Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Cô Tô (Nguyễn Tuân) # Top 10 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Cô Tô (Nguyễn Tuân) # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Cô Tô (Nguyễn Tuân) mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài Cô Tô (Nguyễn Tuân)

Bài giảng: Cô Tô – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Câu 1 (trang 91 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Đoạn văn có thể chia thành 3 đoạn:

– Phần 1 (từ đầu đến theo mùa sóng ở đây): Cảnh đẹp Cô Tô sau khi bão đi qua

– Phần 2 (tiếp đến là là nhịp cánh…): Cảnh tráng lệ, hùng vĩ của Cô Tô buổi bình minh

– Phần 3 (còn lại): Cảnh sinh hoạt buổi sáng trên đảo Cô Tô

Câu 2 (trang 91 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Những từ ngữ, chi tiết miêu tả vẻ đẹp của Cô Tô sau khi trận bão đi qua:

+ Một ngày trong trẻo, sáng sủa

+ Cây thêm xanh mượt

+ Nước biển lam biếc đậm đà hơn

+ Cát lại vàng giòn hơn

+ Lưới nặng mẻ cá giã đôi

– Các tính từ miêu tả màu sắc, ánh sáng: trong trẻo, xanh mượt, lam biếc, vàng giòn

– Nổi bật các hình ảnh: bầu trời, nước biển, cây trên núi đảo, bãi cát khiến khung cảnh Cô Tô hiện lên thật trong sáng, tinh khôi

→ Tác giả cảm nhận vẻ đẹp Cô Tô sau ngày bão hoàn toàn tinh khiết, lắng đọng

Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Hình ảnh mặt trời mọc trên biển là bức tranh đẹp, được tác giả thể hiện qua từ ngữ chỉ hình dáng, màu sắc và hình ảnh so sánh:

+ Chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây bụi

+ Mặt trời nhú lên dần dần

+ Tròn trĩnh, phúc hậu như một quả trứng thiên nhiên đầy đặn

+ Qủa trứng hồng hào… nước biển ửng hồng

+ Y như một mâm lễ phẩm

– Tác giả sử dụng từ ngữ chính xác, tinh tế, lối so sánh thật rực rỡ, tráng lệ.

→ Hình ảnh mặt trời trên biển huy hoàng, rực rỡ với tài quan sát tinh tế, cảnh mặt trời mọc ở Cô Tô được thể hiện trong sự giao thoa hân hoan giữa con người với thế giới.

Câu 4 (trang 91 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Cảnh người dân sinh hoạt và lao động được miêu tả qua các chi tiết, hình ảnh:

– Quanh giếng nước ngọt: vui nhộn như một cái bến và đậm đà mát nhẹ

– Chỗ bãi đá: bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp…

– Thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về.

→ Cảnh lao động của người dân trên đảo khẩn trương, tấp nập.

– Đó là cuộc sống thanh bình: Trông chị Châu Hòa Mãn địu con… lũ con hiền lành.

→ Tác giả thể hiện sự đan quyện cảm xúc giữa người và cảnh, đồng thời thể hiện tình yêu Cô Tô của riêng Nguyễn Tuân.

LUYỆN TẬP

Bài 1 (trang 91 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc:

Bình minh trên biển mang trong mình tất cả vẻ đẹp của sự tinh khôi, trong trẻo của trời đất. Phóng tầm mắt ra xa, nước bốn bề mênh mông một màu xanh lục, những con sóng nhẹ nhàng vỗ vào bờ cát mơn man. Mặt trời tròn vành vạnh từ từ nhô mình lên khỏi mặt biển còn đang ngái ngủ, làm lóng lánh cả một vùng nước bạc. Trong ánh nắng dịu dàng buổi sớm mai, những làn hơi sương mỏng trên mặt biển dần tan ra, lộ rõ vẻ đẹp tinh khôi của biển. Xa xa thấp thoáng bóng những cánh chim hải âu nô đùa trên những con sóng biếc… Một bức tranh thiên nhiên mang trong mình vẻ đẹp trong trẻo của sự toàn mĩ.

Bài 2 (trang 91 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Chép và học thuộc lòng đoạn văn (từ Mặt trời nhú lên dần dần đến Một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh)

Bài giảng: Cô Tô – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài : “Cô Tô” Của Nguyễn Tuân

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

Kí là “một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể – chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút,…” (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học, sđd).

Các bài học: Cô Tô(của Nguyễn Tuân), Cây tre Việt Nam(của Thép Mới), Lòng yêu nước (của I.Ê-ren-bua), Lao xao (của Duy Khán) thuộc thể loại kí.

