Xem Nhiều 12/2022 #️ Một Số Thuật Ngữ Trong Pháp Luật Hôn Nhân Gia Đình ? / 2023 # Top 13 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Một Số Thuật Ngữ Trong Pháp Luật Hôn Nhân Gia Đình ? / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Thuật Ngữ Trong Pháp Luật Hôn Nhân Gia Đình ? / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

2. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;

3. Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định;

4. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;

5. Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ;

6. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;

7. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân;

8. Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;

9. Cưỡng ép ly hôn là hành vi buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện vọng của họ;

10. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này;

11. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này;

12. Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại;

13. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba;

14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;

Trân trọng./. Bộ phận tư vấn luật – Kiến thức Luật pháp

1. Tư vấn thủ tục ly hôn;

2. Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;

3. Dịch vụ tư vấn pháp luật: Lĩnh vực hôn nhân gia đình;

4. Luật sư Bảo vệ trong các vụ án Hôn nhân và gia đình;

5. Luật sư đại diện tranh tụng lĩnh vực Hôn nhân – Gia đình;

6. Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự – hôn nhân – gia đình;

Luật sư Minh Tiến

Một Số Đề Thi Môn Luật Hôn Nhân Gia Đình / 2023

MỘT SỐ ĐỀ THI – CÂU HỎI VỀ MÔN HỌC LUẬT HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH

Mình sưu tầm một số đề thi các môn luật. các bạn sinh viên theo dõi thường xuyên và làm thử bài nghen.

I. Lý thuyết

Trả lời đúng sai và giải thích các nhận định sau:

1) 1. Người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự là người có năng lực hành vi hôn nhân gia đình.

2) Khi tòa án không công nhận nam nữ là vợ chồng thì tài sản chung chia đôi.

Sai. Khi tòa án không công nhận nam nữ là vợ chồng thì theo quy định tại khoản 3 điều 17 LHNGD tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng cúa phụ nữ và con.

3) Nam nữ chung sống trước ngày 01/01/2001 đều được công nhận là vợ chồng.

Sai. Nam nữ chung sống trước ngày 01/01/2001 được chia thành hai trường hợp: từ trước ngày 03/01/1987 và từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001. Trong trường hợp, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn mà không đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì theo quy định tại điểm b khoản 3 nghị quyết 35 kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ vẫn chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

4) Người đang chấp hành hình phạt tù không có quyền nhận người khác làm con nuôi.

Sai. Vì người đang chấp hành hình phạt tù có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhận con nuôi theo khoản 1 điều 143 BLDS.

5) Khi ly hôn, việc giao con chung từ đủ 9 tuổi trở lên cho cha hoặc mẹ nuôi là căn cứ vào nguyện vọng của con.

6) Ông bà là đại diện đương nhiên cho cháu khi cha mẹ của cháu chết.

Anh A kết hôn hợp pháp với chị B năm 2000, có đăng ký kết hôn. Tháng 03/2004, anh A chung sống như vợ chồng với chị C, có một con chung sinh năm 2005. Tháng 06/2005, chị B phát hiện được sự việc trên và yêu cầu anh A chấm dứt quan hệ trái pháp luật với chị C, song anh A vẫn cố tình vi phạm. Để bảo vệ quyền lợi cho mình, chị B đã làm đơn yêu cầu tòa án huyện K hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C và tòa án đã thụ lý yêu cầu của chị B. Tòa án huyện K đã ra quyết định tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C. Theo anh/chị, Tòa án đã giải quyết như vậy là đúng hay sai? Tại sao?

Tòa án giải quyết như vậy là sai. Vì anh A và chị C chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo khoản 1 điều 11 LHNGD . Nếu có yêu cầu hủy việc đăng ký hôn của chị B, thì tòa án không tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật mà tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

ĐỀ THI MÔN: LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH Thời gian làm bài: 60 phút Sinh viên được sử dụng tài liệu khi làm bài thi

Môn HNGĐ này có rất nhiều văn bản dưới Luật nên khá lúng túng. Tuy nhiên cũng vừa kịp giải môt số bài gởi Diễn Đàn tham khảo ,trước kỳ thi .Mong đc đón nhận và hiệu chỉnh.

