Xem Nhiều 12/2022 #️ Những Điểm Mới Của Luật Xuất Bản 2012 / 2023 # Top 13 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Những Điểm Mới Của Luật Xuất Bản 2012 / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Điểm Mới Của Luật Xuất Bản 2012 / 2023 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 20/11/2012, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Xuất bản. Luật có 6 chương, gồm 54 điều thay thế Luật Xuất bản số 30/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2008/QH12. Theo đó, những quy định chung của Luật Xuất bản năm 2012, cùng một số nội dung nghiêm cấm trong hoạt động xuất bản được bổ sung thêm các hành vi như: Xuất bản mà không có đăng ký, không có quyết định hoặc không có giấy phép xuất bản; thay đổi, làm sai lệch nội dung bản thảo đã được ký duyệt hoặc bản thảo tài liệu không kinh doanh có dấu của cơ quan cấp giấy phép xuất bản; in lậu, in giả, in nối bản trái phép xuất bản phẩm; phát hành xuất bản phẩm không có nguồn gốc hợp pháp hoặc chưa nộp lưu chiểu; xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ hoặc nhập khẩu trái phép. Đây là những quy định được luật hoá sẽ tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý hoạt động xuất bản trong tình hình hiện nay. Đối với lĩnh vực xuất bản: Quy định thêm tiêu chuẩn chức danh của tổng giám đốc, ngoài những quy định khác thì có ít nhất 03 năm làm một trong các công việc biên tập, quản lý xuất bản hoặc báo chí, quản lý tại cơ quan chủ quản nhà xuất bản. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn chức danh tổng biên tập được quy định phải có chứng chỉ hành nghề biên tập, có ít nhất 03 năm làm công việc biên tập tại nhà xuất bản hoặc cơ quan báo chí và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Luật cũng quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của biên tập viên nhà xuất bản. Theo đó, ngoài việc được đứng tên trên xuất bản phẩm, được từ chối biên tập những tác phẩm mà nội dung có dấu hiệu vi phạm và chịu trách nhiệm trước giám đốc nhà xuất bản và trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm do mình biên tập, biên tập viên tham gia các lớp tập huấn định kỳ về kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tổ chức. Đặc biệt, biên tập viên có trách nhiệm không được để lộ, lọt nội dung tác phẩm, tài liệu xuất bản trước khi phát hành làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Luật quy định riêng Điều 20 cho việc cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề biên tập. Vấn đề liên kết trong hoạt động xuất bản đang rất bất cập cho cơ quan quản lý Nhà nước thì nay Luật cho phép tổ chức, cá nhân được liên kết với nhà xuất bản để xuất bản đối với từng tác phẩm được quy định trong luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất bản, cơ sở phát hành xuất bản phẩm chủ động trong sản xuất kinh doanh. Đồng thời Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của tổng giám đốc, tổng biên tập nhà xuất bản trong liên kết xuất bản và trách nhiệm của đối tác liên kết. Việc cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh của các cơ quan, tổ chức về cơ bản gồm những quy định trước đây và điểm mới trong Luật Xuất bản lần này là cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép xuất bản phải nộp lệ phí thẩm định nội dung tài liệu cho cơ quan cấp phép xuất bản. Trong hồ sơ, cùng với đơn đề nghị cấp giấy phép phải kèm theo ba bản thảo thay vì hai bản thảo như trước đây, nếu là tài liệu để xuất bản điện tử, phải lưu toàn bộ nội dung vào thiết bị số và đối với tổ chức nước ngoài tại Việt Nam phải có giấy phép hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (quy định trước kia là 10 ngày) cơ quan quản lý nhà nước phải cấp giấy phép, trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do. Lĩnh vực in xuất bản phẩm: Ngoài những quy định về hoạt động; cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm; điều kiện nhận in xuất bản phẩm, các quy định về in gia công xuất bản phẩm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thì Luật Xuất bản năm 2012 quy định riêng Điều 35 “Trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở in xuất bản phẩm”. Điều này quy định rất rõ trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu cơ sở in trước pháp luật về hoạt động in xuất bản phẩm của mình. Lĩnh vực phát hành: Cơ sở phát hành là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, trước khi hoạt động phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước, đây là một trong những điểm mới quy định tại Luật Xuất bản lần này và phải đảm bảo các điều kiện sau: Người đứng đầu cơ sở phát hành phải thường trú tại Việt Nam; có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về phát hành xuất bản phẩm do cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành phát hành xuất bản phẩm cấp; có một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật; có địa điểm kinh doanh xuất bản phẩm. Đối với các cơ sở phát hành là các hộ kinh doanh cần đảm bảo các điều kiện như: Chủ hộ phải thường trú tại Việt Nam; có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có địa điểm kinh doanh xuất bản phẩm và không phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước. Nếu theo các quy định trước đây, việc cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản cấp giấy phép nhập khẩu thì tại Luật Xuất bản năm 2012 phân quyền thêm cho cửa khẩu nhập khẩu được giải quyết thủ tục nhập khẩu xuất bản phẩm. Theo đó, việc gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể nộp tại cơ quan quản lý xuất bản hoặc làm thủ tục, hồ sơ tại cửa khẩu nhập khẩu. Đây cũng là điểm mới về cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm. Điểm lưu ý trong Luật Xuất bản năm 2012 là việc xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử được quy định rất cụ thể ở một chương (chương VI). Bởi đây là hình thái mới của hoạt động xuất bản. Các nội dung quy định về xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử cơ bản đã bao quát các đối tượng, hình thức, điều kiện trách nhiệm và quyền hạn tham gia thực hiện và phát hành xuất bản phẩm điện tử, điều chỉnh các hoạt động phát sinh trong thực tiễn, có tính dự báo, tính khả thi cao hơn để điều chỉnh hoạt động xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử. Luật Xuất bản 2012 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2013, đây là nền tảng pháp lý quan trọng, sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực trong xuất bản – lĩnh vực được coi là có tác động mạnh tới nhận thức xã hội.

