Xem Nhiều 12/2022 #️ Nghị Quyết Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023 # Top 18 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Nghị Quyết Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Quyết Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án. Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm vẫn diễn biến phức tạp

Nghị quyết nêu rõ: Trong những năm qua, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và Tòa án nhân dân Tối cao đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, nỗ lực triển khai nhiều biện pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, vi phạm hành chính, giải quyết các tranh chấp, cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu, yêu cầu của các nghị quyết của Quốc hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và xử lý vi phạm hành chính cơ bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật, chất lượng ngày càng được nâng cao, hạn chế oan sai, tạo chuyển biến tích cực theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về thực hiện quyền tư pháp, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đại bộ phận cán bộ làm công tác tư pháp tận tụy với công việc, có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp. Việc xử lý vi phạm hành chính đối với nhiều vụ việc chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính. Công tác tư pháp vẫn còn một số hạn chế: Việc chấp hành pháp luật trong khởi tố, điều tra tội phạm có trường hợp chưa nghiêm. Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa đạt chỉ tiêu. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế chưa tương xứng với tình hình thực tế. Tỷ lệ thi hành án dân sự về tiền còn thấp so với số việc có điều kiện thi hành; một số sai phạm trong thi hành án dân sự chậm được khắc phục. Tỷ lệ thi hành án hành chính đạt thấp, kéo dài qua nhiều năm, nhất là trường hợp người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân…

Nâng tỷ lệ giải quyết các vụ án tham nhũng

Nghị quyết đã đưa ra các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Theo đó, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh triệt phá các loại tội phạm, nhất là tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm về ma túy, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao; ngăn chặn xử lý nghiêm tội phạm “tín dụng đen”. Tăng cường quản lý chất phóng xạ, hóa chất độc hại, chất cháy, chất nổ; có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt an ninh nguồn nước…, nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và sức khỏe của nhân dân. Tiếp tục giảm tai nạn giao thông cả về số vụ, số người chết và số người bị thương; giảm mạnh các vụ cháy nổ, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; chủ động đấu tranh, ngăn chặn các vi phạm về quản lý đất đai, trật tự xây dựng, vi phạm an toàn thực phẩm, tệ nạn xã hội. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm. Khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và đưa vào khai thác kể từ năm 2021.

Chính phủ chỉ đạo cơ quan điều tra các cấp bảo đảm tỷ lệ thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đạt 100%. Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đạt trên 90%. 100% vụ việc có dấu hiệu tội phạm đều phải được khởi tố vụ án để điều tra theo đúng quy định của pháp luật; điều tra khám phá các loại tội phạm đạt trên 75%; các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90% tổng số án khởi tố.

Các cơ quan cần nâng cao chất lượng công tác điều tra, đẩy nhanh tiến độ điều tra các loại án; tăng cường các biện pháp phòng, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các vụ án về kinh tế, chức vụ, tham nhũng; nâng tỷ lệ giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng năm sau cao hơn năm trước…

Chính phủ chỉ đạo Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án, Cơ quan thanh tra phối hợp chặt chẽ với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và Kiểm toán Nhà nước trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, nâng tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt đạt trên 60%; bảo đảm 100% các vụ việc khi thanh tra, kiểm toán phát hiện có dấu hiệu tội phạm đều được chuyển ngay và cung cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết đến Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền để xem xét việc khởi tố theo quy định của pháp luật.

Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai các biện pháp đồng bộ, bảo đảm thi hành nghiêm Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14; củng cố Cơ quan thi hành án hình sự cấp tỉnh, cấp huyện nhằm bảo đảm thi hành án đối với pháp nhân thương mại và thi hành các hình phạt khác; chỉ đạo ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật 100% đối với các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực; đôn đốc, kiểm tra việc thi hành đối với 100% bản án hành chính có hiệu lực pháp luật đồng thời xử lý trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp không chấp hành án hành chính nhằm bảo đảm kỷ cương, kỷ luật hành chính…

Không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm

Theo Nghị quyết số 96/2019/QH14, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ đạo các Viện Kiểm sát áp dụng đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; bảo đảm 100% trường hợp thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được kiểm sát; kiểm sát 100% số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố; không để xảy ra trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.

Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ đạo các Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố đúng thời hạn trên 90% số vụ án hình sự đã có kết luận điều tra đề nghị truy tố; bảo đảm truy tố bị can đúng tội đạt trên 95%; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự, chất lượng phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự, hành chính; bảo đảm các kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các loại án phải có căn cứ và đúng pháp luật. Tỷ lệ các kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 70%; tỷ lệ các kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 75%; tỷ lệ các kiến nghị được các cơ quan, đơn vị hữu quan chấp nhận đạt trên 80%.

Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cần đẩy nhanh tiến độ và nâng chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và đạt tỷ lệ từ 60% trở lên; bảo đảm việc trả lời đơn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; phối hợp với Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ Công an xem xét, giải quyết dứt điểm các đơn khiếu nại kêu oan, các đơn yêu cầu bồi thường kéo dài nhiều năm…

Tòa án nhân dân Tối cao cần có giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các loại án. Tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt trên 88%; án dân sự đạt trên 78%; án hành chính đạt trên 60%; hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan; bảo đảm tổng số bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt quá 1,5% tổng số các loại án. Giảm mạnh các bản án, quyết định tuyên không rõ, gây khó khăn cho công tác thi hành án…

Tòa án nhân dân Tối cao cần bảo đảm xét xử các vụ án hình sự nghiêm minh, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm; đẩy nhanh tiến độ xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, các vụ án điểm được dư luận xã hội quan tâm, có giải pháp tăng hiệu quả thu hồi tài sản do phạm tội mà có đối với các vụ án này. Đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, nhất là các vụ án kinh doanh, thương mại, các yêu cầu về tuyên bố phá sản doanh nghiệp; nâng tỷ lệ xét xử các vụ án hành chính, hạn chế thấp nhất việc để án quá hạn không đúng quy định của pháp luật; bảo đảm ra quyết định thi hành án hình sự đúng thời hạn luật định đối với người bị kết án phạt tù, pháp nhân thương mại bị kết án đạt tỷ lệ 100%…

Tòa án nhân dân Tối cao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an tiếp tục rà soát, xem xét, giải quyết dứt điểm các đơn khiếu nại kêu oan; tăng cường công tác tổng kết thực tiễn xét xử, giải quyết các loại vụ án, phát triển án lệ và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật; triển khai hiệu quả việc công khai bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án trên Cổng thông tin điện tử, Đề án Tòa án điện tử từ năm 2020.

Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án cần kịp thời giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và xử lý nghiêm trách nhiệm của người gây oan sai theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết nêu rõ: Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Kiểm toán Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan khẩn trương rà soát để sửa đổi, bổ sung, ban hành đầy đủ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Bộ luật, Luật, Nghị quyết của Quốc hội về lĩnh vực tư pháp theo nhiệm vụ được giao, bảo đảm các quy định mới được thi hành kịp thời, thống nhất.

Các cơ quan cần tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; sắp xếp bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp; trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án vị trí việc làm. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và của Quốc hội, các đơn vị nghiên cứu xây dựng cơ chế phân bổ biên chế cho các cơ quan tư pháp bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, thanh tra viên, kiểm toán viên; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Chính phủ cần có lộ trình, kế hoạch bố trí kinh phí để bảo đảm điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án. Tập trung triển khai hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, thông suốt trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Nâng cấp trang thiết bị cho hoạt động điều tra, khám nghiệm hiện trường, giám định tư pháp, nhất là các thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh phục vụ công tác điều tra theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự…

Nghị Quyết 96/2019/Qh14 Công Tác Phòng Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023

công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công táccủa Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án

d) Chỉ đạo tổ chức triển khai các biện pháp đồng bộ bảo đảm thi hành nghiêm Luật hành án hình sự số 41/2019/QH14. Củng cố Cơ quan thi hành án hình sự cấp tỉnh, cấp huyện nhằm bảo đảm thi hành án đối với pháp nhân thương mại và thi hành các hình phạt khác. Tăng cường năng lực Công an xã, phường, thị trấn, bảo đảm thực hiện việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, tước một số quyền công dân. Quản lý chặt chẽ người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013, Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, Nghị quyết số 11 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2016 và các năm tiếp theo hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực.

