Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia Ngắn Gọn Nhất # Top 7 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia Ngắn Gọn Nhất # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia Ngắn Gọn Nhất mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung, gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu trang 31 SGK Ngữ văn 10 tập 2.

Nội dung soạn bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Học Tốt được biên soạn chi tiết với những gợi ý, hướng dẫn cụ thể để tìm hiểu, phân tích tác phẩm qua các câu hỏi đọc hiểu SGK trang 32.

Cùng tham khảo…

Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm

I. Tác giả

– Thân Nhân Trung (1418-1499), tự là Hậu Phủ, người làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng (Bắc Giang)

– Ông đỗ Tiến sĩ năm 1969, là người nổi tiếng văn chương, được Lê Thánh Tông tin dùng, thường cho vẫn hầu văn bút.

– Khi thành lập hội Tao đàn, Lê Thánh Tông ban cho ông và Đỗ Nhuận (1446 – ?) là Tao đàn phó nguyên súy.

II. Tác phẩm

– Để phát triển giáo dục, khuyến khích nhân tài, từ năm 1439 trở đi, nhà nước phong kiến triều Lê đặt ra lệ xướng danh, yết bảng, ban mũ áo, cấp ngựa, đãi yến và vinh quy bái tổ cho những người đỗ đạt cao.

– Bài Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí – bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442) – do Thân Nhân Trung soạn năm 1484 thời Hồng Đức là một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu (Hà Nội).

– Thể loại: Văn bia, là loại văn khắc trên bia đá nhằm ghi chép những sự việc trọng đại, hoặc tên tuổi những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau.

– Bố cục tác phẩm:

Tham khảo văn mẫu: Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia chi tiết

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia trang 32 SGK Ngữ văn 10 tập 2.

1 – Trang 32 SGK

Hiền tài có vai trò quan trọng đối với đất nước như thế nào?

Trả lời:

– Hiền tài là người có đức độ, tài cao.

– Nguyên khí là khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật.

Người hiền tài chính là nguyên khí của đất nước, đóng vai trò vô cùng quan trọng, quý giá, quyết định đến sự hưng thịnh hay suy vi của quốc gia dân tộc.

– Nhà nước đã từng trọng đãi hiền tài: đề cao danh tiếng, phong chức tước, cấp bậc, ghi tên bảng vàng, ban yến tiệc… chưa xứng với vai trò, vị trí của hiền tài, cần phải khắc bia tiến sĩ để lưu danh sử sách.

2 – Trang 32 SGK

Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ đối với đương thời và các thế hệ sau?

Trả lời:

– Khuyến khích hiền tài, kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn, hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua.

– Ngăn ngừa điều ác, kẻ ác: ý xấu được ngăn chặn, lòng thiện tràn đầy, kẻ ác thấy đó làm điều răn, người thiện xem đó mà cố gắng.

– Dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, góp phần làm cho hiền tài nảy nở, đất nước hưng thịnh dài lâu, rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, củng cố mệnh mạch cho Nhà nước.

3 – Trang 32 SGK

Theo anh (chị), bài học lịch sử rút ra từ việc khắc bia ghi tên tiến sĩ là gì?

Trả lời:

– Thời nào “hiền tài cũng là nguyên khí quốc gia “, phải biết quý trọng nhân tài.

– Thấm nhuần quan điểm của nhà nước ta: giáo dục là quốc sách, trọng dụng nhân tài.

– Thấm nhuần quan điểm Hồ Chủ tịch: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.

– Ngày nay các cấp chính quyền địa phương, nhà nước đều phải có những chính sách đãi ngộ, khuyến khích phát triển người tài, tránh chảy máu chất xám. Vinh danh các thủ khoa đỗ đầu ở Văn Miếu hàng năm…

4 – Trang 32 SGK

Lập một sơ đồ về kết cấu của bài văn bia nói trên.

Trả lời:

Sơ đồ về kết cấu của bài văn bia ghi tên tiến sĩ:

Bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là quan niệm đúng đắn của tác giả về hiền tài, về mối quan hệ giữa hiền tài và vận mệnh nước nhà, ý nghĩa của việc khắc bia tiến sĩ thể hiện qua nghệ thuật lập luận sắc sảo, thuyết phục người đọc.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia

Soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba)

Hướng dẫn soạn bài

Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu … làm đến mức cao nhất) : Nêu lên giá trị hiền tài với đất nước.

– Phần 2 (còn lại) : Ý nghĩa của việc dựng bia, khắc tên người hiền tài.

Câu 1 (trang 32 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Vai trò quan trọng của hiền tài với đất nước :

– Là người học rộng tài cao, thông minh, sáng suốt, là hạt nhân, là khí chất ban đầu làm nên sự sống và phát triển của đất nước.

– Hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của mỗi quốc gia.

Câu 2 (trang 32 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ :

– Lưu danh hiền tài muôn đời, thể hiện sự coi trọng người tài.

– Khuyến khích nhân tài tham gia giúp vua, hưng thịnh đất nước.

– Kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng.

Câu 3 (trang 32 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Bài học lịch sử từ việc khắc bia ghi tên tiến sĩ :

– Thời đại nào thì hiền tài cũng là nhân tố quan trọng để phát triển đất nước, vì vậy cần có nhiều biện pháp giữ chân người tài cống hiến cho đất nước.

– Cần có chính sách đầu tư cho giáo dục, tạo điều kiện hết sức có thể cho người tài bộc lộ năng lực.

Câu 4 (trang 32 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Sơ đồ kết cấu của bài văn bia :

Bài giảng: Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Chí Khí Anh Hùng Ngắn Gọn Nhất

Tham khảo nội dung bài soạn Chí khí anh hùng do Đọc Tài Liệu biên soạn ngay sau đây để hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du qua hình tượng nhân vật Từ Hải, nắm được đặc trưng nghệ thuật trong việc tả nhân vật anh hùng của tác giả.

A- Kiến thức cơ bản về đoạn trích

– Thuộc phần ” Gia biến và lưu lạc” từ câu 2213 đến 2230 trong Truyện Kiều.

– Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải và khẳng định lại một lần nữa tình cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ chồng.

– Kiều bị lừa và rơi vào lầu xanh lần thứ hai, cuộc đời nàng hầu như bế tắc hoàn toàn thì đột nhiên Từ Hải xuất hiện đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục. Hai người rất tâm đầu ý hợp, sống hạnh phúc. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm “Hương lửa đang nồng” đã từ biệt Kiều ra đi. Đoạn trích này cho thấy chí khí của Từ Hải.

Đoạn trích được chia thành 3 đoạn nhỏ:

– Đoạn 1 (4 câu thơ đầu): cuộc chia tay giữa chàng Từ Hải và Thúy Kiều sau những năm tháng chung sống.

– Đoạn 2 (12 câu thơ tiếp): cuộc nói chuyện giữa Thúy Kiều và Từ Hải – thể hiện tính cách anh hùng của Từ Hải.

– Đoạn 3 (còn lại): ý chí và tính cách của Từ Hải.

” Chí khí anh hùng “: Thể hiện tinh thần mục đích hướng tới những điều to lớn, vĩ đại của người anh hùng, muốn tạo ra điều gì đó có thể vang danh thiên hạ, tạo nên sự nghiệp của riêng mình và lưu danh thiên cổ.

B- Hướng dẫn trả lời câu hỏi soạn bài Chí khí anh hùng (SGK trang 112)

Câu 1: Anh (chị) hãy cho biết hàm nghĩa các cụm từ “lòng bốn phương” và “mặt phi thường”. Tìm những từ ngữ thể hiện sự trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải.

Trả lời:

a) “Lòng bốn phương” là cụm từ có sức gợi tả và gợi cảm lớn. Từ Hải nghe tiếng gọi của bốn phương dậy lên trong lòng trượng phu chí lớn. Bốn phương ở đây có ý nghĩa chỉ thiên hạ, thế giới “Lòng bốn phương” đồng nghĩa với “Chí tang bồng”, “Chí làm trai”… Hai câu ba và bốn mở ra không gian “bốn phương” rộng lớn: ” Trời bể mênh mang”, “Lên đường thẳng dong” không gian có sức biểu đạt ” chí khí anh hùng “. So với hiện thực xã hội phong kiến, Từ Hải là một con người “quá kích cỡ”, vì thế hình ảnh Từ Hải phải được đặt trong không gian vũ trụ, trời đất.

b) Phi thường là cụm từ chỉ phẩm chất xuất chúng, hơn người. Điều đó không chỉ đơn giản thể hiện một cách cụ thể ở dung mạo bên ngoài ( Râu hùm hàm én, mày ngài / Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao) mà quan trọng hơn là toàn bộ phẩm chất, tính cách cũng như cuộc đời, sự nghiệp của con người xuất chúng (trong trường hợp này “mặt phi thường” đồng nghĩa với “người phi thường”, “đời phi thường”, “sự nghiệp phi thường”…).

c) Hai cụm từ: “lòng bốn phương” và “mặt phi thường” và có ý nghĩa chỉ khái niệm đồng thời cũng chính là hình tượng văn học. Chúng có quan hệ tương hỗ để làm nổi bật quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Du: những người anh hùng là những người xuất chúng, phi thường, phi phàm, mang tầm vóc vũ trụ chứ không phải người thường. Điều đó thể hiện rõ qua việc sử dụng các yếu tố của thi pháp tả người anh hùng là gắn với các hình tượng thiên nhiên, không gian vũ trụ.