Những Điểm Mới Của Bộ Luật Lao Động 2012 / 2023

Vừa qua, Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012) có hiệu lực từ ngày 01/05/2013 đã có nhiều điểm mới bổ sung, thay đổi so với Bộ luật lao động cũ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cũng như các nhà tuyển dụng lao động vẫn chưa nắm bắt được hết sự khác biệt trong quy định của BLLĐ 2012, dẫn đến nhiều tình trạng nhầm lẫn giữa luật cũ và luật mới, thậm chí còn có nhiều doanh nghiệp không biết đến sự xuất hiện của văn bản pháp lý mới này. Do đó, giới hạn trong bài viết này, chúng tôi xin nêu ra những nội dung chính yếu mà BLLĐ 2012 đã có những quy định khác biệt:

Thứ nhất, về quy định của người sử dụng lao động, ngoài doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân theo quy định của Bộ luật lao động cũ thì BLLĐ 2012 đã quy định thêm người sử dụng lao động còn bao gồm hộ gia đình, hợp tác xã có thuê mướn sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.

Thứ hai, BLLĐ 2012 đã quy định về Tổ chức dịch vụ việc làm (Khoản 1, Điều 14) theo hướng mở rộng chức năng cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội hiện nay.

Thứ ba, trong chương III Hợp đồng lao động, BLLĐ 2012 có những điểm mới sau:

Quy định về cho thuê lại lao động trong Mục 5, Chương III. Đây là quy địnhmới nhằm mở rộng các quan hệ lao động.

Bổ sung nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động (Điều 17).

Đối với Hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì trong trường hợp đã hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng cũ sẽ trở thành loại hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Bổ sung thêm các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, chẳng hạn khi Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu; Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải; Người sử dụng lao động là cá nhân, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết, người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;…

Nâng mức lương thử việc của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó.

Thêm vào đó, trong Chương III, BLLĐ cũng bổ sung nhiều quy định mới về Phụ lục hợp đồng lao động (Điều 24); quy định hình thức làm việc không trọn thời gian (Điều 34); quy định cụ thể mức tiền mà người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật; bổ sung nhóm quy định mới về hợp đồng lao động vô hiệu.

Thứ tư, về đối thoại tại nơi làm việc, Thương lượng tập thể, Thỏa ước lao động tập thể:

Bổ sung quy định về Đối thoại tại nơi làm việc (Khoản 1, Điều 63), xác định rõ mục đích, hình thức đối thoại và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc.

Quy định về Thương lượng tập thể, xác định mục đích, nguyên tắc, quyền yêu cầu thương lượng tập thể, đại diện thương lượng, nội dung, quy trình và trách nhiệm của các bên trong thương lượng tập thể.

Bổ sung một số quy định về Thỏa ước lao động tập thể.

Thứ năm, trong chương VI: Tiền lương, BLLĐ 2012:

Điều chỉnh về cơ cấu tiền lương: theo đó tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác (Điều 90).

Quy định việc thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia (Điều 92).

Bổ sung quy định về thay đổi hình thức trả lương, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm, về thời gian tạm ứng tiền lương để thực hiện nghĩa vụ công dân…(Điều 97)

Thứ sáu, quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:

Thống nhất một mốc chung để áp dụng trong cả nước về giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau (Điều 105).

Bổ sung quyền của người sử dụng lao động trong việc quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần để chủ động xây dựng kế hoạch bố trí lao động phù hợp.

Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt (Điều 107).

Về ngày nghỉ lễ, tết: BLLĐ 2012 quy định về ngày nghỉ tết âm lịch, theo đó ngày nghỉ tết âm lịch sẽ từ 04 ngày lên 05 ngày.

Thứ bảy, về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất:

Bỏ hình thức xử lý kỷ luật chuyển đi làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời gian tối đa không quá 6 tháng; bổ sung thêm một số trường hợp người lao động bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải.

