Xem Nhiều 1/2023 #️ Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 # Top 3 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học Trung Đại là một bộ phận quan trọng của văn học dân tộc. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình ở trường phổ thông và là phần mở đầu cho nền văn học viết của dân tộc. Nếu văn học dân gian, ở không ít tác phẩm tiếng Việt còn mộc mạc, giản dị, thì ở nhiều tác phẩm văn học trung đại, ngôn từ đã đạt mức điêu luyện, tinh xảo, đặc biệt với những tác phẩm văn học thể hiện lòng yêu nước, chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, mỗi câu chữ, giọng văn, thể văn đều thể hiện thống thiết tính dân tộc sâu sắc. Biểu hiện cao nhất của tính dân tộc là lòng yêu nước. Mỗi văn bản thời trung đại được viết ra đều nhằm một mục đích duy nhất là giáo dục, định hướng con người đồng nhất cao nhất về đoàn kết dân tộc, mà biểu hiện của nó, cụ thể hơn bao giờ hết thể hiện khi Tổ Quốc lâm nguy. Giọng văn hùng hồn, dõng dạc, đĩnh đạc, nhiệt huyết của người viết.Yêu nước bằng những việc làm hiện hữu. Mỗi người thể hiện yêu nước bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhỏ- lớn tùy vào khả năng, điều kiện. Thời Trung Đại, yêu nước chủ yếu gắn liền với bảo vệ núi sông, lập công danh bằng những chiến công hiển hách. Tuy nhiên, yêu nước cũng lập công danh bằng khoa bảng. Bác Hồ đã nói: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Tức là, với từng đối tượng cụ thể, trong từng hoàn cảnh cụ thể, cần có biện pháp giáo dục tinh thần yêu nước phù hợp để tinh thần yêu nước đó biến thành hành động cụ thể, góp phần 2

xây dựng và phát triển đất nước. Việc làm này được bắt đầu từ tầng lớp thanh thiếu niên; biến những bài học cụ thể thành lòng yêu nước thực sự trong tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam, tiếp nối truyền thống yêu nước ngàn năm của lịch sử dân tộc. Hiện nay, giáo dục lòng yêu nước trong điều kiện mới không nên đi theo lối cũ. Phải thay đổi tư duy, đề cao sự cởi mở, thẳng thắn, trao đổi nhiều chiều; kết hợp thuyết phục với khơi gợi. Trong thời kì hội nhập, ảnh hưởng của tư tưởng, lối sống cho riêng mình, lấy lợi ích cá nhân làm lẽ sống thì càng cần phải giáo dục lòng yêu nước tích cực hơn, sát sao hơn nữa. Tiếp thu những tinh hoa của thế giới nhưng cũng phải biết phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc. Hơn nữa, việc dạy và học các môn khoa học xã hội còn nảy sinh biết bao nhiêu câu chuyện bi hài, làm thầy cô giáo chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc. Sự yếu kém, thờ ơ, lạnh nhạt của học sinh đối với các bộ môn xã hội ngày càng gia tăng, ít nhiều đã và đang bào mòn, suy giảm lòng đam mê, tâm huyết của đội ngũ giáo viên dạy các môn xã hội. Trong khi đó, các môn khoa học tự nhiên, như Toán, Lý, Hóa ngày càng có nhiều ưu thế hơn, được hầu hết học sinh các cấp coi trọng hơn, dồn gần hết thời gian và công sức để học tập các môn đó. Phải chăng là kiến thức chuyên môn cũng như cách dạy của thầy cô giáo dạy môn xã hội không bằng thầy cô giáo dạy các môn tự nhiên?Thực tế, nguyên nhân này xem ra không mấy thuyết phục, vì chưa chắc các môn tự nhiên học sinh coi trọng, học nhiều là có đội ngũ giáo viên tốt hơn, giỏi hơn. Căn nguyên sâu xa của nó, theo tôi suy nghĩ, chủ yếu do những nguyên nhân sau đây: – Nhiều học sinh (kể cả phụ huynh) còn xem thường các môn khoa học xã hội, luôn cho nó là môn phụ, môn học chỉ cần thuộc bài, môn chẳng mấy quan trọng, nên không cần phải tư duy, suy nghĩ gì, học hành sơ sơ hoặc qua loa cũng chả sao. Số đông học sinh khi lên cấp học trên có xu hướng học lệch, học một cách thực dụng, thi gì học nấy. Vì coi trọng việc học và thi các môn khoa học tự nhiên thì cơ hội vào ngành, nghề sẽ hết sức rộng rãi và hấp dẫn.

