Xem Nhiều 12/2022 #️ Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ Và Những Nơi Lưu Dấu Của Ông Ở Phú Yên / 2023 # Top 14 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ Và Những Nơi Lưu Dấu Của Ông Ở Phú Yên / 2023 # Top 14 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ Và Những Nơi Lưu Dấu Của Ông Ở Phú Yên / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Sinh trưởng trong một gia đình công chức ở thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, thời niên thiếu ông đã du học bên Pháp và lấy bằng cử nhân luật khoa, văn khoa rồi trở về quê mở văn phòng LS ở Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sài Gòn và hoạt động trong Ban trí vận Sài Gòn – Chợ Lớn. Bằng trí thức nghề nghiệp của mình, LS Nguyễn Hữu Thọ không chỉ đấu tranh, bảo vệ cán bộ chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước bị địch bắt giữ mà còn vận động sinh viên đấu tranh đòi hòa bình, chống chiến tranh xâm lược. Đặc biệt, ông đã tập hợp hơn 700 chữ ký của giới trí thức trong văn bản tuyên ngôn Sài Gòn – Chợ Lớn, đòi chính phủ Pháp thương thuyết với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, sớm chấm dứt chiến tranh và trực tiếp trao văn bản đó cho Cao ủy Pháp ở Đông Dương.

Ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 16/10/1949. Ngày 24/7/1950, chính quyền thực dân đã kiếm cớ bắt ông đưa đi đày tận bản Giằng ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, sau đó lần lượt đưa về giam giữ ở Sơn Tây, Lai Châu. Trước sức ép của công luận và phản đối của Đoàn LS Sài Gòn – Chợ Lớn, LS đã được trả tự do vào tháng 11/1952. Về lại Sài Gòn, ông mở văn phòng LS, tiếp tục hoạt động cách mạng với vai trò Phó Chủ tịch phong trào bảo vệ hòa bình, đấu tranh đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ sau khi Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam và dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Do thấy bất an trước phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài Gòn – Chợ Lớn nên chính quyền Ngô Đình Diệm huy động cảnh sát bắt giam 28 cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trong đó có LS Nguyễn Hữu Thọ. Bằng những lập luận sắc bén của mình, LS đã bác bỏ những cáo buộc tội trạng khiến phiên tòa ngày 6/12/1954 không thể kết tội ông và những người bị bắt, nhưng địch vẫn đưa về Hải Phòng quản thúc. Trước sự phản đối quyết liệt của các tổ chức cách mạng, ngày 23/4/1955, địch phải đưa những người bị quản thúc về lại Sài Gòn để trả tự do, nhưng khi vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, LS Nguyễn Hữu Thọ cùng ba cán bộ chủ chốt phong trào hòa bình đã bị mật vụ bắt giữ đưa ra Phú Yên quản thúc.

2. Một trong những nhân chứng sống là ông Nguyễn Duy Luân – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên kể lại: “Nơi LS Nguyễn Hữu Thọ bị quản thúc đầu tiên là xóm Phố, xã Hòa Thịnh, huyện Tuy Hòa 1, nay là huyện Tây Hòa – một vùng quê xa xôi cách trở, nằm giữa núi rừng. Thời điểm này tôi đương nhiệm Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban An ninh huyện Tuy Hòa 1 nên biết rõ LS cùng bốn người bị quản thúc tại nhà thờ họ Võ ở thôn Mỹ Phú do tộc trưởng Võ Trọng Thuật trông coi. Cảnh sát mật vụ mưu tính “mỹ nhân kế” để hạ uy tín của LS nên chúng đưa Thị Ngọc – một cô gái có sắc đẹp ở xã Hòa Bình, đang làm nhân viên thông tin quận Hiếu Xương vào nằm trong nhà bà Võ Thị Biên ở cạnh nhà thờ họ Võ. Lúc đó chập choạng tối, LS đang ở ngoài sân, nhưng đám cảnh sát ập tới đẩy ông vào giường Thị Ngọc đang nằm. LS không vào, bọn chúng nổ súng chỉ thiên ép buộc theo kịch bản đã dàn dựng, trong nhà Thị Ngọc tắt đèn dầu để cảnh sát kiếm cớ lập biên bản vu khống LS hãm hiếp phụ nữ. LS kiên quyết không ký, người dân trong xóm lên tiếng bất bình. Thất thế, cảnh sát phải rút lui, nhưng đồng nghiệp của ông đã khởi kiện cảnh sát về hành vi cố ý làm mất uy tín của LS và đã thắng kiện”…

Cụ Võ Thị Khửng – một người dân Hòa Thịnh, nay đã 85 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, nhớ lại: “Năm đó tui hai tám tuổi, LS Thọ cùng những người đàn ông bị quản thúc tại nhà thờ họ Võ, riêng bà Lâm Thị Tư bị quản thúc tại nhà ông Võ Du. Hằng ngày, tui phụ giúp bà Tám nấu ăn cho LS Thọ và mọi người. Chính tui là người chứng kiến vụ cảnh sát dàn dựng kịch bản mỹ nhân kế để đẩy LS Thọ vào tù nhưng bất thành”.