Bổ sung thêm quy định về việc cấm người sử dụng lao động khi xử lý vi phạm kỷ luật lao động thực hiện một số hành vi cụ thể.

Thứ tám, về an toàn lao động và vệ sinh lao động:

Bổ sung thêm nội dung về việc khuyến khích phát triển các dịch vụ an toàn lao động, vệ sinh lao động.

Quy định rõ các trách nhiệm của người sử dụng lao động, cải thiện điều kiện lao động khi xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp.

Thứ chín, về những quy định đối với lao động nữ:

Người sử dụng lao động đối với lao động nữ phải thực hiện các nguyên tắc bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, trong đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

Người lao động nữ được nghỉ chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng, cho phép lao động nữ có thể nghỉ trước sinh với thời gian không quá 2 tháng; có quyền đi làm việc sớm; lao động nữ sau khi sinh trong trường hợp việc làm cũ không còn, thì họ vẫn được người sử dụng lao động bố trí việc làm khác với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản và một số trường hợp lao động nữ được hưởng trợ cấp khi nghỉ.

Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số lao động đặc thù:

BLLĐ 2012 quy định cụ thể việc không được sử dụng người chưa thành niên sản xuất và kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần và các chất gây nghiện khác; chia lao động chưa thành niên thành 4 nhóm tuổi, quy định cụ thể các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động dưới 15 tuổi.

Bổ sung quy định về lao động là người giúp việc gia đình.

Theo quy định về công đoàn thì công đoàn là tổ chức thực hiện vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong các đơn vị sử dụng lao động. Bộ luật lao động quy định về Công đoàn tại Chương XIII, gồm 6 Điều với những điểm mới như sau:

Bỏ thời hạn phải thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp đang hoạt động mà chưa có tổ chức công đoàn và bỏ quy định trong thời gian chưa thành lập được tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp thì chỉ định Ban chấp hành công đoàn lâm thời, đồng thời xác định rõ chủ thể đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động ở những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.

Cuối cùng, về giải quyết tranh chấp lao động thì:

Tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích; mở rộng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động và đình công; bỏ quy định về Hội đồng hoà giải cơ sở.

Đối với tranh chấp tập thể về lợi ích sẽ do Hội đồng trọng tài giải quyết, bổ sung thẩm quyền hoãn và ngừng đình công cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Bổ sung quyền đóng cửa tạm thời doanh nghiệp của người sử dụng lao động trong thời gian đình công (Điều 216, 217).

Hiện nay, do một số điều khoản trong Bộ luật Lao động 2012 chưa được quy định chi tiết, mà còn cần đến sự sự hướng dẫn chi tiết từ các quy định của Chính phủ, do đó để đảm bảo quyền lợi của mình thì các doanh nghiệp nên lưu ý vấn đề này.

Công Ty Luật PLF

Mười Điểm Mới Của Luật Lao Động Năm 2012 / 2023

Bộ Luật lao động 2012 có một số điểm mới nổi bật về hợp đồng lao động, chính sách tiền lương, bổ sung thêm một số quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,….

 Mười điểm mới của Bộ Luật lao động năm 2012

Bộ Luật lao động năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01/05/2013. Nhưng đến nay nhiều doanh nghiệp vẫn chưa phân biệt được đầy đủ sự khác biệt giữa Bộ luật mới và cũ, dẫn đến tình trạng vẫn áp dụng quy định pháp luật cũ. Thậm chí không ít doanh nghiệp và nhà tuyển dụng không hề biết đến văn bản mới này.

Thứ nhất, quy định về người sử dụng lao động, so với Bộ Luật lao đông năm 2002, Bộ Luật lao động năm 2012 đã bổ sung thêm các đối tượng thuộc chủ thể của người sử dụng lao động gồm có hộ gia đình, hợp tác xã có thuê mướn sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Do đó, từ nay người sử dụng lao động theo như Bộ Luật lao động hiện hành quy định gồm các chủ thể sau: doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã có thuê mướn sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.

Thứ hai, Bộ Luật lao động năm 2012 đã mở rộng chức năng của Tổ chức dịch vụ việc làm cho phù hợp hơn với tình hình kinh tế – xã hội hiện nay. Tại khoản 1 Điều 14 có quy định về Tổ chức dịch vụ việc làm như sau: “ Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.” Như vậy, theo quy định của Bộ luật lao động hiện hành, Tổ chức dịch vụ việc làm có thêm chức năng dạy nghề cho người lao động, giới thiệu; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động.