3

Còn coi trọng việc học các môn khoa học xã hội thì cánh cửa vào ngành, nghề rất hẹp, không sư phạm thì tổng hợp, báo chí chứ biết chạy đâu, vả lại khi ra trường, làm việc thuộc các ngành khoa học xã hội, cuộc sống vật chất không dễ dàng gì, nhiều khi rất lao đao, vất vả. Trước sức cuốn hút mạnh mẽ của cơ chế thị trường, mọi người đua nhau làm giàu, đâu phải lúc để cho những suy ngẫm về dân tộc. Mặt khác, những điều tốt đẹp, đạo lí cao cả, tính nhân văn sâu sắc là những vật trìu tượng không nhìn thấy… trong khi đó thì thực tế cuộc sống lại hết sức phức tạp, biết bao chuyện xấu xa, mất công bằng, ngang trái… cứ phơi bày ra đấy. Nhiều tiêu chí, mục đích chân thực, gần gũi với cuộc sống, có sức hấp dẫn cuốn hút, kích thích sự đam mê tìm tòi, khám phá của đối tượng học sinh cũng cần thiết. Phải chăng đây là thử thách đối với người làm công tác giáo dục mặt xã hội, với người có tâm huyết về dân tộc. Vả lại, tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải Hoàng Sa- Trường Sa là chuyện không hiếm gặp trong quan hệ quốc tế, nên chính phủ nào cũng cần trang bị cho nhân dân thông tin và kiến thức cơ bản về lãnh thổ, lãnh hải của nước mình, để người dân có ý thức bảo vệ Tổ quốc. Điều này sẽ tạo nên một “mặt trận” nữa bên cạnh các “mặt trận” ngoại giao hay nghiên cứu. Vì thế, việc giảng dạy văn bản phần văn học Trung Đại không chỉ làm cho học sinh hiểu và cảm được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ mà còn có khả năng rèn luyện, tích tụ lòng yêu nước cho các em, nhất là tuổi hình thành nhân cách bậc THCS. II.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở đối tượng học sinh Lớp 8A của trường THCS An Tiến- Mỹ Đức -Hà Nội trong năm học 2012 – 2013.

4

Chương trình Trung học cơ sở ban hành năm 2002 , nội dung chương trình quy định văn bản được học 37 tiết ở lớp 8, trong đó những văn bản Trung Đại là 5 tiết.Chính vì thế trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đề cập đến Lòng yêu nước trong văn bản Trung Đại SGK Ngữ văn 8. III.PHẠM VI- THỜI GIAN THỰC HIỆN – Áp dụng vào hoạt động dạy – học ở lớp 8A Trường THCS AN Tiến -Mỹ Đức – TP Hà Nội. -Thời gian áp dụng : Học kì 2 của năm học 2012- 2013. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – Nghiên cứu các tài liệu: Sách giáo khoa Ngữ văn 8, Sách giáo viên Ngữ văn 8, Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 8, – Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III… – Dự giờ thăm lớp, kiểm tra đối chiếu. – Giảng dạy theo phương pháp mà đề tài đưa ra.

5

B- NỘI DUNG I.CƠ SỞ LÍ LUẬN Không một ai tự nhận mình là người không yêu nước và lòng yêu nước là một tình cảm có thật trong trái tim mỗi con người bởi nước gắn liền với nhà, với môi trường sống, với đồng loại xung quanh. Yêu nước mới yêu đời và ngay cả những người chán sống vì lý do nào đấy có thể họ nói “chán đời” nhưng chưa thấy ai nói “chán nước”. Đất nước là gốc rễ, là phần thiêng liêng trong tâm thức mỗi người và dường như với một số người yêu nước chỉ là lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh để bảo vệ nó mỗi khi đất nước bị xâm lược. Gốc của lòng yêu nước là niềm tự hào về giang sơn, về tên tuổi danh dự của quốc gia và là cả sự phẫn nộ, căm thù khi đất nước bị xâm lăng. Khi có ngoại xâm, cả dân tộc bằng lòng yêu nước từ mỗi trái tim đa kết dính lại một khối thành một sức mạnh vô địch thắng mọi kẻ thù, thế nhưng trước giặc “nội xâm”, dường như khối kết dính đó lại có phần rời rạc bởi có người quên nước, chỉ nghĩ đến nhà. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thường không quá 10 năm nhưng trước giặc nội xâm sao lâu tới ngày toàn thắng đến vậy. Lòng yêu nước không chỉ làm chúng ta thấm thía nỗi nhục mất nước để toàn dân phải đấu tranh chống áp bức, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mà còn phải biết lo lắng trong hòa bình khi đất nước thân yêu của mình bị tụt hậu so với các quốc gia khác. Mọi niềm tự hào đều bắt đầu từ tình yêu và chính niềm tự hào về đất nước ấy làm nên lòng tự tôn dân tộc, tính tự trọng công dân. Không thể có lòng yêu nước thực sự nếu ai đó vì lợi ích của mình, của nhóm lợi ích mình tham gia chà đạp lên lợi ích cộng đồng. Có thể yêu nước được không nếu như có lúc và nhiều lúc cầm những đồng tiền không phải từ giá trị lao động cống hiến của mình thản nhiên đút túi hoặc cất vào tủ. Cũng không thể có một 6

