quan trọng suốt cả quá trình tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Công tố viên không chỉ có “độc quyền truy tố” mà có thẩm quyền điều tra tội phạm, giám sát việc thi hành các quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án hình sự và thực hiện những công việc theo quy định của pháp luật với tư cách là người đại diện cho lợi ích công.

3. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn điều tra

Theo quy định của BLTTH, cơ quan có thẩm quyền điều tra chính ở Nhật gồm Cơ quan điều tra của cảnh sát (Cảnh sát tư pháp) và Viện công tố.

3.1. Cảnh sát tư pháp

Cảnh sát tư pháp có nhiệm vụ tiến hành điều tra và thu thập chứng cứ khi có tội phạm xảy ra (Điều 189, Điều 190 BLTTHS). Thẩm quyền điều tra của cảnh sát được phân thành hai loại: Điều tra chung và điều tra đặc biệt. Điều tra chung do lực lượng cảnh sát cấp khu vực tiến hành đối với các loại tội phạm hình sự thông thường như giết người, cướp, trộm cắp tải sản. Điều tra đặc biệt do cơ quan điều tra thuộc các Bộ, ngành tiến hành đối với những vụ án xảy ra trên các lĩnh vực chuyên ngành đó, chẳng hạn như điều tra các tội phạm trên biển, điều tra các tội phạm về rừng, điều tra các tội phạm về ma túy… Theo quy định của Luật tố tụng hình sự có 14 chủ thể có thẩm quyền điều tra đặc biệt gồm: Nhân viên các trại giam, nhân viên cảnh vệ Hoàng gia, nhân viên của cơ quan quản lý rừng, cán bộ địa phương có trách nhiệm kiểm soát việc săn bắn, thanh tra tiêu chuẩn lao động, thanh tra lao động trên biển, thuyền trường và các thủy thủ, nhân viên bảo vệ an ninh biển, nhân viên kiểm soát ma túy, Giám sát viên công tác mỏ, Giám sát viên ngư nghiệp, Quân cảnh của lực lượng phòng vệ, giám sát viên thuế quốc gia, thanh tra bưu điện. Ngoài ra còn có 5 cơ quan có thẩm quyền điều tra hành chính một số loại tội nhất định (ban đầu nhằm xác định chinh xác hành vi vi phạm, sau khi kết thúc các thủ tục điều tra người bị tình nghi phạm tội thì không gửi hồ sơ sang Viện công tố Nhật Bàn mà phải làm thủ tục tố cáo sang Viện công tố. Các thủ tục về tố tụng hình sự chính thức do Viện công tố quyết định). Các cơ quan này bao gồm: Ủy ban giám sát giao dịch chứng khoán, Ủy ban giao dịch lành mạnh, Tổng cục tín dụng, Cục bảo hiểm tiền tiết kiệm,… Ở lĩnh vực điều tra này, ngoài kiến thức pháp luật, nghiệp vụ điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đó.

Hoạt động điều tra chung của cảnh sát và của cơ quan điều tra đặc biệt đều phải tuân thủ trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì cơ quan công tố với tư cách là cơ quan chỉ đạo hoạt động điều tra sẽ quyết định cơ quan nào tiến hành điều tra đối với từng vụ việc cụ thể.

3.2. Công tố viên

Quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành các hoạt động điều tra cũng giống như quyền hạn của cảnh sát tư pháp, bao gồm quyền bắt giữ, khám xét và tịch biên, lưu trữ hồ sơ, kiểm tra các đối tượng, kiểm soát việc giao nhận và thu chặn các thông tin đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin. Ngoài ra Công tố viên có các quyền hạn đặc biệt riêng gồm: Yêu cầu phê chuẩn việc tạm giam, lệnh thả đối tượng tạm giam, lấy lời khai của nhân chứng.

Mối quan hệ giữa cảnh sát – công tố trong hoạt động điều tra là quan hệ hợp tác và phối hợp với nhau, mỗi bên có quyền năng pháp lý độc lập của mình. Song Công tố viên có vai trò chỉ đạo “điều khiển chung” các hoạt động điều tra của cảnh sát, thậm chí ra chỉ thị cho cảnh sát. Trường hợp Viện công tố trực tiếp điều tra, nếu thấy cần thiết, Công tổ viên ra lệnh cho cảnh sát và yêu cầu họ trợ giúp rong việc điều tra. Cảnh sát phải tuân theo sự chỉ đạo và chi huy của Công tố viên (Điều 193 BLTTHS).