Thứ ba, về hợp đồng lao động. Bộ Luật lao động mới quy định khác  hơn về trường hợp tự động gia hạn hợp đồng đối với hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một cộng việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Theo đó, đối với hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đã hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc, hai bên phải ký kết hợp đồng mới. Nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng cũ sẽ trở thành hợp đồng xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Thứ tư, bổ sung thêm các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động sau: người lao động đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu; người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải; người sử dụng lao động là cá nhân, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động,…

Thứ năm, nâng mức lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó, tăng 15 % so với Bộ Luật lao động cũ (70%)

Thứ sáu, bổ sung thêm nhiều quy định mới về Phụ lục hợp đồng lao động (Điều 24), quy định hình thức làm việc không trọn thời gian (Điều 34) quy định cụ thể mức tiền mà người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật; bổ sung nhóm quy định mới về hợp đồng lao động vô hiệu.

Thứ bảy, bổ sung thêm quy định về Đối thoại tại nơi làm việc (khoản 1, Điều 63), xác định rõ mục đích, hình thức đối thoại và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc. Quy định về Thương lượng tập thể, xác định mục đích, nguyên tắc, quyền yêu cầu thương lượng tập thể, đại diện thương lượng, nội dung, quy trình và trách nhiệm của các bên trong thương lượng tập thể. Bổ sung một số quy định về Thỏa ước lao động tập thể.

Thứ tám, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ngoài những quy định về giờ làm việc và nghỉ ngơi cho người lao động  như: Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong 01 ngày, trong trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm. Chương VII, Bộ luật còn quy định NLĐ được nghỉ 10 ngày/năm hưởng nguyên lương, trong đó tết âm lịch được nghỉ 5 ngày, tăng một ngày so với luật đang hiện hành (nghỉ 9 ngày/năm hưởng lương nguyên, trong đó tết âm lịch được nghỉ 4 ngày).

Ngoài ra, trong chương này bổ sung thêm quy định để NLĐ được nghỉ trong một số trường hợp cụ thể như bố, mẹ hoặc anh, chị em ruột chết: “Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn”(khoản 2 Điều 116). Riêng đối với lao động là người nước ngoài được nghỉ thêm một ngày tết cổ truyền và ngày quốc khánh của nước họ.

Thứ chín, những quy định đối với lao động nữ cũng có những thay đổi đáng kể. Theo Chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ: Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con 6 tháng, thay vì 4 tháng như hiện nay. Trường hợp LĐ nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng. Trong đó, nếu đến ngày 1/5/2013 mà lao động nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản sẽ được hưởng chế độ theo BLLĐ mới.

Thứ mười, về giải quyết tranh chấp lao động Tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích; mở rộng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động và đình công; bỏ quy định về Hội đồng hoà giải cơ sở. Đối với tranh chấp tập thể về lợi ích sẽ do Hội đồng trọng tài giải quyết, bổ sung thẩm quyền hoãn và ngừng đình công cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Bổ sung quyền đóng cửa tạm thời doanh nghiệp của người sử dụng lao động trong thời gian đình công (Điều 216, 217). Hiện nay, do một số điều khoản trong Bộ luật Lao động 2012 chưa được quy định chi tiết, mà còn cần đến sự sự hướng dẫn chi tiết từ các quy định của Chính phủ, do đó để đảm bảo quyền lợi của mình thì các doanh nghiệp nên lưu ý vấn đề này. 

Để cụ thể hóa đồng thời cũng giúp cho các doanh nghiệp có cái nhìn chi tiết hơn trong việc đảm bảo quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp. Chính phủ có ban hành Nghị định 46/2013/NĐ – CP hướng dẫn Bộ Luật lao động về tranh chấp lao động.

Một Số Điểm Mới Của Luật Hợp Tác Xã 2012 / 2023

Luật Hợp tác xã năm 2012 được Quốc Hội thông qua ngày 20/11/2012, với mục tiêu nhằm khuyến khích sự phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã (HTX).

Luật Hợp tác xã năm 2012 có nhiều điểm mới so với Luật Hợp tác xã 2003. Bài viết của Luật sư Nguyễn Thị Yến – Trưởng chi nhánh Quảng Ninh của Công ty Luật TNHH Everest – sẽ phân tích: Một số điểm mới của Luật Hợp tác xã năm 2012.

Sơ lược về sự xuất hiện và phát triển của hợp tác xã:

Mô hình HTX đầu tiên xuất hiện ở Vương quốc Anh cách đây đã được gần hai thế kỉ. “Ý tưởng HTX có thể xuất hiện sớm hơn, nhưng chính thức ghi nhận thì HTX đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1844 ở nước Anh. HTX do 28 người thợ dệt vùng Rochdale, tự nguyện thành lập theo tinh thần tự tìm cách cứu mình để tồn tại. Những người thợ dệt tự do đã sớm nhận thấy chỉ có liên kết, hợp tác với nhau họ mới có thể khắc phục những điểm yếu về quy mô, về vốn, về khả năng kinh doanh… để cạnh tranh được với các công ty lớn, các nhà máy công xưởng quy mô của các ông chủ công nghiệp, của nhà tư bản lớn” . Sau đó, mô hình hợp tác xã phát triển trên nhiều nước thế giới. Trải qua một thời gian dài phát triển, hiện nay mô hình hợp tác xã đã xuất hiện hầu khắp các quốc gia. Tại nước Anh, theo thống kê hiện này có 5450 HTX. Năm 2009 Ấn Độ có khoảng 583000 HTX. Ở Thái Lan, tính đến tháng 10-2010 có đến 5610 HTX….