Nhà văn Nguyễn Tuân (còn có các bút danh khác: Ngột Lôi Quất, Thanh Hà, Nhất Lang, Tuân, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc) sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội. Quê quán: làng Mọc, thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (nay là phường Nhân Chính), quận Thanh Xuân, Hà Nội; mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội; Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Thời thanh, thiếu niên, Nguyễn Tuân theo gia đình làm ăn sinh sống ở nhiều nơi, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hoà, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh và Thanh Hoá. Ông học đến bậc trung học ở thành phố Nam Định. Năm 1929, do tham gia phong trào bãi khoá, bị đuổi học và sau đó, do phản đối chế độ thuộc địa, ông đã hai lần bị bắt, bị tù (một lần tại Băng Cốc – Thái Lan và bị giam tại Thanh Hoá (1930) và lần thứ hai bị bắt tại Hà Nội, giam tại Nam Định (1941).

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, Nguyễn Tuân bắt đầu viết văn và làm báo, chủ yếu đăng trên các báo, tạp chí: Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tao đàn, Hà Nội tân văn, Thanh nghị, Tiểu thuyết thứ bảy. Từ 1937, ông chuyên sống bằng nghề viết văn và nổi tiếng từ 1938, 1939 với Một chuyến đi, Vang bóng một thời,…

Sau Cách mạng, năm 1946, Nguyễn Tuân cùng với đoàn văn nghệ sĩ vào công tác tại Khu Năm (Trung Bộ). Năm 1947, ông phụ trách một đoàn kịch lưu động. Từ năm 1948 đến 1996, ông giữ trách nhiệm Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời gian này, ông đã tham gia nhiều chiến dịch và về các vùng sau lưng địch để sáng tác. Sau 1954, Nguyễn Tuân sống và hoạt động văn nghệ ở Hà Nội. Từ năm 1958, ông là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I và II).

Những tác phẩm đã xuất bản: Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự, 1939); Vang bóng một thời (truyện ngắn, 1940); Chiếc lư đồng mắt cua (tùy bút, 1941); Tóc chị Hoài (tuỳ bút, 1943); Tuỳ bút II (tuỳ bút, 1943); Nguyễn (truyện ngắn, 1945); Chùa Đàn (truyện, 1946); Đường vui (tuỳ bút, 1949); Tình chiến dịch (bút kí, 1950); Thắng càn (truyện, 1953); Chú Giao làng Seo (truyện thiếu nhi, 1953); Đi thăm Trung Hoa (bút kí, 1956); Tuỳ bút kháng chiến (tuỳ bút, 1955); Tùy bút kháng chiến và hoà bình(tuỳ bút, 1956); Truyện một cái thuyền đất (truyện thiếu nhi, 1958); Sông Đà(tuỳ bút, 1960); Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (tuỳ bút, 1972); Tuyển tập Nguyễn Tuân(tập I: 1981, tập II: 1982).

Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình văn học và dịch giới thiệu văn học. Nhà văn đã được nhận: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996).

1. Bài văn có thể chia làm ba đoạn:

– Đoạn 1 (Từ đầu đến “theo mùa sóng ở đây”): Cảnh đẹp của Cô Tô sau trận bão đi qua.

– Đoạn 2 (Từ “Mặt trời lại rọi lên” đến “là là nhịp cánh”):Cảnh tượng tráng lệ và hùng vĩ khi mặt trời mọc trên biển.

– Đoạn 3 (Từ “Khi mặt trời đã lên” đến hết): Cảnh sinh hoạt buổi sáng trên đảo Cô Tô.

2. Vẻ đẹp của đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua được tác giả thể hiện qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh đáng chú ý:

– Một ngày trong trẻo, sáng sủa;

– Nước biển lam biếc đặm đà hơn;

– Lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi.

Ở đây, các tính từ chỉ màu sắc và ánh sáng (trong trẻo, sáng sủa, trong sáng, xanh mượt, lam biếc, vàng giòn) trong kết cấu câu văn đặc tả nhấn mạnh (thêm, hơn) đã làm nổi bật các hình ảnh (bầu trời, nước biển, cây trên núi đảo, bãi cát), khiến cho khung cảnh Cô Tô được hiện lên thật trong sáng, tinh khôi.

Nghệ thuật dùng tính từ đặc tả nói trên kết hợp với việc chọn điểm nhìn từ trên cao, tác giả giúp người đọc cùng hình dung và cảm nhận về vẻ đẹp tươi sáng về toàn cảnh Cô Tô.