ĐỀ THI LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH – ĐỀ 01

ĐỀ THI LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH – ĐỀ 02

ĐỀ THI LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH – ĐỀ 03

b) Khác nhau: Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định.

Quan hệ cấp dưỡng khác với quan hệ nuôi dưỡng ở các đặc điểm sau:

– Là quan hệ pháp luật về tài sản. – Là nghĩa vụ riêng về tài sản của bản thân người có nghĩa vụ. – Là loại nghĩa vụ không được bù trừ theo qui định của pháp luật. – Chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. – Không mang tính đền bù tương đương; Không có tính chất tuyệt đối và không diễn ra đồng thời. – Là một quan hệ phái sinh và chỉ phái sinh khi có những điều kiện nhất định.

2- Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình không nhất thiết phải có đầy đủ năng lực chủ thể HNGD. Chẳng hạn, đối với quan hệ nuôi con nuôi: Chủ thể là con nuôi vẫn có thể là người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ (người chưa đủ 18 tuổi). Khoản 2 Điều 71 Luật HNGĐ qui định: “Việc nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó”. Như vậy trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên đến chưa đủ 18 tuổi mặc dù là người chưa thành niên, tức người có năng lực hành vi chưa đầy đủ, vẫn là chủ thể tham gia quan hệ con nuôi và vẫn có quyền quyết định đối với việc đồng ý hay không đồng ý về làm con nuôi người khác.

ĐỀ THI : LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH Lớp 5C – Lần 2 Khoa : Dân sự – Đại học Luật TP.HCM Thời gian : 60 phút Được sử dụng tài liệu.

2. Anh, chị, em ruột có quyền yêu cầu TA hạn chế quyền của Cha mẹ đối với con theo Điều 41 luật HNGĐ2000.

3. Người không có điều kiện về kinh tế vẫn có thể có quyền nhận nuôi con nuôi.

5. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà không thực hiện nghĩa vụ thì TA có thể ra quyết định buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, tính từ ngày ghi trong bản án quyết định.

6. Người chưa thành niên cũng có thể kết hôn.

II. Bài tập (4 điểm) Năm 1990, ông A được Cha mẹ mình tặng cho 1 căn nhà diện thích 40m2. Năm 2000 ông A kết hôn với bà B. Sau khi kết hôn hai người về sống chung trong căn nhà này. Năm 2005 ông A chết trong 1 tai nạn giao thông. Sau khi ông A chết, bà B có đơn yêu cầu TA chưa cho chia di sản thừa kế là căn nhà nói trên, vì nếu phân chia sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến của sống của bà và 2 đứa con nhỏ là C (4 tuổi) và D (2 tuổi). Nhưng bố mẹ của ông A lại yêu cầu phân chia di sản thừa kế nói trên, vì ông bà không còn khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và hiện tại không có ai nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Theo anh chị thì TA sẽ giải quyết như thế nào? Chấp nhận yêu cầu của ai? Nêu cơ sở pháp lý.

3. A xây nhà cho B với thoả thuận tiền công là 100 triệu đồng,sau khi hoàn thiện, B đã thanh toán đầy đủ tiền công cho A và còn cho thêm A 20 triệu đồng do chất lượng công trình tốt và đẹp.A đưa cho vợ 100 triệu đồng còn 20 triệu đồng thì mang đến cho vợ cũ của mình.Vợ của A biết chuyện đã kiện ra toà đòi vợ cũ của A trả lại 20 triệu đồng đó.Hỏi nếu toà án giải quyết như thế nào ?

4. A, B là vợ chồng, A có một căn nhà là tài sản riêng, cho một công ty nước ngoài thuê trong thời hạn 5 năm, bắt đầu từ năm 2000, mỗi năm 100 triệu đồng.Theo hợp đồng sẽ thanh toán từng năm.Năm 2002, A và B thoả thuận chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng.Năm 2005 A và B ly hôn,B yêu cầu toà án phải chia thêm một nửa số tiền thuê nhà, A không đồng ý.Hỏi toà án sẽ giải quyết như thế nào ?