Tại Việt Nam, những nền tảng lý luận về HTX đã xuất hiện từ rất sớm thể hiện trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” là tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc để trang bị lý luận chính trị cách mạng cho đội ngũ Đảng Viên. Tháng 3/1948, HTX đầu tiên ở Việt Nam ra đời đó là HTX Thủy tinh Dân chủ ở Thái Nguyên. Tiếp sau đó là sự ra đời của nhiều hợp tác xã ở chiến khu Việt Bắc trong những năm 1948-1949. Trải qua một quá trình dài phát triển và đổi mới, mô hình HTX ở Việt Nam đã tăng về cả số lượng lẫn quy mô, đống góp vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta. Tính đến ngày 1/7/2008 cả nước có 14500 HTX đang hoạt động. Nhận thức được vai trò to lớn của HTX, cho nên ngay từ khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước ta đã ghi nhận trong các văn bản pháp lý khác nhau về hình thức kinh tế này. Trong giai đoạn hiện này, các quy định về mô hình HTX đã được thể chế hóa thành Luật.

Khái niệm HTX được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” .

Như vậy, chúng ta thấy rằng khái niện về HTX trong Luật hợp tác xã 2012 đã có những thay định nhất định so với luật hợp tác xã 2003. Không nhưng thay đổi về khái niệm về HTX mà mô hình liên hiêp hợp tác xã cũng được Luật hợp tác xã 2012 điều chỉnh với bản chất như một HTX của cá HTX : “Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã “.

Thứ nhất, về bản chất, HTX mang tính chất xã hội sâu sắc: Dựa trên nền tảng là chức năng tương trợ xã hội, các thành viên tham gia vào hợp tác xã cùng nhau lao động, góp vốn, góp sức để phục vụ các hoạt động kinh doanh của hợp tác xã . Với việc tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ lẻ có thể dứng vững trên thị trường và đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp, ổn định chất lượng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Thứ hai là Nguyên tắc hoạt động cơ bản của HTX: Nguyên tắc hoạt động được quy định tại Điều 7 Luật Hợp tác xã năm 2012. Trong đó ba nguyên tắc :nguyên tắc hợp tác, nguyên tắc tự nguyện, nguyên tắc dân chủ bình đẳng là những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho sự vận hành của mô hình HTX.

Thứ ba, về thành viện hợp tác xã: Hợp tác xã có tối thiểu 7 thành viên, thành viên có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân. Các cá nhâ, hộ gia đình, pháp nhân muốn tham gia hợp tác xã thì phải có nhu cầu hợp tác với các thành viên và như cầu sử dụng sảm phẩm, dịch vụ của hợp tác xã; có đơn tự nguyện xin gia nhập và tán thành điều lệ, góp vốn , đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của điều lệ.

Thứ tư, về vốn của hợp tác xã:Vốn của HTX được huy động từ các nguồn vốn sau đây: vốn góp của thành viên; vốn góp huy động; vốn tích lũy; các quỹ của HTX; các khoản trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; các khoản được tặng, cho và các nguồn thu hợp pháp khác.

Thứ năm, về tư cách pháp lý: HTX có tư cách pháp nhân.

Thứ sáu, Chế độ trách nhiệm tài sản: HTX chịu trách nhiệm bằng tài sản của hợp tác xã, trừ những tài sản do nhà nước hỗ trợ không hoàn lại. Thành viên HTX chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào HTX.

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX được quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2012:

“1- Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã. Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã. 2- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên. 3- Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ. 4- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. 5- Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm. 6- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. 7- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế” (Điều 7) .

Một số điểm bất cập, hạn chế của Luật hợp tác xã năm 2003.

Luật Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã năm 2003 đã đạt được một số kết quả, tạo thuận lợi hơn cho các tổ chức kinh tế tập thể phát triển so với khung pháp luật thời kỳ trước đây, có đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, góp phần vào việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, và vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, sau một thời giant hi hành, Luật hợp tác xã 2003 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập chủ yếu sau đây:

(i) Chưa thể hiện rõ bản chất tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, sự khác biệt về bản chất giữa tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với doanh nghiệp và với tổ chức xã hội – từ thiện; chưa quan tâm thích đáng nội hàm “hợp tác” của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; chưa làm thật rõ lợi ích và vai trò người chủ của xã viên khi tham gia hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, mục tiêu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của xã viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

(ii) Quy định về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã còn thiếu, hoặc chưa đủ rõ, cụ thể, hoặc không còn thích hợp.

(iii) Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2003 chưa làm rõ tính chất phục vụ xã viên của tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo tinh thần Nghị quyết số 13 Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX.

(iv) Chưa có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với bản chất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy chưa góp phần thúc đẩy phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã một cách bền vững.