người yêu nước nào có thể vô cảm trước nỗi đau đồng loại và trước những bất cập trong cuộc sống. Và thật buồn khi hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn xuất hiện những chuyện buồn đi ngược với truyền thống đạo lý dân tộc làm ảnh hưởng tới danh dự quốc gia, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Lòng yêu nước thật giản dị khi mỗi con người trên đất nước ấy làm tốt công việc của mình. Yêu nước không chỉ là sự hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc mà còn là trách nhiệm với đồng bào, với tài sản quốc gia không bị thất thoát, với khát vọng góp sức làm dân giàu nước mạnh. Một hành động chạy lại thùng rác để vứt rác ở nơi thắng cảnh hoặc không xả rác ra đường cũng là hành động yêu nước bởi vẻ đẹp đất nước không thể bị bôi bẩn dù là vô tình. Những cán bộ công không hạch sách, nhũng nhiễu người dân cũng là hành động yêu nước. Những người tiếp xúc với người nước ngoài có thái độ thân thiện cũng là biểu hiện của lòng yêu nước. Mỗi người đều sống và làm việc bằng cái tâm và trách nhiệm với đất nước thì đất nước ấy chẳng mấy chốc hóa rồng. Hóa ra kẻ thù trong chiến trận dễ nhận ra nên lòng yêu nước có trong mỗi người đã làm nên chiến thắng, song kẻ thù của sự thịnh vượng quốc gia trong thời bình lại nằm ở trong… chính mỗi người với những toan tính cá nhân nên cuộc chiến chống nội xâm, vì sự phát triển của xã hội vẫn cứ là cuộc chiến “trường kỳ” chăng!? Đã đến lúc phải có chiến lược củng cố, xây dựng niềm tự hào về đất nước bắt đầu cụ thể từ lòng tự trọng của mỗi công dân, uy tín của từng trường học, công sở, tổ dân phố, thôn làng… Khi có niềm tự hào về cơ quan, đoàn thể, địa phương, người ta sẽ sống là hành xử vì nó, giữ gìn và phát huy nó. Và lòng yêu nước không thể chung chung nếu như không bắt đầu từ những điều cụ thể, gần gũi nhất… Môn Ngữ văn được xem là trọng tâm của bộ môn khoa học xã hội – nhân văn. Điều đó có nghĩa là muốn nhấn mạnh vào những kiến thức xã hội và chất nhân văn trong các tác phẩm văn chương. Theo V. Bêlinxki – nhà phê bình văn học Nga: “thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Vậy nên, trước hết cần phải giúp học sinh hiểu đời trước rồi 7

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN Việc dạy và học văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn còn là nỗi khốn khổ, gây nhiều khó khăn, phiền toái cho người dạy lẫn người học. Hiểu được những tác phẩm đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay, cái đẹp của nó cho người học hiểu được lại càng khó khăn gấp bội phần. Vấn đề có nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là rào cản ngôn ngữ, bởi những tác phẩm ấy đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại hôm nay. Thêm vào đó là người tiếp nhận văn bản dù muốn hay không là phải có một kiến thức nền khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hoá trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển cố điển tích, thể loại văn học v.v.. Chỉ bấy nhiêu thứ cũng đủ làm cho người dạy lẫn người học đau đầu, mệt trí thì thử hỏi làm sao mà lắng lòng, mà bình tâm để cảm nhận cho được cái tinh hoa cùng vẻ đẹp của văn chương qua cách biểu đạt rất kiệm lời của các bậc thi nhân tiền bối đã gởi gắm trong từng câu chữ. Ở đây, tôi có cái may mắn là có 20 năm tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy về nó, nên bản thân cũng có vài trăn trở. Những trăn trở này xin được mạo muội ghi lại đây để đồng nghiệp cùng suy nghĩ và góp ý, với thiện tâm là làm sao giúp cho việc dạy và học các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Những trăn trở, suy nghĩ này không chỉ là của riêng bản thân người viết bởi có một số ý kiến sẽ nêu ở đây đã từng bắt gặp trên các tạp chí, các công trình của các nhà nghiên cứu bậc thầy đã phát biểu rồi, tôi chỉ là người tổng thuật lại, có kết hợp thêm ý kiến của mình mà thôi. ”