Trước việc quản thúc LS ở Hòa Thịnh bất ổn, chính quyền Ngô Đình Diệm vội vã đẩy 5 người bị coi là “phần tử nguy hiểm” lên thị trấn Củng Sơn, quận Sơn Hòa, trong đó có LS Nguyễn Hữu Thọ. Nơi LS bị quản thúc lần này là nhà bà Nai, ở phía trước Chi cảnh sát quận Sơn Hòa. Tiếng là thị trấn, nhưng nằm giữa núi rừng hoang vắng, giao thông cách trở, khí hậu khắc nghiệt khiến cho LS lâm bệnh. Trước sự đấu tranh của nhóm người bị quản thúc, địch phải đưa LS xuống nhà thương Phú Yên điều trị bệnh.

Cùng thời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định giải cứu LS Nguyễn Hữu Thọ sau khi lựa chọn ông – một đảng viên kiên trung, một nhà trí thức cách mạng có uy tín đảm nhiệm Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đầu tiên. Theo đó, Khu ủy Khu 5 và Tỉnh ủy Phú Yên giao cho đồng chí Nguyễn Lầu – Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng Phú Yên chỉ đạo thực hiện “Kế hoạch chị Nghĩa” (mật danh của LS – PV).

3. Sau khi nối liên lạc, một ngày đầu tháng 9/1960, cơ sở của ta là bà Thừa Hoàng mang bức thư của Giáo sư Phạm Huy Thông trao tận tay LS Nguyễn Hữu Thọ. Theo phương án đã vạch, 19h tối 11/9/1960, ông Nguyễn Sự – một cơ sở cách mạng đi xe đạp dẫn đường LS rời Tuy Hòa ngược lên hướng Tây chừng bốn cây số, có tổ đặc công đưa lên căn cứ. Địch không biết gì về “Kế hoạch chị Nghĩa”, nhưng do chiều hôm đó địch tung quân chặn ở cửa ngõ phía Tây thị xã ngăn chặn thanh niên yêu nước thoát ly tham gia cách mạng nên cuộc giải thoát lần thứ nhất bất thành. Sáng hôm sau, ông Nguyễn Sự bị cảnh sát bắt giữ trên đường lên núi Sầm, xã Hòa Trị, huyện Tuy Hòa 2 (nay là huyện Phú Hòa) báo cáo tình hình cho Bí thư Huyện ủy Nguyễn Công Minh. Bị tra tấn dã man trước mặt LS, ông Nguyễn Sự vẫn kiên trung bất khuất, nhưng cảnh sát vẫn “đánh hơi” đề nghị bắt giam LS. Rất may là Chánh án tòa án Phú Yên thấy không có căn cứ nên can ngăn, buộc địch phải đưa LS Nguyễn Hữu Thọ về lại Củng Sơn.

Cụ Võ Thị Khửng – người phụ việc nấu cơm cho LS Nguyễn Hữu Thọ và những người bị quản thúc ở xã Hòa Thịnh.

Kế hoạch giải thoát lần thứ hai đã được Tỉnh đội Phú Yên chỉ đạo hai tổ đặc công phối hợp Đội A12 huyện Sơn Hòa, bộ đội huyện Tuy Hòa 1, hai đại đội bộ đội tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai tập kích quận lỵ Sơn Hòa đêm 18/1/1961. Sau hơn 20 phút, bộ đội làm chủ thị trấn Củng Sơn, nhưng trước đó vài giờ, LS Nguyễn Hữu Thọ được phép xuống Tuy Hòa gặp vợ con từ Sài Gòn ra thăm. Đúng thời điểm này, Tòa án tỉnh Phú Yên hình thành, LS đề nghị chính quyền cho ở lại thị xã Tuy Hòa để chữa bệnh và hành nghề luật. Tỉnh trưởng Lê Ngọc Triển đồng ý, nhưng chỉ viết đơn kiện chứ không được bào chữa tại tòa. Với tấm giấy phép cư trú, LS thuê phòng ở khách sạn Vĩnh Đông Á, đường Lê Thánh Tôn để hành nghề, nhưng vẫn bị giám sát gắt gao. Thực hiện chỉ thị của Khu ủy Khu 5 phải giải thoát LS ra căn cứ trước tháng 12/1961, trong vai người cần tư vấn luật một vụ kiện đất đai, ngày 27/10/1961, ông Lưu Trọng Điểu, Nguyễn Đùng từ Sơn Hòa xuống khách sạn tiếp cận LS.