5. A và B chung sống như vợ chồng năm 1990, năm 1994 hai bên mâu thuẫn và đã tự thoả thuận chia tài sản chung bằng văn bản, và không chung sống với nhau nữa. Năm 2002 A trúng xổ số 200 triêu đồng và chị B yêu cầu chia một nửa tài sản.Hỏi toà án sẽ giải quyết như thế nào ? Trả lời: Việc A và B chung sống như vợ chồng vào năm 1990 tức trong khỏang thời gian từ ngày 3/1/1987 đến trước ngày 1/1/2001. Theo qui định của PL thì A và B có nghĩa vụ phải đi đăng ký kết hôn trong khỏang thời gian từ 1/1/2001 đến 1/1/2003 thì mới được PL công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên đến năm 1994 hai người bằng lòng chia tay khi vẫn chưa ĐKKH nên tại thời điểm chia tay đó (1994) 2 người vẫn chưa được công nhận là vợ chồng. Như vậy việc năm 2002 chị B yêu cầu chia tiền trúng số là không có cơ sở.

6. A và B chung sống như vợ chồng từ năm 1985, co 2 con chung, năm 2002 A đã có quan hệ ngoại tình với M và chung sống như vợ chồng, năm 2003 A và M đã kết hôn với nhau.B yêu cầu huỷ quan hệ giữa M và A thì toà án sẽ giải quyết như thế nào ? Trả lời: A và B chung sống như vợ chồng từ 1985 và có 2 con chung nên A và B mặc nhiên được PL côngnhận là vợ chồng. Việc năm 2002 A chung sống như vợ chồng với M là vi phạm hôn nhân 1 chồng 1 vợ. Năm 2003 A kết hôn với M là vi phạm điều kiện kết hôn. Nay bà B yêu cầu tòa hủy quan hệ giũa A và M là có cơ sở và nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình cho bà B. Do A và M đã đăng ký kết hôn nên bà B có quyền yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái PL do đã vi phạm điều kiện kết hôn được qui định tại khoản 3 Điều 9.

8. A và B là vợ chồng hợp pháp và sinh C vào năm 2001, trong giấy khai sinh AB là cha mẹ của C, năm 2005 X đã đến nhận C làm con của mình, A và B cũng chấp nhận. Hỏi thủ tục giải quyết như thế nào ? Trả lời: Muốn nhận C là con của mình thì X phải làm thủ tục xin nhận C làm con nuôi.

9. A và B là vợ chồng hợp pháp, có tài sản chung là 500 triệu đồng, đã thoả thuận bằng văn bản chia tài sản chung để A kinh doanh riêng để tránh rủi ro cho gia đình.Hai bên vẫn hạnh phúc và sống chung, mỗi người được 250 triệu đồng.Sau khi chia tài sản thì A nói với B là lương của B sẽ chi tiêu cho gia đình còn A kinh doanh để tích luỹ cho gia đình.Sau 3 năm A kinh doanh thu được khoản lợi tức là 200 triệu đồng, hàng tháng B được hưởng lương là 5 triệu đồng và chi tiêu dùng hết cho đời sống gia đình.Sau đó A đã có hành vi ngoại tình và dùng số tiền lợi tức đó cho người tình của mình.B yêu cầu ly hôn và yêu cầu đòi lại số tài sản đó có được không?

Gia Đình Và Pháp Luật Hôn Nhân / 2023

Vai trò điều tiết của pháp luật.

Luật đóng vai trò phụ trợ, một khi gia đình được trao quyền tự chủ rộng rãi. Gia đình tự chủ, về phần mình, được tổ chức theo mô hình Nhà nước quân chủ và được đứng đầu bởi một người chủ gia đình với những quyền hạn rộng rãi trong quan hệ với các thành viên khác, bao gồm cả quyền trừng phạt những thành viên không phục tùng. Quyền tự do cá nhân trong gia đình tự chủ thường được đặt ở vị trí thứ yếu so với lợi ích của gia đình.