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ

xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh). Hiện nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, cùng với những tiến bộ nhảy vọt trong cách mạng khoa học và công nghệ, xu 9

hướng toàn cầu hoá kinh tế tạo ra nhiều thời cơ, vận hội mới cho sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều nước; đồng thời cũng đặt các nước đang phát triển vào những nguy cơ tiểm ẩn không lường. Sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn tại khu vực các nước đang phát triển, mà Đông Nam Á là một điển hình, ngày càng phức tạp. Xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố quốc tế vẫn diễn biến ngày càng phức tạp. Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng là một vấn đề hết sức lưu ý. Trong bối cảnh đó, công tác giáo dục thế hệ trẻ, nhất là giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh thiếu niên Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ và khoa học. Xã hội hiện nay phát triển rất nhanh và mạnh về kinh tế dẫn đến nhiều mối quan hệ xã hội bị rạn nứt, phân hóa, rất nhiều giá trị đạo đức bị bào mòn, gặm nhấm. Vì thế, môn ngữ văn phải làm sao lưu giữ được những gì đang bị băng hoại trước cơn lốc thị trường, trước sự bào mòn về nhân cách con người, trước sự sa sút về ý thức trong giới trẻ ngày nay. Việc dạy văn hiện nay trở nên khó khăn hơn trước những biến động phức tạp của cuộc sống đời thường. Cho nên, giáo viên dạy văn một mặt phải hướng trang văn ra với đời sống xã hội, với cuộc sống hiện tại một mặt phải chắt chiu những giá trị nhân văn của tác phẩm văn học. Lòng yêu nước càng cần thiết hơn khi vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam đang trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Tràn ngập trên các diễn đàn, các mạng xã hội là vô vàn những ý kiến công khai về biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hầu hết là thái độ chỉ trích, phê phán gay gắt về cái gọi là “đường lưỡi bò” và các hành động mà Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Trước những cơ sở trên, tôi đã kiểm chứng về lòng yêu nước của học sinh lớp 8A. Cụ thể: 10

Khi dạy các văn bản trung đại trong chương trình ngữ văn 8, tôi cho học sinh tìm hiểu thể loại văn học trước, sau đó tìm hiểu nội dung, nghệ thuật văn bản để hiểu thời đại, lòng yêu nước của họ. * Hiểu thể loại văn học để hiểu tác giả. ? Em hiểu thể ” Chiếu” trong thể loại văn học là gì? Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể được viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; được công bố và đón nhận một cách trang trọng. Một số bài chiếu thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng đến vận mệnh của cả triều đại, đất nước nhằm thuyết phục mọi người về việc dời đô… ? Em hiểu thể ” Hịch” trong Hịch Tướng sĩ là gì? Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lí lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết phục. Đặc điểm nổi bật của Hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe. Hịch thường được viết theo thể văn biền ngẫu. Kết cấu của bài hịch có thể thay đổi linh hoạt tùy theo mục đích và nghệ thuật lập luận của tác giả. ? Em hiểu thể ” Cáo” trong Bình Ngô Đại Cáo là gì? Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết. Cáo phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu. Cũng như hịch, cáo là thể văn có tính chất hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc. ? Em hiểu ” Tấu ” trong Luận phép học là gì? Tấu là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị. Tấu có thể viết bằng văn xuôi hay văn biền ngẫu, văn vần. – Sau khi học sinh nêu thể loại, Giáo viên có thể bổ sung những chỗ còn thiếu sót hoặc khen ngợi học sinh có câu trả lời đúng. Dùng câu hỏi tổng hợp để gợi ý học sinh tìm ra nét chung của 4 thể loại văn học này là yêu nước thương dân. 12

? Em hãy tìm những nét chung, riêng của 4 thể loại văn học này? Giống: – Đều là thể văn nghị luận trung đại cổ. – Đều được viết bằng văn biền ngẫu, văn xuôi, văn vần,… – Lí lẽ,, dẫn chứng chặt chẽ, thuyết phục – Riêng chiếu, hịch, cáo thì đều do vua, chúa, thủ lĩnh,… viết. Khác: * Chiếu: – Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh, buộc thần dân phải tuân theo. – Một số bài chiếu có tư tưởng chính trị lớn lao, ảnh hưởng tới vận mệnh đất nước. * Hịch: – Là thể văn do vua chúa dùng để khích lệ, cổ vũ nhân dân tham gia vào phong trào chống thù trong giặc ngoài. – Mang tính chất khích lệ động viên. – Bố cục 1 bài hịch nói chung gồm 4 phần: + P1: Nêu vấn đề + P2: Nêu truyền thống lịch sử vẻ vang + P3: Nhận định tình hình + P4: Nêu chủ trương kêu gọi * Cáo: – Là thể văn do vua chúa dùng để công bố kết quả cho toàn dân biết. – Cáo gồm 4 phần: + P1: Nêu luận đề chính nghĩa + P2: Chứng minh tội ác của quân giặc + P3: Kể lại quá trình kháng chiến + P4: Khẳng định sức mạnh nhân nghĩa * Tấu: 13

