Xem Nhiều 1/2023 #️ Quy Định Về Việc Thôi Làm Nhiệm Vụ Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân # Top 6 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Quy Định Về Việc Thôi Làm Nhiệm Vụ Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Về Việc Thôi Làm Nhiệm Vụ Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quy định về việc thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nghị quyết hướng dẫn quy trình cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND.

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Khi thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Chào luật sư, tôi muốn hỏi 1 câu là sau đợt bầu cử hội đồng nhân dân xã, tôi có trúng cử. Nhưng do có biến cố đột xuất. Tôi muốn xin rút không tham gia hội đồng nhân dân xã nhiệm kì mới này nữa, vậy tôi phải làm như thế nào?

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

1. Đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định pháp luật

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nếu như đại biểu Hội đồng nhân dân không còn đủ điều kiện để tiếp tục hoạt động, thục hiện quyền đại biểu của mình thì có thể đề nghị thôi làm nhiệm vụ đại biểu.

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương là người liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo những vấn đề mà cử tri vướng mắc bức xúc. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người có trách nhiệm vận động Nhân dân thực hiện theo quy định Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

2. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật

Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân trước tiên phải đáp ứng là có quốc tịch Việt Nam .Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, hết lòng phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân. Là một đại biểu Hội đồng nhân dân phải biết liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến ý kiến của người nhân dân giải quyết và trả lời các kiến nghị, băn khoăn bức xúc các vấn đề của mọi cử tri.

3. Trách nhiệm của hội đồng đại biểu hội đồng nhân dân

Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho Đại biểu Hội đồng nhân dân về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật quy định. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, Đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.

4. Quy định của pháp luật về việc thôi làm nhiệm vụ đại biểu hội đồng nhân dân

Theo Điều 101 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định về việc thôi làm nhiệm vụ đại biểu như sau:

” 1. Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không còn công tác và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì phải xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu. Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể đề nghị thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác.

2. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi tố bị can thì Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân được trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu và khôi phục các lợi ích hợp pháp khi cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với đại biểu đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên đại biểu đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.

3. Đại biểu Hội đồng nhân dân bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Đại biểu Hội đồng nhân dân đã thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc bị mất quyền đại biểu thì đương nhiên thôi đảm nhiệm các chức vụ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân. ”

Như vậy trong trường hợp của bạn nếu với lý do có biến cố đột xuất và bạn muốn xin rút không tham gia hội đồng nhân dân xã nhiệm kì mới này nữa, vậy thì bạn phải làm đơn xin xem xét trước Hội đồng nhân dân để Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định nếu lý do của bạn đưa ra là chính đáng.

Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự Về Phạt Vi Phạm Hợp Đồng

Quy định của pháp luật dân sự về phạt vi phạm hợp đồng. Điều kiện áp dụng, hình thức, mức phạt vi phạm hợp đồng.

Khoản 1 Điều 422 Bộ luật dân sự quy định:

” Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.”

Theo đó, điều kiện để áp dụng phạt vi phạm hợp đồng bao gồm:

Thứ nhất, phạt vi phạm phải được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm (khoản 1 Điều 422 Bộ luật dân sự). Khác với Bộ luật dân sự 1995, “Bộ luật dân sự năm 2015” không quy định phạt vi phạm là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nữa, mà nó được coi là một điều khoản được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Điều khoản phạt vi phạm với ý nghĩa là sự trừng phạt đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng, được các bên dự liệu trước trong hợp đồng. Phạt vi phạm chỉ được áp dụng trong một trường hợp duy nhất đó là các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, còn pháp luật không quy định về phạt vi phạm mà chỉ quy định về bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, có hành vi vi phạm hợp đồng. Bên bị vi phạm có thể áp dụng phạt vi phạm ngay khi có hành vi vi phạm hợp đồng của phía bên kia, mà không nhất thiết phải có thiệt hại xảy ra. Đây là điểm khác biệt giữa phạt vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Sở dĩ không cần thiết phải có thiệt hại xảy ra bởi pháp luật đã để mở cho các bên tự do thỏa thuận về phạt vi phạm và các điều kiện của phạt vi phạm. Khi họ đã xác lập các điều kiện của phạt vi phạm trong hợp đồng nghĩa là họ đã chấp nhận và bị ràng buộc bởi các cam kết của mình. Do đó, họ phải gánh chịu trách nhiệm ngay khi các điều kiện đó phát sinh, bất kể thiệt hại có xảy ra hay không.