Các chỉ tiêu, nhiệm vụ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án quy định tại Nghị quyết số 52/2013/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Nghị quyết số 69/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội XIII, Nghị quyết số 75/2014/QH13 ngày 24 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2015, Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, Nghị quyết số 55/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội về hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019 khác với các chỉ tiêu, nhiệm vụ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án được quy định trong Nghị quyết này thì áp dụng theo Nghị quyết này./.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2019.

Thực Hiện Nghị Quyết Số 96/2019 Của Quốc Hội Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023

UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch triển khai tại địa phương thực hiện Quyết định số 634 ngày 13/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thực hiện Nghị quyết số 96 ngày 27/11/2019 của Quốc hội khóa XIV về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.

Hậu Giang sẽ tiếp tục mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm để thực hiện hiệu quả hơn Nghị quyết số 96 của Quốc hội. Ảnh: T.THỨC

Theo đó, mục tiêu là bảo đảm 100% tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đều được thụ lý theo quy định, tỷ lệ giải quyết đạt trên 90%. 100% các vụ việc có dấu hiệu tội phạm phải được thụ lý điều tra, xác minh, khi có đủ căn cứ phải khởi tố vụ án hình sự để điều tra theo đúng quy định của pháp luật; tỷ lệ điều tra khám phá các loại tội phạm đạt trên 75%, trong đó tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90% tổng số vụ án khởi tố.

Nâng tỷ lệ giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng năm sau cao hơn năm trước; nâng tỷ lệ thu hồi, kê biên, phong tỏa tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng đạt trên 60%; bảo đảm 100% các vụ việc khi thanh tra phát hiện có dấu hiệu tội phạm đều được chuyển ngay và cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết đến cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền để xem xét việc khởi tố theo quy định.

Giảm ít nhất 5% tai nạn giao thông cả về số vụ, số người chết và số người bị thương. Hạn chế thấp nhất số vụ cháy, nổ lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, các vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Giảm số người bị tạm giữ hình sự sau đó chuyển xử lý hành chính vì hành vi không cấu thành tội phạm; giảm số đối tượng bị tạm giữ, tạm giam chết thuộc trách nhiệm quản lý của cơ sở giam giữ. Khắc phục tình trạng tạm giữ, tạm giam chung người trong cùng vụ án, người dưới 18 tuổi với người trên 18 tuổi; không để người bị tạm giữ, tạm giam trốn.

Nâng tỷ lệ thi hành án dân sự xong trên tổng số án có điều kiện thi hành năm sau cao hơn năm trước; bảo đảm ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật đối với 100% các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực. Đôn đốc, kiểm tra việc thi hành đối với 100% bản án hành chính có hiệu lực pháp luật…

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật trong công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, kịp thời khắc phục những sơ hở, thiếu sót, không để đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật. Các sở, ngành, UBMTTQ Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các quy định của pháp luật về lĩnh vực tư pháp, bảo đảm các quy định mới được thi hành kịp thời, thống nhất, bảo đảm chất lượng.