Ngày hôm sau, ông Đùng trở lại khách sạn trao cho LS điếu thuốc lá, bên trong có bức thư của Tỉnh đội trưởng Phú Yên Nguyễn Lầu trao đổi phương án giải thoát. Theo đó, khoảng 17h chiều 29/10/1961, LS Nguyễn Hữu Thọ đi xe đạp theo đường 1A ra hướng Bắc 4 cây số thì đến “điểm hẹn” ở mã bà Dũ Ký dưới chân núi Chóp Chài, thôn Liên Trì, xã Bình Kiến. 3 trinh sát ém quân ở đó tiếp cận, trao bộ quần áo màu đen, dép cao su cho LS thay, trước khi đưa ông vượt cánh đồng Màng Màng để bộ đội dẫn đường LS về Suối Dứa rồi lên Phước Tân – căn cứ Tỉnh ủy Phú Yên. Cuộc giải thoát lần thứ ba thành công đã đưa LS Nguyễn Hữu Thọ về Trung ương Cục miền …

Trong tiết trời se lạnh của buổi chớm xuân, đứng bên bia tưởng niệm giải thoát LS Nguyễn Hữu Thọ dưới chân núi Chóp Chài, tôi chợt nhớ khi còn sống, lúc nào LS cũng tâm niệm Phú Yên là quê hương thứ hai của ông. Hình ảnh và những sự kiện lịch sử về nhà trí thức cách mạng, vị LS đáng kính luôn sống mãi trong tâm thức của mỗi người dân Phú Yên hôm nay và mai sau

Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ / 2023

(Thanhuytphcm.vn) – Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được người dân cả nước và thế giới biết đến là một trí thức yêu nước tiêu biểu, là ngọn cờ tập hợp – một con người có tấm lòng nhân nghĩa. Ông như một ngôi sao sáng, đẹp của thời đại Hồ Chí Minh, có cuộc sống bình dị và quá đỗi gần gũi thân thương.

Sinh ra bên bờ sông Vàm Cỏ, trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, 11 tuổi đã xuống tàu sang Pháp du học 12 năm và về nước, với tấm bằng Cử nhân Luật. Sau thời gian tập sự tại văn phòng một luật sư người Pháp, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ mở văn phòng luật sư riêng, trước ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, rồi lên Sài Gòn và là một luật sư tư Tòa Thượng thẩm.

Chứng kiến cảnh đàn áp của chế độ thực dân Pháp sau khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được ngộ ra nhiều điều, ông đã cố gắng bảo vệ những người yêu nước đứng lên giành tự do, độc lập và những người nghèo. Như sự thôi thúc từ bên trong, như được học những bài học chính trị tại tòa án, ông đã ra sức biện hộ, cứu mạng cho những người yêu nước như Hoàng Xuân Bình, Lý Hải Châu, Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên… Ông lao vào cuộc ở tuổi 40 với tay không và hậu thuẫn của cộng đồng. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và là một trong những người tổ chức cuộc đấu tranh chống Mỹ buộc hai tàu chiến Mỹ rút khỏi Sài Gòn.

Ngày 19/3/1950, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thay mặt phái đoàn các giới báo cáo về các cuộc tiếp xúc với Thủ hiến Trần Văn Hữu, buổi báo cáo chuyển sang hình thức hàng vạn người biểu tình thị uy đuổi tàu chiến Mỹ đậu trên bến Sài Gòn. Đây là cuộc biểu tình phản đối Mỹ âm mưu can thiệp vào Đông Dương, giương cao cờ đỏ sao vàng ở khắp nơi, đốt xe của các quan chức Pháp, đốt hình nộm, buộc hai tàu chiến Mỹ phải nhổ neo.

Với những hoạt động đấu tranh liên tục, ông bị bắt, bị đày tận Mường Tè, Lai Châu, nơi mà “một tiếng gà gáy ba nước cùng nghe” để tách ra khỏi phong trào Sài Gòn. Hai năm sau, chúng chuyển ông về Sơn Tây và cuối 1952 được thả ra, tiếp tục hoạt động: ký bản tuyên bố của trí thức Sài Gòn, đòi phải thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh, đòi chấm dứt chiến tranh, tiếp tục bào chữa cho cán bộ kháng chiến, những người yêu nước. Sau Hiệp định Genève, ông thành lập Phong trào bảo vệ hòa bình và tham gia tổ chức biểu dương lực lượng mừng hòa bình. Cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu trước bùng binh chợ Bến Thành. Lần này, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đày ra Hải Phòng, rồi đưa về Sài Gòn và sau đó bị quản thúc 6 năm ở Phú Yên. Cuối năm 1961, ông được quân dân Phú Yên tổ chức giải thoát đưa về Căn cứ Dương Minh Châu, nơi mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng bầu ông làm Chủ tịch. Từ đây, ông xuất hiện trước dư luận trong nước và quốc tế như một ngọn cờ hiệu triệu, có uy tín và có sức tập hợp lớn.