(v) Quy định pháp luật về trách nhiệm giám sát, kiểm tra thi hành Luật chưa rõ. Luật chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân trong việc giám sát, kiểm tra thi hành Luật. Tổ chức triển khai việc giám sát, kiểm tra thi hành Luật bị buông lỏng. Chế tài xử lí vi phạm chưa đủ mạnh để răn đe.

Một số điểm mới của Luật Hợp tác xã năm 2012 so với Luật hợp tác xã năm 2003.

Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua và ban hành Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 (Luật Hợp tác xã năm 2012) ngày 20 tháng 11 năm 2012 có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2013, thay thế Luật Hợp tác xã số 18/2003/QH12 ( Luật Hợp tác xã năm 2003 ). Với mục tiêu nhằm khuyến khích và phát triển mô hình HTX kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các HTX hiện có hoạt động theo đúng bản chất HTX. Hoạt động nhằm mục đích tập trung mang lại lợi ích cho thành viên thông qua việc cam kết cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm theo nhu cầu của thành viên. Luật Hợp tác xã năm 2012, gồm 9 chương, 64 điều (Luật Hợp tác xã 2003, gồm 10 chương, 52 điều). So với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật Hợp tác xã năm 2012 có nhiều điểm mới:

Một trong những điểm mới đầu tiên mang tính đột phá của Luật Hợp tác xã năm 2012 đó là khái niệm hợp tác xã. Luật hợp tác xã năm 2012 đã thay đổi định nghĩa HTX so với Luật hợp tác xã năm 2003. Sự thay đổi này là một bước đột phá trong việc thể hiện bản chất của hợp tác xã. Không chỉ khắc phục được những hạn chế, thiết sót mà Luật hợp tác xã 2003 quy định về khái niệm HTX mà sự sửa đổi khái niệm này đã làm rõ sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, với tổ chức xã hội từ thiện, không coi hợp tác xã như doanh nghiệp.

Định nghĩa về HTX được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012 như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.

Nhìn vào định nghĩa, chúng ta thấy ngay được những điểm khác biệt hoàn toàn. Sự khác biệt đầu tiên đó là quy định khẳng định về số lượng thành viên tối thiểu của HTX là bảy (07), trong khi đó ở Luật Hợp tác xã năm 2003 không quy định về số lượng thành viên tối thiểu vào trong định nghĩa (số thành viên tối thiểu là bốn (04) theo Nghị định hướng dẫn của chính phủ). Đồng thời thay đổi tên gọi là xã viên chuyển thành là thành viên.

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã bổ sung thêm cụm “từ tạo việt làm” đề làm rõ về mô hình HTX việc làm. Bổ sung thêm cá từ “bình đẳng”, “dân chủ” vào trong khái niệm mà trước đây Luật HTX 2003 ghi nhận trong quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX.

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã bỏ đi nội dung “… Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp…”(Luật Hợp tác xã năm 2003 ghi trong khổ 2 của khái niệm); nhằm tránh sự nhầm lẫn về mục tiêu hoạt động của hợp tác xã. Quy định trên của luật HTX 2003 là không chặt chẽ về pháp luật, không làm rõ được địa vị pháp lý của HTX trong nền cơ chế thị trường, gây hiểu nhầm coi HTX như doanh nghiệp. Ngoài ra còn bỏ quy định “… cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chun, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra…” đã không còn phù hợp với xu thế phát triển hiện nay, “quy định này đã hạn chế sự tham gia rộng rãi của các thành viên vào hợp tác xã, và cũng gây khó khăn trong việc huy động vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh”. Không những vậy, định nghĩa HTX theo Luật HTX 2012 còn ghi nhận mục đích thành lập của HTX là vì nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên. Định nghĩa này đã làm rõ ràng bản chất của HTX tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể, được thành lập trên tinh thần tự nguyện, trên cơ sở nguyện vọng chung,thể hiện tính đối nhân sâu sắc.

Từ nhưng phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra nhận định rằng, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ bản chất của HTX qua hai nội dung cơ bản sau đây:

(i) Mục tiêu của Hợp tác xã là mang lại lợi ích cho thành viên,phân phối của HTX chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên; theo công sức lao động, phần còn lại chia theo vốn góp. Cần lưu ý rằng bản chất HTX và Doanh nghiệp là khác nhau. Bản chất của Hợp tác xã là phục vụ lợi ích của thành viên; còn bản chất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp chia theo vốn góp.

(ii) Quan hệ sở hữu : thành viên HTX vừa là đồng sở hữu, vừa là khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, đối tượng phục vụ chính của HTX là thành viên.

Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định: “Luật này áp dụng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã (sau đây gọi là thành viên), hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã thành viên) ….”. Luật Hợp tác xã năm 2003 quy định: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra …”.