3.3. Thẩm phán

Thẩm phán cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình điều vụ án thông qua việc ban hành các lệnh bắt, giữ, trả tự do hoặc tạm giam. Để kiểm tra hoạt động điều tra của cảnh sát, hạn chế việc lạm dụng quyền hạn và xâm phạm quyền của công dân trong quá trình điều tra, BLTTHS quy định 2 hệ thống kiểm tra là kiểm tra của Công tố viên và Nguyên tắc lệnh của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam, trả tự do cho bị can, truy tố hoặc đình chỉ vụ án. Về nguyên tắc, không ai bị bắt nếu không có lệnh của Thẩm phán ngoại trừ bắt quả tang và bắt khẩn cấp. Việc khám xét, thu giữ, kiểm tra ngoài nơi bắt giữ chỉ thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán. Chứng cứ sẽ không được chấp nhận nếu vi phạm nguyên tắc lệnh.

4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tổ và Công tố viên trong tố tụng hình sự

Hoạt động công tố thể hiện bằng những hoạt động tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm, đưa vụ án ra Tòa bằng bản cáo trạng, trình hồ sơ, tài liệu chứng cứ trước Tòa để buộc tội bị cáo. BLTTHS không quy định về tiêu chuẩn thu thập chứng cứ để truy tố. Về mặt lý thuyết, Công tố viên có thể truy tố vụ án khi chưa đầy đủ chứng cứ. Tuy nhiên trong thực tế một Công tố viên không bao giờ truy tố bị can khi chưa có đủ chứng cứ. Công tố viên chi truy tố bị can khi anh ta chắc chắn rằng người bị tình nghi sẽ bị Tòa án kết tội. Tuy nhiên, với quyền “độc quyển truy tố” Công tố viên lại có quyền đình chỉ vụ án, không truy tố thậm chí cả khi vụ án đó có đủ chứng cứ đảm bảo chắc chắn rằng bị can có tội. Việc quyết định truy tố hoặc không truy tố của Công tố viên trên cơ sở cân nhắc các yểu tố về tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có sự kiện phạm tội (Điểu 248 BLTTHS).

Việc truy tố phải được quyết định bằng bản cáo trạng và gửi đến Tòa án. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi cáo trạng đến Tòa án mà không gửi hồ sơ. Khi bắt đầu vào phiên tòa thì Công tố viên chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quy định này nhằm bảo đảm cho Thẩm phán không bị thiên lệch trong việc nghiên cứu, điều tra chứng cứ để kết luận về vụ án.

Như vậy, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Công tố viên Nhật Bản so với các hệ thống tố tụng trên thế giới, có thể thấy rõ 3 điểm khác biệt cơ bản như sau:

Một là, Công tố viên trực tiếp và chủ động tham gia các hoạt động thu thập chứng cứ một cách trực tiếp thể hiện thông qua việc tiến hành thẩm vấn người bị tình nghi và nhân chứng. Thông thường, việc điều tra do các nhân viên cảnh sát tư pháp tiến hành và Công tố viên kiểm tra lại việc điều tra sau khi tiếp nhận vụ án. Công tố viên có thể tự mình tiến hành điều tra khi thấy cần thiết, có quyền chỉ đạo nhân viên cảnh sát trong việc điều tra hoặc hợp tác với nhân viên cảnh sát trong việc điều tra.

Hai là, Công tố viên tiến hành truy tố chỉ khi việc kết án chắc chắn được đưa ra. Công tố viên độc quyền truy tố, cá nhân không được phép thực hiện việc truy tố.

Ba là, Công tố viên có quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố theo nguyên tắc tùy nghi truy tố. Ngay cả khi không có nghi ngờ gì về tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể lựa chọn việc không truy tố (quy định này đối lập với nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ tố tụng thẩm vấn).