Luật đóng vai trò tích cực, một khi gia đình được coi như một tập hợp nhỏ của một số thành viên của xã hội và khi gia đình và xã hội đều được trao trách nhiệm đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của thành viên đó, nghĩa là trong điều kiện quan hệ gia đình cần được xã hội hoá. Gia đình xã hội hoá được tổ chức theo mô hình của Nhà nước dân chủ. Quyền tự do cá nhân trong gia đình được luật thừa nhận và bảo vệ; quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chịu sự chi phối của cùng hệ thống quy tắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ giữa các thành viên trong xã hội.

Luật cũng có thể đóng vai trò phụ trợ trong một số trường hợp và tích cực trong một số trường hợp khác, một khi gia đình được coi như một tập hợp nhỏ của một số thành viên của xã hội, nhưng lại là một tập hợp đặc biệt gồm các thành viên gắn bó với nhau do quan hệ thân thuộc hoặc hôn nhân. Gia đình được tổ chức dựa theo tôn ti tự nhiên cũng như dựa theo các tiêu chí chung của xã hội về quan hệ bình thường giữa các thành viên trong xã hội. Quyền tự do cá nhân được tôn trọng trong chừng mực việc thực hiện quyền đó không gây phương hại đến vận mệnh và lợi ích chính đáng của gia đình.

Tính chất phòng ngừa phổ biến.

Luật hôn nhân và gia đình nhắm đến mục đích cao nhất là góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, hoà thuận và điều đó cần thiết cho sự phát triển bền vững của xã hội. Các quy tắc của luật đều có tác dụng phòng ngừa hoặc xử lý những tình huống khủng hoảng và bi kịch trong đời sống gia đình. Cấm kết hôn giữa những người thân thuộc, Nhà nước ngăn ngừa sự hình thành các gia đình thoái hoá về nòi giống và về đạo đức; áp đặt nghĩa vụ chung thuỷ giữa vợ và chồng, Nhà nước ngăn ngừa sự đổ vỡ của hôn nhân dẫn đến sự tan rã của gia đình; quy định rằng con phải kính trọng cha mẹ, Nhà nước ngăn ngừa khả năng xuất hiện những đứa con ngỗ ngược trong gia đình (và qua đó hạn chế khả năng xuất hiện những thành viên xấu của xã hội); quy định thành phần khối tài sản chung, khối tài sản riêng của vợ, chồng, Nhà nước hạn chế sự phát triển của các cuộc hôn nhân với động cơ không lành mạnh – hôn nhân vì tiền …

Luật Hôn Nhân Gia Đình / 2023

Thứ tư – 26/08/2015 10:38

Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Hiện tượng ly hôn diễn ra ngày càng phổ biến trong xã hội. Và có rất nhiều vấn đề phát sinh xung quanh vấn đề ly hôn, đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Do vậy, Hãng luật IMC – với những luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý trong đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này.

Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn chia làm 2 trường hợp: trường hợp vợ chồng sống riêng với nhau và trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng.

Trường hợp vợ chồng sống riêng với nhau.

Khi ly hôn, việc chia tài sản chung của vợ chồng do hai bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có xét đến một số yếu tố sau:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Ngoài ra, pháp luật cũng đặc biệt quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình: Trong khối tài sản chung với gia đình

Nếu đó là khối tài sản có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó. Sau đó được chia như trường hợp vợ chồng sống riêng vơi nhau.

Nếu khối tài sản đó không thể xác định được thì căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn vui lòng liên hệ:

Hãng luật IMC

Điện thoại: 036.593.9999

Địa chỉ: P1809 tòa 27A2 Green Stars, số 234 Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Email : bienpq@interimc.org.vn

Website: www.interimc.org.vn

Hãng luật IMC : Uy tín – Chất lượng – Hiệu quả – Bảo mật

IMC Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án: Dân sự – Kinh tế – Hôn nhân gia đình – Hành chính – Tài chính – Bất động sản – Sở hữu trí tuệ – Lao động – Đầu tư…

Bạn đang xem bài viết Một Số Thuật Ngữ Trong Pháp Luật Hôn Nhân Gia Đình ? / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!