– Là thể văn do bề tôi dùng để trình bày với cua chúa 1 vấn đề, sự việc, tình hình,..? ? Những nét chung đó cho ta hiểu gì về thời đại mà họ đang sống ? – Mô ôt là, thời đại đô cô lâ ôp dân tô ôc thống nhất đất nước, cô nô g đồng. – Hai là, thời đại phục hưng dân tô ôc và phát triển đất nước. – Ba là, thời đại khoan giản, an lạc nhân thứ, rô nô g mở và dân chủ. ? Em hiểu gì về ý thức,trách nhiệm của họ đối với non sông đất nước? – Yêu nước gắn liền với lý tưởng trung quân ái quốc. – Tự hào về truyền thống của dân tộc. – Yêu con người, yêu ngôn ngữ dân tộc. – Căm thù giặc, quyết tâm đánh giặc cứu nước. * Hiểu hoàn cảnh ra đời văn bản để hiểu nội dung văn bản. ? Hoàn cảnh ra đời Chiếu dời đô? Định đô, lập nước là một trong những công việc quan trọng nhất của một quốc gia. Với khát vọng xây dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh và bền vững muôn đời, sau khi được triều thần suy tôn lên làm vua, Lí Công Uẩn đã đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (thuận theo trời). Năm canh thân (1010), khi ông được triều thần tôn lên làm vua, ông đã viết bài chiếu để bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư-Ninh Bình về thành Đại La-Hà Nội và quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La-sau đổi tên thành Thăng Long (Rồng bay). Vua ban Thiên chiếu cho triều đình và nhân dân được biết. Trần Quốc Tuấn là người biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hiềm khích của gia đình để trả thù cho cha, khi cha ông bị vua Trần Thái Tông cướp vợ. Vì quyền lợi quốc gia, Trần Quốc Tuấn đã không làm theo lời cha dặn, ông đã một lòng trung nghĩa với vua, với nước. Trần Quốc Tuấn đã phò vua và giúp vua đánh bại kẻ thù. Khi ông mất, vua Trần đã phong cho ông tước Hưng Đạo Vương.

14

?Bài Hịch ra đời trong hoàn cảnh nào ? Theo Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (XB 1987) thì bài hịch này được công bố vào 9.1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long. Trong 3 cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên thời Trần thì cuộc kháng chiến lần 2 là gay go, quyết liệt nhất. Giặc cậy thế mạnh ngang ngược, hống hách. Ta sôi sục căm thù quyết tâm chiến đấu. Nhưng trong hàng ngũ tướng sĩ cũng có người dao động, có tư tưởng đầu hàng. Vì vậy tư tưởng chủ đạo của bài hịch là nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng. Đây chính là thước đo cao nhất, tập trung tinh thần yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. ? Hoàn cảnh ra đời Nước Đại Việt ta? Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu ức Trai.Là nhà yêu nước, là anh hùng dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới. Nguyễn Trãi không phải chỉ là tác giả của những bài thơ nôm phú tuyệt vời như Cửa biển Bạch Đằng, Bến đò xuân đầu trại…mà còn là tác giả của Bình Ngô đại cáo. Bản thiên cổ hùng văn, rất xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc. Sau khi đánh thắng giặc Minh năm 1427,Thừa lệnh vua Lê, Nguyễn Trãi soạn thảo Bình Ngô Đại Cáo có ý nghĩa trọng đại của một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố ngày 17 tháng Chạp năm Đinh Mùi( tức đầu năm 1428), sau khi quân ta đại thắng, diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, buộc vương Thông phải giảng hòa, chấp nhận rút quân về nước. ? Hoàn cảnh ra đời của Luận phép học? Nguyễn Thiếp là người Thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu từng đỗ đạt làm quan dưới triều Lê. Nhưng sau đó từ quan về dạy học. Quang Trung mấy lần viết thư mời ông cộng tácvới thái độ rất chân tình.Nên cuối cùng Nguyễn Thiếp cũng giúp triều Tây Sơn góp phần xây dựng đất nước về mặt chính trị. Bàn về phép học là một trong những văn bản quan trọng của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung

15

vào tháng 8- chúng tôi điều mà ông muốn gửi vua Quang Trung là Quân Đức, Dân tâm, Học pháp. Lịch sử đất nước Việt Nam có những trang vàng chói lọi là nhờ vào những vị vua, vị tướng anh minh như Lý Công Uẫn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,… Họ là tấm gương sáng ngời để đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta tưởng nhớ đến Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân giành độc lập ngày hôm nay. Chúng ta chắc chắn Bác đã noi gương những người đi trước. Sống xứng đáng với sự hi sinh của họ. Bác đã từng nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Và người cũng đã ân cần dạy tuổi trẻ “có tài mà không có đức thì là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Sau khi thực hiện những nội dung cần đạt, giáo viên tiến hành cho học sinh tìm hiểu về lí tưởng của thanh thiếu niên trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Đó là lí tưởng “dấn thân, nhập cuộc” với một ý chí quyết tâm thực hiện đến cùng lí tưởng cách mạng. Sau đó yêu cầu học sinh trình bày lí tưởng của thanh thiếu niên trong xã hội hiện nay. * Hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm để hiểu về lòng yêu nước. Văn bản Chiếu dời đô 1-Vì sao phải dời đô (luận điểm 1): Hs đọc đoạn 1. ? Luận điểm trong văn nghị luận thường được triển khai bằng một số luận cứ (lí lẽ và d.c). ở Đoạn 1, luận điểm vì sao phải dời đô được làm sáng rõ bằng những luận cứ nào? – 2 luận cứ: Dời đô là điều thường xuyên xảy ra trong lịch sử các triều đại; nhà Đinh và nhà Lê đóng đô 1 chỗ là hạn chế. ? Ở luận cứ 1, những lí lẽ và chứng cớ nào được viện dẫn ? ? Những chứng cớ và lí lẽ mà tác giả đưa ra ở đây có sức thuyết phục không ? Vì sao ?

16

Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8

Bố cục

Văn bản chia thành 2 đoạn:

Phần 1 (từ đầu… ăn có ngon miệng hay không): Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng.

Phần 2 ( còn lại): Cảnh chị Dậu phản kháng.

Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (trang 32 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông vào:

Gia cảnh nhà chị Dậu cùng đường: bán con, bán chó, bánh gánh khoai, chạy vạy tiền nộp sưu cho chồng và người em chồng đã chết.

Người chồng đau ốm tưởng chết, lại bị đánh đến ngất đi do thiếu sưu thuế.

Bọn tay sai sấn sổ xông vào đòi đánh trói anh Dậu.

Câu 2 ( trang 32sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Cai lệ: là cai cầm đầu đám lính lệ ở huyện đường, tay sai chuyên đánh người là “nghề” của hắn

Cảnh cai lệ vào nhà chị Dậu:

Gõ đầu roi xuống đất, quát bằng giọng khàn khàn.

Tay sai chuyên nghiệp, đánh trói người là “nghề” của hắn.

Xưng hô xấc xược, đểu cáng “ông thằng”

Bản chất hung bạo, dữ tợn: trợn ngược mắt quát, giọng hầm hè, đùng đùng giật phắt thừng, bịch luôn vào ngực chị Dậu, tát vào mặt chị đánh cái bốp.

Ngôn ngữ của hắn thú tính, hắn chỉ biết thét, quát, hầm hè

Tàn ác, nhẫn tâm, bỏ ngoài tai lời van xin khẩn thiết của chị Dậu

Câu 3 ( trang 33 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Chị Dậu nhẫn nhịn, chịu đựng:

Ban đầu “van xin tha thiết”, lễ phép xưng “cháu” gọi “ông”

Chỉ đến khi cai lệ “bịch luôn vào ngực chị… mấy bịch rồi sấn đến trói anh Dậu” không chịu được nữa, chị mới liều mạng cự lại.

Đẩy tên cai lệ ngã chỏng quèo, túm tóc lẳng tên người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm.

Câu 4 ( trang 33 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Nhan đề tức nước vỡ bờ phản ánh quy luật: có áp bức sẽ có đấu tranh.

Xét toàn bộ nội dung tác phẩm thì Tức nước vỡ bờ là tên gọi hợp lý phù hợp với diễn biến truyện.

Tên nhan đề có ý nghĩa khi con người bị áp bức, bóc lột sẽ phản kháng mạnh mẽ. Sức mạnh đó bắt nguồn từ ý thức nhân phẩm, tình yêu thương gia đình.

Câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Tác giả tạo dựng tình huống truyện gay cấn: sau khi van xin khẩn thiết, nói lí lẽ nhưng cai lệ vẫn sấn sổ tới đánh trói, chị Dậu phản kháng.

Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật:

Chị Dậu: nhẫn nhục, chịu đựng nhưng vẫn có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ.

Cai lệ; hung tàn, thú tính, ngang ngược, hung hãn

Miêu tả ngoại hình bằng nghệ thuật đối lập:

Chị Dậu: lực điền, khỏe khoắn, quyết liệt

Bọn tay sai: sức lẻo khẻo như tên nghiện, ngã chỏng quèo…

Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại được bộc lộ sâu sắc tính cách nhân vật, phản ánh những nét diễn biến tâm lí phức tạp.