Như vậy chỉ cần đủ hai điều kiện: có thỏa thuận trong hợp đồng và có hành vi vi phạm hợp đồng, trách nhiệm phạt vi phạm lập tức phát sinh.

Dựa vào hành vi vi phạm hợp đồng thường có hai hình thức phạt, đó là phạt bội ước và phạt vạ.

Bội ước tức là không thực hiện những cam kết trong hợp đồng, do đó có thể hiểu phạt bội ước là phạt do không thực hiện hợp đồng. Đối với trường hợp phạt bội ước sau khi đã nộp đủ tiền phạt thì bên vi phạm được giải phóng khỏi nghĩa vụ hợp đồng của mình, hợp đồng chấm dứt khi bên vi phạm nộp phạt.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 442 Bộ luật dân sự, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Bộ luật dân sự không quy định giới hạn về mức phạt tối đa hay tối thiểu, mà hoàn toàn để cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng tự quyết định. Quy định này thể hiện sự tôn trọng tối đa quyền tự do định đoạt của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng.

Nhiệm Vụ Của Bộ Luật Hình Sự Là Gì?

Theo quy định của Điều 1 Bộ luật hình sự 201.Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội. Điều 1 của Bộ luật hình sự quy định về nhiệm vụ của luật hình sự. Với tư cách là một ngành luật độc lập và là luật nội dung, luật hình sự cú các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần bảo vệ hũa bỡnh và an ninh của nhõn loại. Đây là nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng nhất của luật hình sự.

Bằng những biện pháp và phương tiện đặc thù (riêng biệt) của mình, luật hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội (khỏch thể) quan trọng này khỏi sự xõm hại của các hành vi phạm tội. Các chế tài hình sự (hình phạt) là những biện pháp mang tớnh cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất không chỉ nhằm mục đích trừng trị đối với người phạm tội mà cũn răn đe, phòng ngừa tội phạm cú hiệu quả.

Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm: nhiệm vụ này của Bộ luật hình sự thể hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”của Đảng và Nhà nước ta, lấy “giỏo dục phòng ngừa là chớnh” kết hợp với các biện pháp răn đe, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi tội phạm nhằm giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội và sớm hũa nhập với cộng đồng. Nhiệm vụ này của Bộ luật hình sự được thực hiện dưới hai hình thức:

– Ngăn ngừa riêng đối với những người đó phạm tội thụng qua việc xét xử và ỏp dụng hình phạt cùng các biện pháp cưỡng chế khác đồng thời tăng cường sự kiểm tra của xã hội đối với những người bị kết án nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới. – Ngăn ngừa chung đối với các thành viên khác trong xã hội phạm tội bằng những quy định cấm của luật hình sự và khả năng ỏp dụng các chế tài hình sự (hình phạt) nếu họ thực hiện hành vi phạm tội.

Giáo dục mọi công dân cú ý thức tụn trọng, tuõn thủ và chấp hành nghiờm chỉnh pháp luật, tích cực tham gia vào cụng cuộc đấu tranh phòng và chống ngừa tội phạm. Nhiệm vụ này của luật hình sự được thực hiện thông qua các hình thức sau:

– Bảo vệ các lợi ích của cá nhân, của xã hội và của Nhà nước bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt nếu thực hiện hành vi phạm tội xâm hại các lợi ích này; – Áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác đối với người đó phạm tội (ngăn ngừa riêng) và răn de đối với các thành viên khác trong xã hội (ngăn ngừa chung); – Phổ biến tuyên truyền luật hình sự rộng rãi trong quần chúng nhân dân.

Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt áp dụng đối với người phạm tội: chỉ Bộ luật hình sự mới có nhiệm vụ này (mà không có một văn bản pháp luật nào khác). Đây là những điều cấm cùng các chế tài kèm theo được xác định trong Bộ luật này nhằm buộc mọi công dân phải tuân thủ. Nếu không tuõn thủ thì người vi phạm sẽ bị xử lý bằng các chế tài (hình phạt) tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xõm phạm, tớnh chất quan trọng của quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ.

Quy Chế Hoạt Động, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Của Ban Dân Vận Quận Ủy Ba Đình

(Ban hành kèm theo Quyết định số 68-QĐ/QU ngày 04/03/2011 của Ban Thường vụ Quận uỷ Ba Đình).

CHƯƠNG I

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA BAN DÂN VẬN QUẬN UỶ. Điều 1. Chức năng:

Ban Dân vận Quận uỷ là cơ quan tham mưu của Quận uỷ mà trực tiếp là Ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ về công tác dân vận của Đảng, công tác tôn giáo, công tác dân tộc; Là cơ quan Thường trực của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ quận.

– Chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các Quyết định, Chỉ thị, Thông tri, và các văn bản của Quận uỷ về lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận ở địa phương, giúp cấp uỷ tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương, chính sách về công tác dân vận của Trung ương và Thành phố, đồng thời tham mưu giúp Ban Thường vụ Quận uỷ chỉ đạo công tác dân vận trong hệ thống chính trị của quận.

– Phối hợp với hệ thống chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị-xã hội của quận quán triệt, phổ biến, hướng dẫn thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương của Trung ương, Thành phố và của Quận về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, người Hoa, về thực hiện Quy chế dân chủ của các đơn vị trực thuộc quận; kiểm tra việc thực hiện các chủ trương đó. Theo dõi, tổng kết kinh nghiệm, đề xuất với Quận uỷ, Ban Dân vận Thành uỷ các giải pháp nhằm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội thuộc quận.

– Phối hợp với Ban Tổ chức Quận uỷ nắm tình hình tổ chức, công tác cán bộ trong khối dân vận của quận và các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc; tham gia việc bổ trí, sử dụng đề bạt và thực hiện chính sách cán bộ của MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội. Tham mưu với cấp uỷ những chủ trương, nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ dân vận. Nghiên cứu, thẩm định các nội dung văn bản và chịu trách nhiệm trước Ban thường vụ, Thường trực Quận uỷ về ý kiến nhận xét, đánh giá và tham mưu đối với hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội thuộc quận.

– Hướng dẫn, kiểm tra việc kiện toàn và xây dựng quy chế làm việc của khối dân vận ở cơ sở. Hướng dẫn công tác và bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ năng về công tác dân vận cho cán bộ làm công tác dân vận ở phường và các tổ chức cơ sở Đảng thuộc đảng bộ quận; tham gia giúp cấp uỷ quy hoạch, tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân vận thuộc hệ thống chính trị của quận.

– Lãnh đạo và chuyên viên Ban dân vận khi cần thiết được mời dự Hội nghị của Quận uỷ, ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ bàn về công tác dân vận. Các chuyên viên Ban dân vận được mời dự các Hội nghị ban Thường vụ và cấp uỷ các cơ sở Đảng trực thuộc Quận uỷ, ban, ngành, đoàn thể khi bàn về nội dung công tác dân vận do lãnh đạo ban phân công.

Thường xuyên nắm chắc tình hình nhân dân trong địa bàn quận, phối hợp với các phòng, ban, ngành chức năng thuộc quận kịp thời tham mưu Ban Thường vụ, Thường trực Quận ủy lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết các vấn đề dân sinh bức xúc; giải quyết các vấn đề phức tạp phát sinh lợi dụng từ việc hoạt động của các tôn giáo chống đối sự lãnh đạo của đảng và công tác quản lý nhà nước của chính quyền các cấp.

CHƯƠNG II

TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA BAN DÂN VẬN QUẬN UỶ: Điều 3. Tổ chức bộ máy và biên chế.