4.Trong đoạn cuối, cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo được miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh:

– Quanh giếng nước ngọt: vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền (sử dụng hình ảnh so sánh);

– Chỗ bãi đá, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp (sử dụng lượng từ không xác định);

– Thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về (sử dụng liên từ và điệp từ);

Đó là cảnh sinh hoạt và lao động khẩn trương, tấp nập. Đó cũng là khung cảnh của cuộc sống thanh bình sau bão: “Trông chị Châu Hoà Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Hình ảnh so sánh liên tưởng độc đáo này thể hiện sự đan quyện trong cảm xúc giữa cảnh và người, đồng thời thể hiện đặc sắc tình yêu Cô Tô của riêng một Nguyễn Tuân – “người đi tìm cái đẹp” toàn bích và hài hoà.

Khi đọc bài văn, chú ý nhấn giọng thể hiện sắc thái miêu tả qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh có tính gợi cảm; các liên tưởng độc đáo của tác giả khi tái hiện cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo.

2. Viết một đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc (trên biển, trên sông, trên núi hay ở đồng bằng) mà em quan sát được.

: Khi miêu tả, cần tập trung vào các chi tiết sau (chú ý vào những nét riêng ở mỗi miền):

– Quang cảnh lúc mặt trời chưa lên? (cả không gian trong một mầu mờ mờ trắng đục).

– Mặt trời nhú dần lên như thế nào? (suy nghĩ để lựa chọn được những hình ảnh so sánh độc đáo).

Soạn Bài Cô Tô (Siêu Ngắn)

Soạn bài Cô Tô

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến mùa nóng ở đây): toàn cảnh đảo Cô Tô sau cơn bão

– Phần 2 (tiếp đến là là nhịp cánh): cảnh mặt trời lên trên biển

– Phần 3 (còn lại): sinh hoạt của ngư dân quanh giếng nước ngọt

I. Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 91 Ngữ Văn 6 Tập 2):

Bố cục (như trên)

Câu 2 (trang 91 Ngữ Văn 6 Tập 2):

– Vẻ đẹp trong sáng của đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua

+ không gian: trong trẻo, sáng sủa

+ thời gian: sau một trận giông bão

+ bầu trời trong sáng…

+ cây trên đảo thêm xanh mượt, nước bể lại lam biếc đậm đà

+ cát lại vàng giòn

+ lưới càng thêm nặng mẻ

– Những từ ngữ rất gợi tả cho thấy màu trắng trong sáng, khung cảnh bao la, vẻ đẹp tươi ngời của đảo Cô Tô, sự sống hiện hình trong dạng thể vừa rất quen lại vừa mới sinh nở rất lạ

Câu 3 (trang 91 Ngữ Văn 6 Tập 2):

– Những từ ngữ chỉ hình dáng , màu sắc, những hình ảnh mà tác giả đã dùng để vẽ cảnh đẹp rực rỡ mặt trời mọc trên biển:

+ Chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi

+ Mặt trời…. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn

+ Qủa trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng

→ Bức tranh bình minh trên biển thật rực rỡ ,thật tráng lệ và dạt dào chất thơ

– Nhận xét những hình ảnh so sánh mà tác giả đã dùng: chính xác về hình dáng màu sắc vừa thể hiện được kích thước rộng lớn, dáng vẻ đường bệ đầy đặn của mặt trời với vẻ tươi sáng , rực rỡ trên nền cảnh không gian bao la của bầu trời và mặt biển

Câu 4 (trang 91 Ngữ Văn 6 Tập 2):

– Cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo được miêu tả qua các hình ảnh chi tiết:

+ Cái giếng nước ngọt …. cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền

+ Không biết là bao nhiêu người đến gánh và múc

+ Từng đoàn thuyền lũ con lành

+ Anh hùng Châu Hòa Mãn đi quẩy nước cùng mọi người , hòa lẫn vào không khí náo nức khẩn trương của chuyến ra khơi

+ Hình ảnh đầy chất thơ về người mẹ trẻ địu con

– Qua đó ta thấy cảnh sinh hoạt ấy tái hiện là một cuộc sống bình yên, giản dị, hạnh phúc của người dân nơi đây

Luyện tập

Đoạn văn tham khảo

Bình minh trên biển thật đẹp. Từ đằng đông, ông mặt trời khệ nệ đứng dậy vươn vai và tỏa những tia nắng ấm áp xuống nhân gian. Cả mặt biển như dát một màu vàng tuyệt đẹp. Xa xa là những cánh chim hải âu đang chao liệng như trình diễn vũ điệu chào ngày mới. Những chiếc thuyền của ngư dân đã trở về sau một đêm ra khơi đánh bắt. Cảnh biển tấp nập, nhộn nhịp hẳn lên.