Tại Đại hội lần thứ III của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo ông, điều cốt lõi là phải nhận thức đúng về vai trò, vị trí của Mặt trận. Đây không phải là cây kiểng hoặc tổ chức của người cao tuổi… Mặt trận phải là nơi hội tụ trí tuệ, sáng kiến của các tầng lớp nhân dân, là trung tâm đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, quá khứ, chính kiến, tôn giáo, dân tộc… Mặt trận cần lấy lòng nhân ái, bao dung, tin cậy và chân thành hợp tác để đoàn kết vì đại nghĩa của dân tộc, vì tương lai đất nước. Ông đề nghị xác định mối quan hệ đúng đắn giữa Đảng và Mặt trận theo tinh thần Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận, làm sao để Mặt trận trở thành chỗ dựa chính trị tin cậy của Nhà nước. Ông đã tạo nên sự khởi sắc trong hoạt động của Mặt trận, xác lập được rõ hơn vị thế của Mặt trận trong hệ thống chính trị và là người thực hiện đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch nước, Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội khóa VI, VII, VIII, là Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông là vị Chủ tịch Quốc hội thứ năm, luôn quan tâm xây dựng một Quốc hội thực hiện trọng trách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Vấn đề ông thường xuyên quan tâm hơn cả là phát huy dân chủ và xây dựng pháp luật. Chủ tịch rất sợ sự bằng lòng với cái đã làm, mọi cái đều thông qua hết cả nhưng lại là trên đường mòn. Ông không sợ nghe những vấn đề gai góc, chỉ ngại nghe những phát biểu không có nội dung gì. Thời ông làm Chủ tịch, tham luận không cần gửi nội dung trước. Ông thường cho ý kiến chỉ đạo trực tiếp và cụ thể vào những vụ khiếu nại khi xét thấy nghiêm trọng, sau đó theo dõi những bước xử lý. Ông hay nhắc câu: “Luật mà thi hành không nghiêm thì sẽ là luật rừng, luật rừng sẽ đẻ ra xã hội rừng”. Ông là người của công lý và đạo nghĩa. Với ông, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất cứ ai.

Có hai kỷ niệm của ông đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Vào năm 1986, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ được Giải thưởng quốc tế Lênin Vì sự nghiệp củng cố hòa bình giữa các dân tộc do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng. Chủ tịch đã quyết định dành trọn số tiền thưởng 35.000 bảng Anh tặng thiếu nhi Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền đó đã dùng vào việc hoàn thiện trang thiết bị hai ngôi trường huấn luyện cán bộ Đội Thiếu niên Tiền phong (Trường Đội Lê Duẩn Hà Nội và Trường Huấn luyện cán bộ Đội Thiếu niên Tiền phong Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1991, khi lập Quỹ học bổng hiếu học của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã đồng ý làm Chủ tịch danh dự của quỹ. Nhờ uy tín của ông, nhiều đơn vị, cá nhân đã có những đóng góp, trong đó có những kiều bào ở nước ngoài, trích lương hưu gửi về cho quỹ. Ông luôn quan tâm, động viên, khích lệ người trẻ phấn đấu sao cho có trí, có dũng, có tâm. Ông ít nói bằng lời mà chính bằng việc làm, bằng chính con người thật của mình.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tên ông, cuộc đời và sự nghiệp đầy thử thách của ông luôn sáng đẹp trong lòng hậu thế.

Số Phận Khắc Nghiệt Của Phu Nhân Cố Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ / 2023

Bà Dương Thị Chung, phu nhân cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng hai người con là ông Nguyễn Hữu Châu và bà Nguyễn Thị Thủy. (Ảnh: Quốc Định).

Được đào tạo trong môi trường giáo dục Pháp, trên đất Pháp, hành nghề luật sư dưới chế độ thuộc địa Pháp, hẳn ai cũng nghĩ Luật sư (LS) Nguyễn Hữu Thọ sẽ gắn bó với nước Pháp, để tiến thân. Nhưng LS Nguyễn Hữu Thọ đã đến với cách mạng, với những người cần lao một cách tự nhiên, lòng yêu nước và nghĩa đồng bào. Dấn thân và hy sinh cho đất nước, ông không có được những điều lẽ ra mọi người bình thường đều phải có: công việc ổn định, gia đình êm ấm và cuộc sống bình an.