5. Bị cáo và quyền bào chữa của bị cáo

Quyền bào chữa, quyền được giúp đỡ về pháp lý là quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Bị cáo, người bị tình nghi và người đại diện của họ có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào (Điều 30). Người bào chữa có thể là luật sư hoặc bất kỳ người nào có chuyên môn pháp lý, công tâm, không trái ý bị cáo, được bị cáo nhờ hoặc Công tố viên, Tòa án chỉ định. Đại diện pháp lý, người giám hộ, vợ hoặc chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của bị can, bị cáo có thể độc lập chỉ định người bào chữa hoặc giúp đỡ cho bị cáo vào bất kì thời điểm nào và phải nộp đơn tại mỗi cấp xét xử.

Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp: Bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 20 tuổi); bị cáo từ đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo là người câm, người điếc hoặc khi nghi ngờ bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nhận thức và trường hợp cần thiết khác mà bị cáo yêu cầu nhà nước chỉ định người bào chữa, về nguyên tắc trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có mức hình phạt tử hình, tù khổ sai, chung thân hoặc tù có thời hạn tối đa từ ba năm trở lên đều phải có luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không có khả năng thuê luật sư thì Công tố viên hoặc Thẩm phán phải chỉ định luật sư cho họ.

Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi luật sư nếu có lý do chính đáng. Nhưng nếu lý do bị cáo đưa ra không có căn cứ thì Tòa án vẫn tiếp tục xét xử nhằm tránh việc hạn chế quyền bào chữa của bị cáo nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa việc bị cáo lợi dụng quy định được thay đổi luật sư để trì hoãn việc xét xử.

Nhật Bản quy định Công tổ viên, bị cáo và người bào chữa có vị trí bình đẳng trong quá trình tham gia tố tụng. Do bị cáo là người không có chuyên môn pháp lý và không có bất kỳ quyền hạn gì để thu thập bằng chứng trong giai đoạn điều tra nên Luật tố tụng hình sự quy định họ có một số quyền để bảo đảm được bình đẳng về phương diện pháp lý: Quyền có luật sư biện hộ, quyền yêu cầu chỉ định một Luật sư biện hộ chính thức, quyền được liên lạc và phỏng vấn, quyền giữ im lặng… Bên cạnh đó, bị cáo có nghĩa vụ hợp tác như nghĩa vụ có mặt tại Tòa án, ở lại tòa và giữ trật tự tại Tòa (các điều 301, 36, 39, 3111).

Bị cáo và luật sư biện hộ có địa vị bình đẳng với Công tố viên và đưa ra những lập luận chống lại cáo buộc của Công tố viên. Bị cáo có địa vị bình đẳng với Công tố viên trong việc thu thập tài liệu, đưa ra chứng cứ chứng minh, tham gia các hoạt động để thu thập bằng chứng. Bị cáo, người bào chữa có quyền tham gia các hoạt động khám xét, thu giữ, yêu cầu và kiểm tra chứng cứ, chất vấn nhân chứng, tranh luận về bắt buộc chứng minh chứng cứ, phản đối việc kiểm tra chứng cứ. Bị cáo cũng có quyền yêu cầu nhập các vụ án để xét xử, chuyển vụ án, quyền đưa ra quan điểm phản bác, quyền được tiếp nhận các văn bản của Tòa án, yêu cầu thay đổi ngày xét xử (các điều 113-1, 142, 157, 2981, 30411, 308, 3091, 8, 191, 21, 49, 276-lBLTTHS).

6. Mối quan hệ buộc tội – bào chữa – Tòa án và nguyên tắc xét xử tranh tụng

6.1. Mối quan hệ luật sư bào chữa với Công tố viên

Công tố viên và luật sư bình đẳng với nhau về quyền độc lập thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ tại phiên tòa và Tòa án tạo điều kiện cho hai bên thực hiện quyền đó.