Bài giảng: Cô Tô – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 6 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 6 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 6 hơn.

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Soạn bài Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

Bố cục

Phần 1 (từ đầu đến gậy đánh phèn): sự dữ dội, hung bạo của sông Đà

Phần 2 (dòng nước sông Đà): cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò

Phần 3 (còn lại): vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà

Câu 1 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Tác phẩm người Lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện:

– Tác giả miêu tả sông Đà từ những chi tiết cụ thể, sinh động và thực tế

– Tác giả miêu tả từ nhiều góc quan sát độc đáo khác nhau

+ Từ trên máy bay thấy sông Đà như một sợi dây thừng

+ Trực tiếp ngồi trên thuyền tham gia hành trình trên sông Đà

Câu 2 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Để khắc họa hình tượng sông Đà như một con sông hung bạo, tác giả có sử dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh:

+ Bờ sông, dựng vách thành… có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một yết hầu, lòng sông như có chỗ nằm gọn giữa hai bờ vách như con hàng động huyền bí

+ Khung cảnh mênh mông hàng cây số nước đá…như lúc nào cũng đòi nợ xuýt

+ Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu

– Biện pháp nhân hóa: âm thanh

+ Tiếng nước réo nghe như oán trách, lúc như van xin, khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo

→ Biện pháp tu từ khiến cho dòng sông Đà trở nên nổi bật với sức mạnh hoang dại, vẻ hùng vĩ, sự dữ tợn, táo bạo trước góc miêu tả tinh tế của tác giả

Câu 3 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Dòng sông Đà trữ tình:

– Sự liên tưởng độc đáo: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình của người thiếu nữ

– Sông Đà được nhìn qua làn mây, qua ánh nắng với màu sắc

+ Xuân: xanh màu xanh ngọc bích

+ Thu: lừ đừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa

– Sông Đà gắn bó với con người tựa cố nhân

– Bờ sông hoang dại, bình lặng như thời tiền sử- hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa

→ Sông Đà trữ tình, hiền hòa, sự tài hoa của Nguyễn Tuân đã mang lại những áng văn bức tranh trữ tình làm say đắm lòng người

Câu 4 (trang 192 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Hình ảnh người lái đò sông Đà trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo

– Con người nhỏ bé đời thường, không vũ khí, không phép màu, có thể thắng được thạch trận đủ 3 lớp

– Người lái đò được miêu tả là người tài năng, nhanh trí, vượt thác như cưỡi ghềnh, xé toang lớp này đến lớp khác trùng vi thạch trận

– Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉ, thất vọng qua bộ mặt xanh lè

→ Người lái đò chiến thắng trong trận chiến cam go bằng sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí.

Ông lái đò đúng là thứ vàng mười của đất nước, xứng đáng được tôn vinh, ngợi ca

Câu 5 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

Biện pháp so sánh:

+ Tiếng thác nước nghe như oán trách…

+ Sóng nước như thế quân liều mạng…

+ Con sông Đà tuôn dài như một áng trữ tình…

+ Bờ sông hoang dại… cổ tích tuổi xưa

→ Sông Đà hiện lên vừa thơ mộng, trữ tình, vừa dữ dội, bạo tàn

Luyện tập

Bài 1 (trang 193 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Tìm đọc trọn vẹn tùy bút Người lái đò sông Đà.

“Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình…mỗi độ thu về”

Mở bài: giới thiệu khái quát tác phẩm, tác giả

Nêu được vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà thể hiện trong đoạn văn trên

Thân bài: Hình ảnh sông Đà trữ tình

+ Mày sắc độc đáo, hình sáng mềm mại, hiện lên trong sự diễm lệ của núi rừng Tây Bắc

+ Sông Đà được so sánh gợi cảm, ấn tượng

– Cái tôi trữ tình của Nguyễn Tuân

+ Chất nghệ sĩ, rung cảm trước cái đẹp đầy màu sắc, nhìn bằng con mắt của người họa sĩ

+ Cái tôi tài hoa, nhìn sự vật dưới góc độ thẩm mĩ

+ Đó là cái tôi uyên bác, tài hoa

Kết bài: Tác giả với sự tài hoa, giàu thẩm mĩ đã tìm ra được sự.

Bài giảng: Người lái đò sông đà – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Cô Tô (Nguyễn Tuân) trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!