Ông Nguyễn Hữu Châu, trưởng nam của cố LS Nguyễn Hữu Thọ, tâm sự: “Cách đây khoảng 20 năm, trước khi rơi vào tình trạng hôn mê, cha chúng tôi kịp trối lại rằng cuộc đời cha trải qua biết bao thăng trầm, nhưng dù thế nào, mẹ và ba con Trân, Châu, Thủy là những người cha yêu thương và cũng là những người yêu thương cha nhất. Điều cha ân hận là không có điều kiện chăm sóc đầy đủ cho các mẹ con”. Trong suốt cuộc đời hoạt động, LS Nguyễn Hữu Thọ đã có khoảng 36 năm không được gần gũi vợ con, theo lời kể của ông Phạm Văn Uyển- thư ký duy nhất của cố LS. Tuy nhiên, cũng theo ông Châu: “Điều an ủi lớn nhất đối với tất cả các thành viên trong gia đình là cha chúng tôi đã hy sinh, cống hiến gần cả cuộc đời để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Lịch sử, Nhà nước và nhân dân ta ghi nhớ công ơn của cố LS Nguyễn Hữu Thọ đã đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, song ít người có cơ hội tìm hiểu cuộc sống riêng và những hy sinh thầm lặng mà bản thân ông cũng như nhiều thành viên trong gia đình ông đã trải qua. Trong đó có người bạn đời mà hầu hết thời gian gần như là sống xa nhau: bà Dương Thị Chung- phu nhân của cố LS Nguyễn Hữu Thọ.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân luật tại Pháp năm 1932, LS Nguyễn Hữu Thọ về nước hành nghề, lập văn phòng luật sư riêng ở Mỹ Tho. Cũng trong thời gian ấy, ông bắt đầu làm quen với một nữ sinh Trường Áo Tím ở Sài Gòn (nay là Trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai). Đó là cô Dương Thị Chung, sinh năm 1922, con gái của Đốc phủ sứ Dương Văn Hòa và bà Lâm Thị Phụng ở Sa Đéc.

Năm 1940 hai người kết hôn và chuyển về sống và mở văn phòng luật tại Vĩnh Long, Cần Thơ. Trong khoảng thời gian đó, ông bà có được 3 người con, lần lượt là: Nguyễn Phương Trân, Nguyễn Hữu Châu và Nguyễn Thị Thủy.

Theo ông Châu, đó chính là khoảng thời gian ít ỏi trong đời LS Nguyễn Hữu Thọ được sống yên lành, hạnh phúc bên gia đình. Không ít người nghĩ rằng hạnh phúc trong hôn nhân, gia đình, sự nghiệp đang thăng tiến của LS Nguyễn Hữu Thọ sẽ giữ chân ông cộng tác với chính quyền thực dân đang rất ưu đãi và tạo điều kiện cho ông. Ngay sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, năm 1946 chính quyền thực dân đã bổ nhiệm LS Nguyễn Hữu Thọ làm Chánh án Toà Dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Tuy nhiên, với lòng yêu nước và nghĩa đồng bào kết hợp với sự nhận thức sâu sắc về lẽ công bằng và dân chủ LS Nguyễn Hữu Thọ luôn đứng về phía nhân dân để bảo vệ công lý và bênh vực lẽ phải, trong đó có cả những nhà cách mạng trước tòa án thực dân. Điều đó thực ra đã bắt đầu trong tâm trí của người sinh viên Nguyễn Hữu Thọ lúc ông còn du học ở Pháp.

Sống trong môi trường đầy đủ, bên cạnh các “ông tây, bà đầm” ở nước Pháp hoa lệ trong khi Tổ quốc Việt Nam đang chìm đắm trong vòng nô lệ, ông đã từng tự nhủ: Ráng học giỏi để về nước làm gì có ích cho nước, có lợi cho dân. Từ đó, ông có niềm tin rằng nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc sẽ giành được độc lập, tự do cho đất nước.

Ngay trong Cách mạng Tháng Tám và tiếp theo là Nam Bộ kháng chiến, LS Nguyễn Hữu Thọ đã tham gia nhiều phong trào, hoạt động yêu nước của giới trí thức. Năm 1947, ông từ chức Chánh án Vĩnh Long để lên Sài Gòn mở văn phòng luật nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động của ông rộng lớn hơn theo yêu cầu của cách mạng. Từ đó, ông tham gia nhiều phong trào hoạt động yêu nước của giới trí thức và ngày càng dấn thân nhiều hơn, sâu hơn.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhắc đến một chi tiết ấn tượng: “Không ít trường hợp, luật sư bào chữa không lấy thù lao và cũng y như vậy, không phải thân chủ đến gõ cửa luật sư mà chính luật sư sục sạo trong đống cáo trạng để chọn “thân chủ” mà vấn đề luôn gay gắt, luôn kề cái án tử hình bởi đó là những Hoàng Xuân Bình, Nguyễn Châu Sa (Nguyễn Thị Bình), Lý Hải Châu, Đỗ Duy Liên, cùng hàng trăm trường hợp tương tự mà LS Nguyễn Hữu Thọ đã đem hết trí lựcvà trái tim giành mạng sống cho họ”.