6.2. Nguyên tắc xét xử tranh tụng và quan hệ các bên

Thẩm phán có vai trò như một trọng tài, có quyền đưa ra phán quyết công bằng trên cơ sở bằng chứng mà Công tố viên và luật sư bào chữa đưa ra. Điều này được bảo đảm trên nguyên tắc loại trừ định kiến, chỉ đệ trình cáo trạng. Nội dung cáo trạng được trình lên Thẩm phán hết sức ngắn gọn và cô đọng, chỉ bao gồm tên và những thông tin khác về nhân thân của bị cáo, những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố, tội danh. Việc nắm giữ và xử lý tài liệu điều tra được giao cho Công tố viên nhằm tránh không để Thẩm phán bị tác động bởi kết quả điều tra trong việc ra phán quyết.

Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên chịu trách nhiệm chứng minh theo nguyên tắc tranh tụng, chỉ đệ trình cáo trạng. Thẩm phán xét xử công bằng và không định kiến. Trước khi bắt đầu phiên tòa, các Thẩm phán chỉ được đọc cáo trạng. Tất cả các tài liệu và chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra do Công tố viên giữ và lựa chọn, trình lên Tòa án với tư cách là bằng chứng theo quyết định của Công tố viên.

Về mặt lý thuyết, Tòa án có quyền xử tội danh nhẹ hơn tội danh mà Viện công tố đã truy tố song trên thực tế, Tòa án vẫn cần có sự đồng ý của Công tố viên. Trong quá trình chứng minh tại phiên tòa, khi xét thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn thì Công tố viên thay đổi cáo trạng, nếu không Tòa sẽ yêu cầu Công tố viên làm điều đó. Trong trường hợp này Tòa án phải hoãn phiên tòa để tạo điều kiện cho Công tố viên thay đổi cáo trạng và không gây hại đến quyền bào chữa của bị cáo (Điều 312 BLTTHS).

Thủ tục xét xử được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng. Công tố viên và bị cáo, luật sư có quyền tranh tụng về bằng chứng đưa ra. Bị cáo có quyền giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét xử hoặc từ chối trả lời những câu hỏi có tính chất riêng tư. Các bên có quyền bác bỏ việc kiểm tra bằng chứng, bác bỏ biện pháp do Thẩm phán chủ tọa đưa ra. Công tố viên hoặc bị cáo có thể kháng cáo. Tuy nhiên, việc xét xử không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn, và đây là điểm khác biệt của tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng xét xử tranh tụng (các điều 308, 311, 351).

Việc thẩm vấn các nhân chứng và bị cáo của Thẩm phán chỉ là phụ. Tòa án có thể thay đổi lịch xét xử, thay đổi chủ tọa phiên tòa, hạn chế việc thẩm vấn và lấy lời khai, tạm hoãn và mở phiên tòa mới.

Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn truy tố và xét xử do Công tố viên quyết định, không áp dụng trong giai đoạn điều tra. Điều kiện áp dụng thủ tục này là loại tội có hình phạt tiền và mức phạt tiền không quá 5000 Yên, phải có sự đồng ý của bị can, không áp dụng đối với trường hợp bị can phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng hoặc có nhân thân xấu (có nhiều tiền án, tiền sự hoặc sau khi phạm tội không chịu khắc phục hậu quả hay không bồi thường thiệt hại).

7. Vai trò của người bị hại

Nếu người bị hại có yêu cẩu, Tòa án sẽ xét xử vụ án có thể cho phép người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên toà nếu việc đó là cần thiết để người bị hại thực hiện quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Quyết định của Tòa về việc chấp nhận hoặc từ chối cho người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên tòa được giải quyết theo thủ tục hành chính và do vậy không thể bị chống án lên Tòa án cấp trên.

Một số nhận xét

Từ mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp đối tụng mà tố tụng hình sự sử dụng, địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử,… có thể nói mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản mang đặc trưng cơ bản của tố tụng tranh tụng, mặc dù ngay trong nguyên tắc đặc trưng nhất của tố tụng tranh tụng đã có những yếu tố của hệ tố tụng thẩm vấn như xét xử tranh tụng không có Bồi thẩm đoàn, nguyên tắc tùy nghi truy tố, giới hạn xét xử, vai trò của Công tố viên trong giai đoạn điều tra…