Gắn kết chặt chẽ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; khắc phục những sơ hở, thiếu sót mà tội phạm có thể lợi dụng để hoạt động. Tăng cường tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng về công tác phòng, chống tội phạm tại cộng đồng dân cư. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, nhân rộng các mô hình phòng, chống tội phạm về an ninh, trật tự ở cơ sở theo hướng “tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”; giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để phát sinh thành vụ việc phức tạp, “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo, kịp thời động viên, khen thưởng người có thành tích trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

Đẩy mạnh thực hiện tốt các hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ theo chức năng của các sở, ban, ngành, UBMTTQ Việt Nam, các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội tỉnh. Thực hiện tốt công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ đối tượng tại địa bàn cơ sở, nhất là đối tượng bị kết án đang ở ngoài xã hội, đối tượng được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người nghiện ma túy…

Tăng cường công tác phát hiện, đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý các vụ án kinh tế, tham nhũng xảy ra trên địa bàn không để gây dư luận, bức xúc trong Nhân dân, nhất là các vụ án do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo. Chủ động triển khai các biện pháp thu hồi tối đa tài sản tham nhũng và phòng ngừa các đối tượng bỏ trốn hoặc tẩu tán tài sản. Tăng cường hoạt động tương trợ tư pháp và nâng cao hiệu quả hợp tác trong thu hồi tài sản của Nhà nước bị thất thoát trong các vụ án về kinh tế, tham nhũng.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác điều tra, xử lý tội phạm, phòng, chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; việc áp dụng các biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp điều tra khác; tuyệt đối không để xảy ra bức cung, dùng nhục hình trong hoạt động điều tra; không “hành chính hóa” hành vi phạm tội hình sự. Thường xuyên rà soát, xác minh các vụ án tạm đình chỉ điều tra, vụ việc tạm đình chỉ giải quyết để xác định căn cứ phục hồi điều tra, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Quan tâm thực hiện công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý điều tra viên, cán bộ điều tra để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Bảo đảm việc phân loại án dân sự có điều kiện thi hành và chưa có điều kiện thi hành; ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành, đảm bảo chính xác, đúng pháp luật. Kịp thời đăng tải thông tin về các trường hợp chưa có điều kiện thi hành trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự; theo dõi, xác minh định kỳ các vụ việc chưa có điều kiện thi hành. Nâng cao hiệu quả công tác cưỡng chế thi hành án; kiên quyết áp dụng các biện pháp để truy tìm tài sản, thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, nhất là trong các vụ án kinh tế, tham nhũng để bảo đảm thi hành án…

T.T tổng hợp

Xử Lý Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng / 2023

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2018 thì ” Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.

1. .1. Các quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN Thực trạng xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Những quy định về xử lý tham nhũng được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật, có thể kể đến như: Luật PCTN năm 2018; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017); Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010…

Luật PCTN năm 2018 đã dành cả Chương IX quy định cụ thể nội dung xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN. Tại Khoản 1 Điều 92 quy định: “Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác”.

Bên cạnh đó, Luật này còn quy định về xử lý các hành vi vi phạm quy định về PCTN bao gồm: Về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; về quy tắc ứng xử; về xung đột lợi ích; về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn; về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng; về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm; về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Người có hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó.

Theo quy định tại điều 78 của Nghị định 59, trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách. Trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Đối với trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cách chức.

Theo quy định tại Điều 95 Luật PCTN năm 2018, đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Doanh nghiệp, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức đó. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện các biện pháp xử lý đối với người giữ chức danh, chức vụ quản lý thì bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra công bố công khai về tên, địa chỉ và hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự được quy định tại Điều 92 Luật PCTN năm 2018 và các văn bản pháp luật khác gồm người có hành vi tham nhũng là đối tượng chính của chế tài hình sự và chế tài kỷ luật, là người đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi; Người không báo cáo, tố giác khi biết hành vi tham nhũng.

Trong số các đối lượng nêu trên, người có hành vi tham nhũng là đối tượng trọng yếu nhất của việc xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Vì vậy, pháp luật quy định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho người có hành vi tham nhũng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của họ ở mức độ khái quát nhất có thể phân chia thành hai loại chế tài: Chế tài kỷ luật áp dụng cho người có hành vi tham nhũng ở mức độ ít nguy hiểm cho xã hội, còn chế tài hình sự được áp dụng cho người có hành vi tham nhũng gây nguy hiểm cao cho xã hội bị coi là tội phạm.

Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Ngoài những quy định chung của chế tài kỷ luật được quy định trong Luật Công chức, viên chức năm 2008 thì Luật PCTN năm 2018 quy định nghiêm khắc hơn, thể hiện ở những nội dung sau: Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân. (Điều 92 Luật PCTN năm 2018).

Chế tài hình sự: (Hình phạt) là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Theo quy định của Luật PCTN năm 2018 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) thì những hành vi tham nhũng sau được hình sự hóa và bị xử lý bằng chế tài hình sự: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

Ngoài ra, theo quy định mới của Luật PCTN năm 2018 mở rộng việc PCTN ở khu vực ngoài nhà nước nên các tội danh sau cũng là tội tham nhũng: Tội đưa hối lộ (Điều 364), Tội môi giới hối lộ (Điều 365) (Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

1.2. Thực trạng xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Các biện pháp tư pháp nói trên được áp dụng đối với người phạm tội tham nhũng nhằm thu hồi, sữa chữa, khắc phục tài sản do người phạm tội chiếm đoạt bất hợp pháp bởi hành vi tham nhũng hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội trả lại cho chủ sở hữu hoặc xung công quĩ đồng thời nhằm tước đoạt những điều kiện để người phạm tội có thể tái phạm. Vì vậy, biện pháp tư pháp này không những có mục đích trừng trị đối với người phạm tội mà còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm.

Trong những năm qua, công cuộc đấu tranh chống tham nhũng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Song song với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về PCTN, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng, kiện toàn lực lượng có chức năng PCTN.

Cùng với việc phát hiện, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, các cơ quan chức năng đã chú trọng xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội tham nhũng ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích người phạm tội tự nguyện giao nộp tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Đồng thời, các cơ quan nhà nước đã thực hiện những hình thức kỷ luật tương xứng với hình thức kỷ luật của Đảng đối với cán bộ, công chức sai phạm, đảm bảo kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật theo pháp luật của Nhà nước.

Theo báo cáo số 330/BC-CP ngày 22/9/2016 của Chính phủ về tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN năm 2005 thì trong 10 năm thực hiện Luật PCTN 2005, công tác điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tham nhũng có nhiều tiến bộ. Các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý với số lượng lớn (đã khởi tố 2.530 vụ án tham nhũng với 5.447 bị can; truy tố 2.959 vụ, 6.935 bị can; xét xử 2.628 vụ, 5.870 bị cáo).

Tuy nhiên, công tác phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Hiệu quả phát hiện vụ việc tham nhũng qua thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chưa cao; các cơ quan chức năng vào cuộc chưa quyết liệt. Thẩm quyền của các cơ quan này còn hạn chế, không đủ để làm rõ hành vi tham nhũng trong trường hợp đã phát hiện dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng. Các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý chủ yếu ở cấp cơ sở; nhiều vụ việc, vụ án có quy mô lớn chậm được phát hiện, khi phát hiện thì chậm được làm rõ, kết luận và xử lý. Công tác giám định tư pháp còn nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xử lý các vụ án tham nhũng thường bị kéo dài, có một số trường hợp là tội phạm tham nhũng nhưng cho hưởng án treo chưa đúng với quy định của pháp luật.

Thực tế hiện nay, ngoài các vụ tham nhũng lớn mà người vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với các vụ tham nhũng nhỏ hay tham nhũng “vặt”, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP hướng dẫn việc thi hành hai luật này. Tuy nhiên, cán bộ, công chức trong những vụ, việc vi phạm đạo đức nghề nghiệp, những vụ tham nhũng “vặt” thời gian qua hầu hết chỉ bị xử lý kỷ luật ở mức độ khá nhẹ so với hành vi vi phạm, trong đó chủ yếu là hình thức kỷ luật khiển trách và cảnh cáo, hay thuyên chuyển công tác. Số cán bộ vi phạm bị cách chức hoặc cho thôi việc là rất ít.