Đoạn miêu tả cảnh phản kháng giữa chị Dậu với bọn tay sai qua ngòi bút linh hoạt, pha chút hóm hỉnh, độc đáo.

Câu 6 (trang 31 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Phản ánh đúng quy luật: có sự áp bức, bóc lột tất yếu sẽ có đấu tranh.

Ngô Tất Tố nhìn thấy sức mạnh đấu tranh tiềm tàng của người nông dân.

Hành động phản kháng là tự phát, khơi màn cho những sự trỗi dậy đấu tranh sau đó.

Chỉ bằng bạo lực, đấu tranh mới giải quyết được sự đàn áp, gông cùm của chế độ nửa phong kiến thực dân.

Soạn Bài: Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8

Bài 1 (trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Cách nêu như SGK chưa mạch lạc, có thể sắp xếp lại theo những ý sau:

b, Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng.

a, Con trai lão Hạc đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại “cậu Vàng”

d, Vì muốn để lại mảnh vườn cho con, lão phải bán con chó.

c, Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn.

g, Cuộc sống mỗi ngày một ngày khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và bị ốm trận khủng khiếp.

e, Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó

h, Lão bỗng nhiên chết cái chết thật dữ dội

k, Cả làng không hiểu vì sao lão chết, trừ Binh Tư và ông giáo.

Bài 2 ( trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Gia đình chị Dậu thuộc vào loại cùng đinh trong làng, vì không có đủ tiền nộp sưu thuế chị Dậu phải bán đàn chó, bán con và chạy vạy khắp nơi để có tiền đóng sưu cho chồng. Anh Dậu bị bọn tay sai đánh cho thập tử nhất sinh và được người làng đưa về nhà. Bà lão hàng xóm thương cảnh nhịn đói nên mang cho chị Dậu bát gạo nấu cháo cho chồng ăn. Anh Dậu chưa kịp ăn cháo thì cai lệ và người nhà lý trưởng ập tới đòi sưu thuế. Mặc cho chị Dậu khẩn thiết van xin nhưng chúng không tha còn đánh chị Dậu và hùng hổ đòi trói anh Dậu. Không chịu nhịn được nữa chị Dậu xông vào túm cổ quẳng cai lệ lẫn người nhà lý trưởng ngã nhào ra thềm.

Bài 3 (trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)

Hai văn bản Tôi đi học và Trong lòng mẹ đều là hai văn bản tự sự không chứa nhiều sự kiện, nhân vật và xung đột xã hội.

Các tác giả viết về dòng hồi kí của mình, nên chủ yếu là miêu tả nội tâm nhân vật nên đậm chất trữ tình. Có thể tóm tắt như sau:

Tôi đi học: Truyện kể về dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi” về những kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên. Đó là cảm giác náo nức, hồi hộp, ngỡ ngàng với con đường, trường lớp, bạn mới. Cảm giác vừa xa lạ vừa gần gũi với mọi vật, vừa ngỡ ngàng tự tin vừa nghiêm trang xúc động bước vào giờ học đầu tiên.

Trong lòng mẹ: Gần đến ngày dỗ đầu của cha nhưng người mẹ đi “tha hương cầu thực” vẫn chưa về. Người cô trong cuộc nói chuyện luôn xoáy sâu vào nỗi đau của bé Hồng bằng những lời cay độc và gương mặt cười rất kịch. Cuối cùng Hồng vẫn được gặp lại mẹ. Cậu nghẹn ngào trong sung sướng lăn vào lòng mẹ và cảm nhận hạnh phúc ngọt ngào của tình mẫu tử.