Khác với tố tụng hình sự Hoa Kỳ, tố tụng hình sự Nhật Bản vận dụng nguyên tắc điều tra chính xác trên cơ sở áp dụng luật chứng cứ, không truy tố nếu khà năng có được phán quyết có tội không cao và chế độ xét xử không có bồi thẩm. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn mà Nhật Bản đã tiếp thu và thể hiện trong mô hình tố tụng hình sự của mình. Với mô hình tố tụng hình sự vừa có tính chất của hệ tố tụng tranh tụng, vừa mang đặc điểm của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn, tố tụng hình sự Nhật Bản đã đạt được mục đích “làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng tội phạm trong khi vẫn xem xét đầy đủ việc duy trì phúc lợi công và bảo đảm nhân quyên đối với từng cá nhân”.

Theo đánh giá của chuyên gia Nhật Bản thì hệ thống tố tụng hình sự hiện tại của Nhật Bản có sự kết hợp giữa luật lục địa có nguồn gốc từ Pháp, Đức và tư tưởng của thông luật từ Hoa Kỳ. Hệ thống xét xử nhấn mạnh hơn vào nguyên tắc tranh tụng. Các Thẩm phán có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quy định về chống định kiến nhằm ngăn ngừa bất cứ suy đoán nào trước khi xét xử. Công tố viên chịu trách nhiệm thực hành quyền công tố, đồng thời đại diện cho lợi ích công. Do đó với việc ra đời của các khái niệm về tư pháp mới như nguyên tắc độc quyền truy tố của nhà nước, nguyên tắc độc quyền truy tố của Công tố viên và truy tố tùy nghi, các Công tố viên đã có vai trò tư pháp cao hơn trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự.

Có thể nói pháp luật Nhật Bản đương đại là sự kết hơp đặc biệt của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản đã khôn khéo trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật nước mình. Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của thế giới, không một hệ thống pháp luật nào có thể tồn tại và phát triển tách biệt hoàn toàn với hệ thống pháp luật khác, nhưng cần tìm hiểu, nghiên cứu để xem xét, tiếp thu trên cơ sở đánh giá tính phù hợp của các chế định đó với các điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước. Mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống pháp lý đất nước, có tính khả thi và có hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo chân lý khách quan, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản.

2. Sổ tay Kiểm sát viên hình sự Nhật Bản.

3. Tố tụng hình sự so sánh – Bản dịch của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

4. Các bài giới thiệu của chuyên gia Nhật Bản về hệ thống các cơ quan tư pháp Nhật Bản và mô hình Viện công tố Nhật Bàn tại các cuộc hội thảo do Dự án quốc tế cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và các nguồn khác.

Sự Khác Nhau Giữa Tố Tụng Dân Sự Và Tố Tụng Hình Sự

Sự khác nhau giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự. Sự khác nhau giữa tố tụng cạnh tranh, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự?

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Tố tụng cạnh tranh, tố tụng dân sự hay tố tụng hình sự, về bản chất là là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng trong một hoạt động xét xử về một sai phạm hay tranh chấp nào đó.

Thứ nhất, về tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lí vụ việc cạnh tranh. Tố tụng cạnh tranh thực chất chỉ bao gồm thẩm quyền và thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh. Khác với các loại tố tụng khác, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh khi chúng đáp ứng hai điều kiện cần và đủ sau:

– Một là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định cạnh tranh;

– Hai là bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Chủ thể tham gia tố tụng cạnh tranh là những tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, bao gồm:

– Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.

– Người tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Thành viên hội đồng cạnh tranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên điều trần.

Chủ thể trong tố tụng dân sự là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, bao gồm: cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trong đó:

– Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự là cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Thành phần của các cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án.

– Người tiến hành tố tụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án và chấp hành viên.

– Người tiến hành tố tụng dân sự là người tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc hỗ trợ tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Những người tham gia tố tụng gồm: Đương sự, ngưởi đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người định giá tài sản.

Thứ ba, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng các cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, góp phần vào giải quyết vụ án hình sự theo quy định của bộ luật hình sự.

Chủ thể tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Toà án. Những người tiến hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Bạn đang xem bài viết Lập Biên Bản Khi Tố Tụng Hình Sự Là Gì trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!