Luật Hợp tác xã năm 2003 sử dụng tên/ gọi của người tham gia vào HTX là “xã viên”. Tuy nhiên, đây lại là một điểm hạn chế của luật HTX năm 2003, với tên gọi là xã viên thì vô hình chung đã ngăn cản, hạn chế việc thêm mọi người tham gia vào HTX. Trong khi đó, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã thay thế khái niệm xã viên bằng khái niệm thành viên thể hiện nguyên tắc HTX kết nạp rộng rãi thành viên. Mở rộng đối tượng tham gia thành viên là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; bãi bỏ đối tượng cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách là thành viên.

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã quy lại về chính sách ưu đãi hỗ trợ đối với HTX. Đây là một trong những điểm mới nổi bật nhất của Luật Hợp tác xã năm 2012. Chính sách ưu đãi và hỗ trợ đối với HTX đã được cơ cấu lại một cách cơ bản hơn. Một mặt nó phù hợp với bản chất tổ chức HTX,mặt khác nó mạng lại lợi ích trực tiếp lợi ích cho cộng đồng thành viên thường là số đông của hợp tác xã.

Trong luật Hợp tác xã năm 2003 quy định: “1- Nhà nước thực hiện các chính sách sau đây đối với hợp tác xã: ( a) Ban hành và thực hiện các chính sách, các chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã về đào tạo cán bộ; phát triển nguồn nhân lực; đất đai; tài chính; tín dụng; xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã; áp dụng khoa học và công nghệ; tiếp thị và mở rộng thị trường; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; tạo điều kiện để hợp tác được tham gia các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước; ( b) Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để hợp tác xã phát triển;

c) Bảo đảm địa vị pháp lý và điều kiện sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác; ( d) Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã theo quy định của pháp luật; ( đ) Tôn trọng quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của hợp tác xã trong sản xuất, kinh doanh; ( e) Không can thiệp vào công việc quản lý nội bộ và hoạt động hợp pháp của hợp tác xã. 2- Đối với hợp tác xã nông nghiệp, Chính phủ quy định cụ thể chính sách ưu đãi phù hợp với đặc thù và trình độ phát triển trong từng thời kỳ” (Điều 3).

Luật Hợp tác xã năm 2012 mở rộng hơn phạm vi ưu đãi, hỗ trợ đối với HTX, Liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp như: đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất; ưu đãi về tín dụng, vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; chế biến sản phẩm.

Hiện này, xuất phát từ tình hình thực tế của nước ta đó là có rất nhiều người nước ngoài đang sống là vàm việc lâu dài, có nhu cầu mong muốn tham gia vào những loại hình HTX phù hợp.Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 17 Luật Hợp tác xã năm 2003 thì người nước không được phép tham gia HTX. Nhận thấy rằng đây là một điểm hạn chế của luật HTX 2003, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã quy định mới về điều kiện trở thành thành viên: “1- Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân trở thành thành viên hợp tác xã phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: ( a) Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam. Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân; ( b) Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã; ( c) Có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã; ( d) Góp vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này và điều lệ hợp tác xã; ( đ) Điều kiện khác theo quy định của điều lệ hợp tác xã”.

Trên thế giới, đã có nhiều nước cho phép người nước ngoài tham gia vào HTX tại nước mình. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì quy định này mới được ghi nhận trong luật HTX năm 2012. Với quy định cho phép người nước ngoài tham gia vào HTX đã đáp ứng được nguyên tắc kết nạp rộng rại thành viên, đồng thời tạo điều kiện cho HTX thu hút nguồn vốn góp mở rộng thị trường.

Mặc dù cho phép người nước ngoài tham gia vào HTX sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho HTX phát triển, nhưng vấn đề gì cũng có tính ai mặt của nó. Với việc cho phép người nước ngoài thành lập HTX ở Việt Nam có thể tận dụng các lợi thế và chính sách ưu đãi đối với hợp tác xã để kinh doanh dẫn đếm gây thiệt hại cho các chủ thể trong nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.

So với quy định về vốn góp của thành viên HTX theo Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật Hợp tác xãnăm 2012 đã có thay đổi, đó là: “Đối với hợp tác xã, vốn góp của thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã” . Trong khi đó, Luật Hợp tác xã năm 2003 thì lại quy định “… Góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; mức vốn góp không vượt quá ba mươi phần trăm vốn điều lệ của hợp tác xã…” . Sự thay đổi của quy định pháp luật về việc hạn chế vốn góp vào HTX từ không quá 30% xuống còn không quá 20% vốn điều lệ HTX là một quy đinh mang tính đúng. Bởi lẽ, bản chất của HTX là để có bình đẳng trong quản lý HTX cũng như đề cao nguyên tắc thu hút nhiều người tham gia đề có nhiều vốn hoạt động chứ không phải huy động vốn từ một người.