Những hoạt động yêu nước đã dẫn ông đến chặng đường tù ngục và lưu đày dài dằng dặc, có lúc bị đưa ra tận vùng heo hút khổ cực nhất thời ấy là nhà lao Lai Châu, có lúc bị đưa về giam rồi quản thúc nhiều năm tại Phú Yên… Sống cách ly đã lâu và bị áp lực tâm lý quá nặng nên sau này vợ ông là bà Dương Thị Chung đã bị bệnh tâm thần.

Sau đó, để tách luật sư ra khỏi phong trào đấu tranh ở Sài Gòn, chính quyền thực dân đã đày ông ra tận nhà tù ở Hà Nội, rồi nhà tù ở Bản Giằng, Mường Tè, Lai Châu vào năm 1950. Ông Nguyễn Hữu Châu cho biết: “Khi cha tôi bị đày ra tận Lai Châu, sát vùng biên giới phía Bắc, dù mẹ con tôi rất muốn đi thăm cha, nhưng vô phương, không cách nào tìm đường để đi đến đó được”.

LS Nguyễn Hữu Thọ đã gửi thư phản đối chính quyền thực dân về hành động này, trong đó ông lên án chính quyền này đã âm mưu “chia rẽ hoàn toàn vợ với chồng, cha với con và vô nhân đạo”.

Nói về giai đoạn này, ông Nguyễn Hữu Châu kể: “Lúc này em Thủy chưa đầy 2 tuổi. Lần đầu tiên sống xa chồng, một nách 3 con, mẹ tôi sống trong buồn lo và căng thẳng. Mẹ mất ngủ kéo dài, thần kinh ngày càng suy nhược. Họa vô đơn chí, ngôi nhà 152 De Gaulle (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) ở Sài Gòn bị chủ đòi lại. May là có bà ngoại cho mẹ, con về ở chung. Tháng 11/1952, cha tôi được trả tự do, gia đình lại được xum họp.

Trong thời gian này cha tôi dành thời gian chữa trị bệnh cho mẹ tôi ở bệnh viện Chợ Quán. Nhưng việc nước, việc dân lại dồn dập, khẩn trương cha tôi tham gia thành lập Phong trào bảo vệ hòa bình, đòi thi hành Hệp định Genève. Ngày 15/11/1954, cha tôi lại bị bắt giam mà không được thông báo trước. Chúng tôi cũng không biết chính quyền đưa cha tôi đi giam ở đâu. Về sau mới biết chúng đưa cha tôi đi quản thúc ở Hải Phòng. Sau đó, chính quyền Sài Gòn tiếp tục đày ải cha tôi tại Phú Yên. Trong thời gian đó, mẹ tôi rất lo lắng và căng thẳng vì không có tin tức gì của cha tôi, không biết sống chết ra sao, bệnh tình mẹ tôi lại càng thêm nặng.

Rồi có một tin sét đánh, gia đình tôi nhận được một điện tín khẩn báo rằng cha tôi bệnh rất nặng ở Phú Yên. Gia đình gấp rút ra ngoài đó tìm cha tôi, tưởng là để chôn cất cha. May mắn nhờ một mũi tiêm thuốc kịp thời đã cứu sống cha tôi, cứu mạng được cha tôi sau một trận đánh tàn nhẫn của kẻ thù tại huyện Củng Sơn, Phú Yên”.

Trong suốt thời gian LS Nguyễn Hữu Thọ bị giam cầm ở Phú Yên gia đình ông ở Sài Gòn hết sức khó khăn. Bà Dương Thị Chung lúc này bệnh tình rất nặng, không có điều kiện chăm sóc và chữa trị, phải vào nhà dưỡng lão Thị Nghè, trong lúc 3 con còn nhỏ phải vào trường nội trú.

Ông Châu cho biết, tình hình gia đình lúc này rất bế tắc, không có nhà để ở. May thay, có người quen giúp đỡ cho mượn tiền để 3 chị em mướn được căn nhà trong hẻm nhỏ, đưa mẹ về chăm sóc.

“Chị Trân và tôi phải vừa đi học vừa đi dạy thêm kiếm tiền nuôi mẹ và cả nhà. Nhà khoảng 40 mét vuông, chật hẹp, 4 mẹ con ngủ dưới đất, nhà bếp, nhà ăn, nhà tắm là một, đi vệ sinh công cộng. Vì quá thương vợ con bơ vơ, dù bị tù tội đày ải, cha tôi vẫn tìm cách viết thơ cho nhiều bạn bè nhờ họ giúp mẹ con tôi vượt qua hoàn cảnh éo le này… Tuy vậy, chúng tôi vẫn sống hạnh phúc với niềm tin ở người cha có trách nhiệm với gia đình, với đất nước và nhân dân”.