Văn 8 Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Dàn Bài Suy Nghĩ Của Em Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, Bài 2 Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Văn 8 Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Dàn ý Lòng Tự Trọng, Dàn Bài Lòng Tự Trọng, Trong Long Me, Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Câu Thơ Yêu Bác Lòng Ta Trong Sáng Hơn, ý Nghĩa Văn Bản Trong Lòng Mẹ, ý Nghĩa Của Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Lòng Tin Trong Kinh Kalama, Vấn Đề Lồng Ghép Trong Giáo Dục, Dàn ý Lòng Yêu Nước Thầm Kín Trong Tràng Giang, Các Bệnh Hại Lúa Quan Trọng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Xay Dung Hinh Anh Chien Si Csgt Trong Long Nhan Dan, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Các Yếu Tố Quyết Định Sự Hài Lòng Và Sự Sẵn Lòng Quay Lại Của Khách Du Lịch, Làng Nghề Truyền Thống Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Quá Trình Hiện Đại Hoá, Nhận Định Nào Sau Đây Nói Đúng Nhất Về Nội Dung Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Phân Tích Nhân Vật Anh Thanh Niên Trong Truyện Ngắn “lặng Lẽ Sapa” – Nguyễn Thành Long, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu , Bùi Kim Long, Đức Hòa Long An, Nội Quy Sân Cầu Lông, Long Man, Tỏ Lòng Văn 10, Văn Bản Tỏ Lòng 10, Quy ước Vẽ Bu Lông, Sự Hài Lòng, Bài Thơ Lòng Mẹ, Dàn ý Bài Tỏ Lòng, Long Thọ, Lòng Mẹ, Thể Lệ Thi Đấu Cầu Lông, Tỏ Lòng, Hạ Long, Con Lân, Con Long Mã, A Very Long Way!, Ha Long Bay, Dàn ý Bài Lòng Biết ơn, Hài Lòng Về Sản Phẩm, ô Long Viện, ở Cừu Gen A Quy Định Lông Dài, Su Hai Long Online, Khảo Sát Hài Lòng Spa, Thiên Long, Lông Chym Có Quâ, Nguyên Tố Nào Lỏng Đỏ Nâu, Phun Lông Mày , Dàn Bài Lòng Nhân ái, Tóm Tắt Lòng Yêu Nước, Dàn ý Lòng Yêu Nước, Đề Thi Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn, Vĩnh Long, Lê Quang Long, Thể Lệ Giải Cầu Lông, Dàn Bài Lòng Biết ơn, Lông Mày Phun, Kỹ Thuật Vẽ Lông Mày:, Thanh Long, Lông Mày Mảnh, Dàn ý Lòng Khiêm Tốn, Xã Thạch Long, Nguyễn Bá Long , Cảm Nhận Về Tỏ Lòng, Huỳnh Long Vũ, Giá Phụ Kiện Kin Long, Cà Phê Phúc Long, Dàn ý Về Lòng Kiên Trì, Bài Văn Mẫu Về Lòng Biết ơn, Sac Ky Long Khoi Pho, Khảo Sát Mực Độ Hài Lòng, Đây Là Con Ta Yêu Dấu Đẹp Lòng Ta Mọi Đàng, ô Lông Viện Tập 6, ở Mèo Gen B Quy Định Màu Lông Đen, Ham Long Kinh, Khảo Sát Sự Hài Lòng, ở Bò Gen D Quy Định Lông Đen, Điều Lệ Môn Cầu Lông, Đánh Giá Sự Hài Lòng, ở Mèo Gen D Quy Định Lông Đen, Long Biet On, ở Mèo Gen D Quy Định Màu Lông Đen, Phúc Long, Luật Gia Long, Tu Nhien Long An, Luật Cầu Lông, Trà Sữa Phúc Long, Long Thư Tịnh Độ, Dàn ý Về Lòng Dũng Cảm, Quy Cách Bu Lông Neo, Quy Chuẩn Bu Lông, Quy Cách Bu Lông,

Dàn Bài Suy Nghĩ Của Em Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, Bài 2 Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Văn 8 Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Dàn ý Lòng Tự Trọng, Dàn Bài Lòng Tự Trọng, Trong Long Me, Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Câu Thơ Yêu Bác Lòng Ta Trong Sáng Hơn, ý Nghĩa Văn Bản Trong Lòng Mẹ, ý Nghĩa Của Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Lòng Tin Trong Kinh Kalama, Vấn Đề Lồng Ghép Trong Giáo Dục, Dàn ý Lòng Yêu Nước Thầm Kín Trong Tràng Giang, Các Bệnh Hại Lúa Quan Trọng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Xay Dung Hinh Anh Chien Si Csgt Trong Long Nhan Dan, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Các Yếu Tố Quyết Định Sự Hài Lòng Và Sự Sẵn Lòng Quay Lại Của Khách Du Lịch, Làng Nghề Truyền Thống Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Quá Trình Hiện Đại Hoá, Nhận Định Nào Sau Đây Nói Đúng Nhất Về Nội Dung Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Phân Tích Nhân Vật Anh Thanh Niên Trong Truyện Ngắn “lặng Lẽ Sapa” – Nguyễn Thành Long, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu , Bùi Kim Long, Đức Hòa Long An, Nội Quy Sân Cầu Lông, Long Man, Tỏ Lòng Văn 10, Văn Bản Tỏ Lòng 10, Quy ước Vẽ Bu Lông, Sự Hài Lòng, Bài Thơ Lòng Mẹ, Dàn ý Bài Tỏ Lòng, Long Thọ, Lòng Mẹ, Thể Lệ Thi Đấu Cầu Lông, Tỏ Lòng, Hạ Long, Con Lân, Con Long Mã, A Very Long Way!, Ha Long Bay, Dàn ý Bài Lòng Biết ơn, Hài Lòng Về Sản Phẩm, ô Long Viện, ở Cừu Gen A Quy Định Lông Dài, Su Hai Long Online,

Bạn đang xem bài viết Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!