Với việc giảm mức góp vốn tối đa của một thành viên xuống còn 20% vồn điều lệ của HTX thì chúng ta đã giải quyết được một nguyên tắc có tính nền tảng đó là mỗi thành viên HTX chỉ có một phiếu biểu quyết. Như vậy, với quy định này, chúng ta sẽ khắc phục việc thành viên có số vốn góp cao có nhiều quyền hơn thành viên có số vốn thấp. Đông thời giải quyết mối nguy hại khi để cho một thành viên nắm giữ số vốn lớn trong HTX có thể làm cho HTX gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc có thể sẽ bị giải thể nếu thành viên đó rút vốn.

Trong khi đó, quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa quy định thực sự hợp lý. Với quy định này, thì vô hình chung HTX đang mang bản chất đối vốn chứ không phải mang bản chất đối nhân. “Thành viên có mức vốn góp cao thì sẽ được chia lãi nhiều hơn theo tỷ lệ vốn góp và được chia gần như toàn bộ lợi nhuân HTX, liên hiệp HTX có được, lúc này HTX hoạt động sẽ không còn mang tính chất đối nhân. Mặc khác, khi một thành viên góp vốn nhiều thì thái độ, trách nhiệm của thành viên đó có thể sẽ khác so với thành viên khác. Điều này vi phạm nguyên tắc phục vụ thành viên không phụ thuộc số vốn góp của HTX”.

So với luật hợp tác xã năm 2003 thì luật hợp tác xã năm 2012 đã thay đổi tên gọi đối với một số chức danh.Trước đây, luật HTX năm 2003 gọi là đại đội xã viên, ban quản trị và ban kiểm soát, chủ nhiệm, xã viên. Thì hiện nay, luật HTX 2012 đã thay đổi cách gọi như sau: sử dụng khái niệm hội đồng quản trị thay khái niệm Ban quản trị, Chủ tịch hội đồng quản trị thay khái niệm Trưởng ban quản trị. Tên gọi giám đốc, phó giảm đốc được thay thế cho chủ nhiệm, phó chủ nhiệm. xã viên HTX được đổi thành thành viên hợp tác xã. Hội đồng quản trị tối thiểu có 03 thành viên, tối đa có 15 thành viên. HTX có 30 thành viên trở lên thì bầu Ban kiểm soát; Ban kiểm soát tối đa có 07 thành viên; nếu HTX có số lượng thành viên ít (dưới 30 thành viên) thì có thể chỉ bầu 01 kiểm soát viên.

Việc thay đổi tên gọi này theo đánh giá của em là đã đưa vị thế hợp tác xã phát triển hơn. Bởi vì những tên gọi trước đây chỉ phù hợp vời điều kiện hoàn cảnh lịch sử nước ta trước đây, còn bây giờ khi nước ta đang hội nhập và phát triển, việc thay đổi tên gọi này đáp ứng được sự phát triển của HTX. Góp phần thay đổi cách thức quản lý và phát triển HTX.

Có nhiều người lo ngại rằng với cách gọi như vậy sẽ là trái với bản chất của HTX vì nhưng tên gọi đó sử dụng cho mô hình quản trị Doanh nghiệp. Nhưng theo nhiều chuyên gia thì việc thay đổi tên gọi của các cơ quan trong Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 không phải là vấn đề có ý nghĩa đối với việc xác định bản chất của Hợp tác xã và cũng không thực sự có thể ảnh hưởng gì được nhiều đến sự thay đổi trong các quy định về quản trị Hợp tác xã.

Tuy nhiên, cũng có rất nhiều quan điểm cho rằng với việc quy định cách gọi như vậy là mâu thuẫn. Trong khi Luật Hợp tác xã năm 2012 đang cố gắng tách biệt giữa Doanh nghiệp và Hợp tác xã, khẳng định Hợp tác xã không phải là doanh nghiệp và cũng không hoạt động giống như doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính cách đặt tên và cách cơ cấu tổ chức quản lý của Hợp tác xã theo Luật này lại làm cho Hợp tác xã giống hơn với mô hình quản trị của các công ty theo Luật doanh nghiệp.

Ngoài ra, trong mô hình quản trị theo luật Hợp tác xã năm 2003 thì “được thành lập một bộ máy vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện chức năng điều hành”. Như vậy, ở Luật Hợp tác xã năm 2003 đã không tách thực hiện hiện chức năng quản lý và thực hiện chức năng điều hành ra mà để gộp vào nhau. Điều này gây nên những bất cập trong hoạt đông của hợp tác xã. Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 thì mô hình quản trị trong HTX là mô hình đơn nhất, không có sự phân biệt giữu trường hợp quản lý và điều hành như Luật Hợp tác xã năm 2003. Đã tách biệt chức năng quản lí và chức năng điều hành, làm rõ trách nhiệm của từng thành viên trong HTX.

Luật Hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ chức năng của nhiệm vụ quyền hạn của chức danh quản lý, người điều hành của HTX.

Bài viết thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Yến – Trưởng chi nhánh Quảng Ninh của Công ty Luật TNHH Everest.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết nêu trên được các luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Bạn đang xem bài viết Những Điểm Mới Của Luật Xuất Bản 2012 / 2023 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!