Sau ngày 30/4/1975, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về Sài Gòn và bà Chung vợ ông vẫn đang ở căn nhà trong hẻm nhỏ. Đây là lần xum họp gia đình kéo dài nhất của ông cho tới ngày ông qua đời ngày 24/12/1996. Tuy nhiên, đáng buồn là trong thời gian này bệnh tình của bà Dương Thị Chung không suy giảm. Ông Nguyễn Hữu Châu ngậm ngùi nói: “Cha tôi ra đi nhưng ông cũng yên tâm vì biết các con đã và đang chăm sóc tốt cho mẹ”.

Có thể nói, bà Dương Thị Chung là một trong những vị phu nhân có hoàn cảnh hết sức đặc biệt và éo le của những nhà cách mạng tiền bối, những người từng giữ vai trò, vị trí quan trọng trong hàng ngũ lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Suốt cuộc đời bà hầu như chỉ có lo lắng và căng thẳng cho số phận của chồng, con không có lấy một ngày bình an cho bản thân mình.

Ngày 25/2/2016, các con cháu ông bà LS Nguyễn Hữu Thọ và Dương Thị Chung lại họp mặt, tưởng nhớ một thời kỳ gian khổ đã qua và chúc thọ bà tròn 95 tuổi. Cố Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ chắc cũng yên lòng…

Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ: Nhà Trí Thức Yêu Nước Vĩ Đại / 2023

Cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương, một mình lên tàu vượt đại dương sang Pháp du học. Suốt 11 năm miệt mài đèn sách ở xứ người, năm 1933 ông tốt nghiệp cử nhân luật hạng ưu và trở về nước mở Văn phòng luật sư tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và tại Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sống tại mảnh đất Nam Kỳ tự trị, được đào tạo tại “chính quốc”, thông thạo lịch sử, văn chương, văn hóa Pháp, có văn bằng cấp cao, điều kiện vật chất ổn định lại có môi trường gia đình, xã hội thuận lợi, luật sư trẻ Nguyễn Hữu Thọ có đủ mọi thứ để được ưu đãi và để cho mình có một cuộc sống giàu sang, một vị trí xã hội xứng đáng.

Song, luật sư đã khước từ tất cả và quyết định dấn thân vào con đường đấu tranh của nhân dân – con đường đấu tranh cách mạng đầy cam go, nguy hiểm và đã trở thành nhà lãnh đạo nổi tiếng của phong trào cách mạng Việt Nam.

Năm 1947, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tham gia phong trào yêu nước của trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn đòi Chính phủ Pháp thương lượng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chấm dứt chiến tranh xâm lược.

Năm 1948, Luật sư lên chiến khu hoạt động theo lời mời của Ủy ban kháng chiến Nam bộ với mong muốn được trực tiếp chiến đấu ở bưng biền.

Song với ý thức chấp hành kỷ luật cao, Luật sư đã trở lại Sài Gòn hoạt động công khai theo sự phân công của tổ chức.

Lấy tòa án làm chiến trường, với tài hùng biện xuất chúng và am hiểu sâu sắc luật pháp nước Pháp cũng như luật pháp xứ thuộc địa, Luật sư đã biện hộ thành công cho nhiều đồng bào, đồng chí của mình chẳng may sa vào tay giặc, đồng thời tố cáo trước dư luận trong nước và thế giới cuộc chiến tranh xâm lược dã man cũng như chế độ cai trị thuộc địa tàn bạo của thực dân Pháp.

Ngày 16/10/1949, Luật sư được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1950, đồng chí tham gia thành lập phái đoàn đại biểu các giới tại Sài Gòn và làm Trưởng phái đoàn đại biểu đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ, các quyền dân sinh, chống khủng bố, đàn áp.

Đầu năm 1950 đế quốc Mỹ công khai đưa tàu chiến chở vũ khí, xe tăng và cả máy bay vào cảng Sài Gòn để giúp quân đội xâm lược Pháp.

Ngày 19/3/1950, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được tổ chức phân công tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên ở nước ta.

Khí thế đấu tranh sôi sục của cả nước và hàng triệu người dân thành phố đã buộc hai tầu chiến của Mỹ rút khỏi cảng Sài Gòn, ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của Luật sư, thực dân Pháp đã bắt và đầy Luật sư ra Bắc quản thúc tại bản Giàng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khi quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng Tây Bắc thì chúng đưa Luật sư về giam ở Sơn Tây.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của Đoàn Luật sư và các nhân sĩ, trí thức có tên tuổi ở Sài Gòn – Gia Định, tháng 11/1952 Luật sư được trả tự do và trở về Sài Gòn, mở lại văn phòng luật và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù ngay tại sào huyệt của chúng.