Có thể nói, chế tài theo quy định hiện hành đã có nhưng chưa thật sự nghiêm. Các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quá nhẹ dẫn đến việc xử lý vi phạm của các đối tượng này trong suốt thời gian qua chưa thật sự có tính răn đe. Chưa kể một số quy định không rõ ràng khiến một số lãnh đạo đơn vị, cơ quan có cá nhân sai phạm dựa vào đó bao che cho cấp dưới của mình.

Bởi vậy, cần phải tăng nặng các biện pháp chế tài, bảo đảm tính nghiêm khắc và đủ sức răn đe hơn đối với các vi phạm, hoàn thiện thể chế vận hành chống tham nhũng, để cán bộ, công chức “không thể, không dám tham nhũng”.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư cũng như quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, để nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng nói chung, nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN nói riêng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PCTN. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nâng cao nhận thức và thấy được sự nguy hiểm của “loại giặc nội xâm” này, từ đó tập trung nguồn lực tối đa cho công tác, PCTN. Trong đó có công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên với cấp ủy cấp dưới, chú trọng cấp cơ sở. Nghiêm khắc truy cứu trách nhiệm của tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo các cơ quan, địa phương, đơn vị, khi để cán bộ dưới quyền tham nhũng. Có như vậy các chỉ đạo của Trung ương đảng về công tác PCTN mới có sức mạnh lan tỏa trong các bộ, ngành địa phương để đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng.

Thứ hai, hệ thống pháp luật về PCTN đã được Đảng, Nhà nước quan tâm hoàn thiện làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh PCTN. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về PCTN hiện nay còn thiếu và chưa đồng bộ. Các quy định về PCTN trong khu vực ngoài nhà nước hiện còn đang bỏ trống ở rất nhiều lĩnh vực. Cần hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định pháp luật về trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức cũng như các quy định về trách nhiệm đảng viên với đội ngũ này. Chú trọng việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng còn hình thức, hiệu quả thấp (như kê khai tài sản…), tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, nhất là các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thứ ba, cần phải xây dựng lực lượng chuyên trách chịu trách nhiệm chính trong cả nước về PCTN. Lực lượng này cần được đào tạo bài bản và được trao những quyền năng pháp lý đủ mạnh để đấu tranh PCTN. Trong lực lượng này cần xây dựng đội ngũ làm công tác PCTN đủ năng lực, có phẩm chất trong sáng vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cần kiên quyết loại khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước những cán bộ hư hỏng, tham nhũng.

Thứ tư, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong Nhân dân; phát huy vai trò của Nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng. Trong những năm qua, người dân và báo chí đã góp phần không nhỏ trong công cuộc đấu tranh PCTN. Để tăng cường hơn nữa sức mạnh của Nhân dân và báo chí trong công cuộc đấu tranh này cần nâng cao nhận thức của công dân và người làm báo để có những bài viết sắc bén đấu tranh trực diện với tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tai mắt của người dân, sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng là một nhân tố quan trọng trong việc phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ năm, cần cải cách chế độ tiền lương để cho cán bộ, công chức, người lao động có thể đủ sống bằng đồng lương của mình. Cần xây dựng một xã hội công khai, minh bạch để tham nhũng không còn đất sống, người có chức vụ quyền hạn không “muốn” và “không thể” tham nhũng.

Thứ sáu, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng khi bị phát hiện. Đảm bảo rằng có hành vi tham nhũng thì sẽ bị pháp luật xử lý. Pháp luật là nghiêm minh không có “vùng cấm” đối với đối tượng vi phạm pháp luật./.

Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ

Nguyễn Đình Bính

Bạn đang xem bài viết Nghị Quyết Về Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!