Ban Dân vận Quận ủy gồm Trưởng ban, 01 phó trưởng ban và các đồng chí cán bộ chuyên trách.

– Trưởng ban chuyên trách là uỷ viên Ban Thường vụ Quận uỷ, kiêm phó Trưởng ban thường trực BCĐ QCDC quận; Phụ trách khối dân vận quận.

Trưởng ban phụ trách công tác của Ban, chịu trách nhiệm trước Quận uỷ và Ban Dân vận cấp trên về toàn bộ hoạt động công tác dân vận của Đảng bộ quận; Chủ trì các Hội nghị của Ban.

– Đồng chí Phó trưởng ban là người giúp việc Trưởng ban và được Trưởng ban phân công phụ trách một số công việc cụ thể; giải quyết các công việc khi được Trưởng ban uỷ quyền.

– Cán bộ chuyên trách: Thực hiện nhiệm vụ do lãnh đạo Ban phân công.

– Lãnh đạo Ban Dân vận và cán bộ chuyên trách phải sử dụng thời gian hợp lý để đi cơ sở theo dõi, nắm tình hình công tác dân vận, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, những mô hình vận động nhân dân phù hợp và hiệu quả.

– Tổng biên chế của Ban không quá 04 người. Nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ do Trưởng ban phân công và thực hiện theo quy chế làm việc của Ban.

Điều 4. Chế độ làm việc:

– Ban Dân vận Quận ủy làm việc theo chế độ thủ trưởng, việc tổ chức điều hành theo sự chỉ đạo của trưởng ban. Phó ban giúp trưởng ban chỉ đạo điều hành 1 số mặt công tác theo sự phân công của Trưởng Ban và chịu trách nhiệm về những phần việc được giao. Cán bộ, chuyên viên của Ban chịu trách nhiệm trước lãnh đạo ban về những công việc được giao, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo và đi cơ sở.

– Hàng năm, căn cứ nghị quyết, chương trình công tác của Quận uỷ và hướng dẫn của Ban Dân vận Thành uỷ, Ban xây dựng chương trình, kế hoạch công tác Dân vận; tham mưu xây dựng chương trình hoạt động của BCĐ thực hiện QCDC quận; đề ra các giải pháp tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch 6 tháng, hàng quý và hàng tháng đến cơ sở.

– Hàng quý theo yêu cầu công tác có thể tổ chức giao ban giữa khối Dân vận quận với đồng chí cấp uỷ phụ trách công tác dân vận các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc.

– Sáu tháng, phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự quận xây dựng chương trình hoạt động, tổ chức giao ban đánh giá kết quả thực hiện công tác dân vận (6 tháng và cả năm) giữa khối dân vận quận với đồng chí phụ trách công tác tuyên truyền đặc biệt thuộc các đơn vị Quân đội đóng trên địa bàn.

CHƯƠNG III

MỐI QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA BAN DÂN VẬN QUẬN UỶ. Điều 5. Đối với Quận uỷ, Ban Thường vụ Quận uỷ, Thường trực Quận uỷ và Ban Dân vận Thành uỷ:

Ban chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp toàn diện của Ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ. Chương trình công tác năm của Ban được Ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ thông qua. Ban có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất, xin ý kiến đạo và đề xuất các vấn đề thuộc trách nhiệm của Ban và nhiệm vụ được Quận uỷ, Ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ giao; về hoạt động của ủy ban MTTQ, các đoàn thể quận, các hội quần chúng và khối dân vận 14 phường.

Ban Dân vận Quận ủy chịu sự hướng dẫn và kiểm tra, giám sát của Ban Dân vận Thành uỷ về chuyên môn, nghiệp vụ; đảm bảo chế độ thông tin theo quy định.

Điều 6. Đối với Thường trực HĐND và UBND quận:

Ban Dân vận tham mưu giúp Ban Thường vụ Quận uỷ hướng dẫn đôn đốc kiểm tra việc thực hiện công tác dân vận của khối chính quyền.