Tháng 8/1954, Luật sư tham gia thành lập phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn đấu tranh đòi Chính phủ Pháp và chính quyền bù nhìn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi thả tù chính trị, thực hiện quyền tự do, dân chủ và được cử làm Phó Chủ tịch Phong trào.

Địch hoảng sợ, một mặt ra tay đàn áp, giải tán phong trào; mặt khác để ngăn chặn ảnh hưởng to lớn của Luật sư trong phong trào chống Mỹ ở thành phố lớn nhất và quan trọng nhất ở Nam bộ lúc đó, ngày 15/11/1954, Luật sư bị bắt giam và lưu đầy gần 7 năm ở Tuy Hòa và miền núi Củng Sơn tỉnh Phú Yên.

Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.

Ngày 30/10/1961, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được nhân dân và các lực lượng vũ trang Phú Yên giải thoát và đưa về Trung ương Cục miền Nam lúc đó đóng ở chiến khu Dương Minh Châu.

Tháng 2/1962, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam mở Đại hội lần thứ nhất.

Tại Đại hội Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương giải phóng miền Nam Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Tháng 3/1964, Đại hội lần thứ hai Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bầu Luật sư làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Có sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Luật sư – Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã góp phần to lớn vào việc động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris với sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 6/6/1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, Luật sư được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Với cương vị người đứng đầu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Luật sư đã lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam tập hợp, đoàn kết, động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, chính trị, ngoại giao, binh vận gay go và ác liệt vào bậc nhất trong thế kỷ XX chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn theo lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà.

Sau khi thống nhất đất nước, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được nhân dân bầu làm đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII, VIII và được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 6/1976), Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4/1986), Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 7 năm 1981).

Đối với công tác Mặt trận, tại Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận họp từ 31/1 đến ngày 4 tháng 2 năm 1977, Luật sư được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III họp tháng 11/1988, Bộ Chính trị giới thiệu đồng chí Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Mặt trận song đồng chí từ chối với lý do “tuổi đã cao, sức yếu”. Đích thân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hai lần trực tiếp gặp gỡ, thuyết phục nhưng Luật sư vẫn khước từ.

Trước tình hình đó, Đại hội trù bị giới thiệu Luật sư Phan Anh thay thế. Các đoàn đại biểu miền Nam xin lùi thời gian bàn nhân sự để tiếp tục vận động, thuyết phục Luật sư.

Chiều đó, đại biểu 14 đoàn miền Tây Nam bộ đến gặp Luật sư nêu rõ nguyện vọng đồng thời là yêu cầu của đồng bào miền Nam muốn Luật sư tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết.

Như Luật sư đã phát biểu: “Đảng giao tôi có thể từ chối vì tuổi cao, sức yếu. Song dân giao tôi phải làm”. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được Đại hội bầu làm Chủ tịch và Luật sư Phan Anh được bầu làm Phó Chủ tịch thứ nhất.

Là người chấp bút Dự thảo Diễn văn bế mạc Đại hội, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ yêu cầu tôi bổ sung và nhấn mạnh ý sau:

“Đại hội chúng ta đã thành công tốt đẹp. Nhưng cũng mới thành công trong Hội trường. Nhân dân đòi hỏi chúng ta đồng tâm, hiệp lực, thống nhất hành động để biến những thành công trong Hội trường thành hiện thực trong cuộc sống.

Với lòng mong muốn đó, tôi tuyên bố Bế mạc Đại hội ở Hội trường này và khai mạc Đại hội hành động trong cuộc sống”.

Tinh thần chủ đạo, nội dung xuyên suốt trong chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa III (1988 – 1993) mà Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch là: “Tham gia xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ hàng đầu với yêu cầu: Xây dựng chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh; tổ chức thực hiện tốt quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân; thiết thực tham gia cuộc vận động “làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng, làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội…”.

Để báo Đại Đoàn Kết – cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là tờ báo nói lên tiếng nói, đại diện cho ý chí của các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được Ban Bí thư Trung ương Đảng đồng ý, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trực tiếp làm Chủ nhiệm báo Đại Đoàn Kết. Đây là tờ báo duy nhất có chức danh Chủ nhiệm thời đó.

Với nhận thức “Muốn đoàn kết thực sự phải có dân chủ thực sự” mà Bác Hồ đã tổng kết, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã cùng tập thể lãnh đạo Mặt trận Trung ương dành thời gian, tâm huyết tìm hiểu thực trạng, tháo gỡ khó khăn trong công tác Mặt trận nhằm phát huy dân chủ, kiến nghị với Đảng và Nhà nước những cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm vun đắp, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng và phát huy vai trò Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam trong thời kỳ mới.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc, cho dân tộc. Như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lúc đương nhiệm đã đánh giá: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quả là một nhà yêu nước vĩ đại”.

Bạn đang xem bài viết Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ Và Những Nơi Lưu Dấu Của Ông Ở Phú Yên / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!