Khi có những vấn đề dân sinh bức xúc, các kiến nghị chính đáng của nhân dân đúng quy định của pháp luật nhưng chậm được giải quyết, Ban Dân vận Quận uỷ (có thể phối hợp) cùng đại diện đoàn thể chính trị – xã hội làm việc trực tiếp với Thường trực HĐND và UBND quận để đề nghị xem xét giải quyết.

Điều 8. Đối với chúng tôi và các đoàn thể chính trị – xã hội quận:

Ban Dân vận có trách nhiệm tham mưu giúp Quận uỷ, Ban Thường vụ và Thường trực Quận uỷ theo dõi, kiểm tra, đánh giá công tác MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Mối quan hệ giữa ban Dân vận với MTTQ và các đoàn thể nhân dân thuộc quận là quan hệ phối hợp trong việc xây dựng các chương trình, nghiên cứu thực hiện các đề án và chuyên đề công tác của Quận uỷ; phối hợp khảo sát, kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ được Quận uỷ giao.

Quận uỷ giao Ban Dân vận có nhiệm vụ theo dõi và nắm tình hình triển khai các phong trào quần chúng, tình hình hoạt động của hệ thống MTTQ và các đoàn thể quần chúng trên địa bàn. Một số văn bản của MTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội quận trình xin ý kiến Thường trực Quận uỷ, đồng chí Trưởng ban Dân vận Quận uỷ có trách nhiệm nghiên cứu có ý kiến tham mưu để đề xuất khi thường trực Quận uỷ yêu cầu.

Phổ biến, thông tin kịp thời đến Ủy ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân quận và các hội quần chúng những chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, những chỉ đạo của Quận ủy về công tác Dân vận.

Định kỳ hàng quý tổ chức giao ban với lãnh đạo Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân quận, các hội quần chúng và Trưởng khối dân vận các phường, đánh giá thực hiện hoạt động, góp ý xây dựng chương trình, kế hoạch công tác và thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Hàng tháng, quý, MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội quận gửi báo cáo công tác về Văn phòng Quận uỷ – đồng thời gửi Ban dân vận Quận uỷ để tổng hợp, tổ chức giao ban và báo cáo với Ban Thường vụ Quận uỷ, Ban Dân vận Thành uỷ. 6 tháng, năm MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội quận báo cáo tình hình công tác (theo chương trình hoạt động được Ban Thường vụ cho ý kiến chỉ đạo thống nhất từ đầu năm và các nhiệm vụ đột xuất cuả đoàn thể thành phố giao) với Ban thường vụ Quận ủy, đồng thời gửi báo cáo cho Ban Dân vận Quận uỷ. Các chuyên viên của Ban được lãnh đạo Ban cử dự các kỳ sinh hoạt của Ban Thường vụ, BCH và các hội nghị chuyên đề của chúng tôi và đoàn thể chính trị- xã hội quận.

Điều 9. Đối với tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc:

Ban Dân vận Quận ủy có nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác dân vận của cấp uỷ các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Quận ủy và các đồng chí cấp uỷ viên phụ trách công tác dân vận ở cơ sở. Ban có trách nhiệm tham gia với cấp uỷ cơ sở trong việc lựa chọn, phân công đồng chí cấp uỷ làm công tác dân vận cơ sở theo Quy chế của Ban Dân vận TW và Ban Dân vận Thành uỷ Hà Nội.

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 10. Căn cứ vào quy chế này, Ban Dân vận Quận uỷ có trách nhiệm báo cáo đề xuất Ban Thường vụ Quận ủy, Thường trực Quận ủy kiện toàn tổ chức sắp xếp bộ máy và cán bộ; phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên trong Ban, đảm bảo thực hiện hiệu quả, chất lượng công việc theo chức năng, nhiệm vụ. Định kỳ báo cáo tình hình tổ chức thực hiện với Ban Thường vụ Quận ủy, Thường trực Quận ủy.

admin admin

Bạn đang xem bài viết Quy Định Về Việc Thôi Làm Nhiệm Vụ Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!