d) Trong đoạn trích, Nguyễn Du sử dụng rất nhiều từ ngữ biểu thị thái độ trân trọng, kính phục Từ Hải:

– Từ ngữ có sắc thái tôn xưng như: “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường”…

– Từ ngữ chỉ hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “mười vạn tinh binh”, “bóng tinh rợp đường”, “gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”…

– Từ ngữ diễn tả hành động dứt khoát: “thoắt đã động”, “trên đường thẳng dong”, “quyết lời dứt áo ra đi”…

Miêu tả Từ Hải với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng và ngợi ca, Nguyễn Du đã dồn tất cả vẻ đẹp của người anh hùng lí tưởng, giấc mơ của nhân dân vào trong hình tượng này.

Câu 2. Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình qua lời nói với Thúy Kiều như thế nào?

Trả lời:

Lí tưởng anh hùng của Từ Hải được Nguyễn Du khai thác tinh tế qua cảnh tiễn biệt với Thuý Kiểu, đặc biệt qua những lời nói với nàng.

* Khác với cảnh tiễn biệt giữa Kiều với Kim Trọng và Kiều với Thúc Sinh, đây là cảnh tiễn biệt của Kiều với một trượng phu chí lớn. Chí khí, lòng quyết tâm của Từ Hải là không gì lay chuyển. Quan niệm về người anh hùng theo Từ Hải là phải tạo dựng sự nghiệp lớn để thực hiện giấc mơ công lí. Vì thế sau hơn nửa năm gắn bó, khát vọng ấy đã thôi thúc trái tim chàng, chàng ý thức được đã đến lúc phải lên đường. Vì vậy việc ra đi của Từ Hải là công việc tất yếu, quan trọng hàng đầu.

Miêu tả một cách ước lệ, để Từ Hải lên ngựa và “lên đường thẳng dong'” rồi Nguyễn Du mới nói đến lời tiễn biệt của Kiều chính là vì muốn tôn vinh Từ Hải như một nhân vật anh hùng nổi bật.

* Trong lời nói với Kiều, Từ Hải đã bộc lộ lí tưởng, tính cách anh hùng của mình:

– Coi Kiều khác hẳn với những người vợ “nữ nhi thường tình” mà là “Tâm phúc tương tri” của mình (người hiểu biết lòng dạ mình một cách sâu sắc)

– Khẩu khí lời nói của Từ Hải rõ là của bậc trượng phu chí lớn, đàng hoàng, đĩnh đạc, có hào khí. Khẩu khí ấy một phần được tạo nên bởi các hình ảnh phi thường, hào hùng: “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “bốn bể không nhà”.

Lời của Từ Hải nói với Kiều không chỉ là lời của người yêu với người yêu, của người chồng với người vợ mà hơn hết đó là lời của một trang anh hùng với người “tâm phúc tương tri”. Qua lời Từ ta thấy hiên lên tính cách, phẩm chất, chí khí và khát vọng của một trang anh hùng hảo hán.

Câu 3: Nêu nhận xét về đặc điểm của cách miêu tả (hiện thực hay lí tưởng hoá) người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích. Đây có phải là cách miêu tả phổ biến của văn học trung đại không?

Trả lời:

Từ Hải là nhân vật lí tưởng Nguyễn Du đã dựng chân dung Từ Hải với cảm hứng ngợi ca bởi Từ chính là giấc mơ công lí của tác giả. Vì vậy miêu tả theo bút pháp hiện thực sẽ không làm nổi bật được điều đó mà phải miêu tả theo bút pháp ước lệ, lí tưởng hoá.

– Nhà thơ đã khắc hoạ những hình ảnh phóng túng, oai hùng, con người “thanh gươm yên ngựa”, “tưởng như che cả trời đất” (Hoài Thanh). Đoạn thơ khép lại bằng cách mở ra hình ảnh cánh chim bằng lướt gió tung mây “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”.

– Nhà thơ sử dụng hệ thống từ ngữ chỉ bậc “trượng phu”: thoắt, quyết, dứt (áo), lòng bốn phương, thẳng dong, dậy đất, rợp đường, tinh binh, phi thường, bốn bể, dặm khơi…

– Ngôn ngữ đối thoại cùng với những biện pháp miêu tả có tính nhân xưng, ước lệ cũng góp phần làm cho khuynh hướng lí tưởng hoá trong ngòi bút Nguyễn Du thêm phần nổi bật. Hình ảnh Từ Hải được hiện lên với vẻ đẹp của sự phi thường.

Anh hùng, tráng sĩ là mẫu nhân vật lí tưởng truyền thống của văn học trung đại. Hình tượng Từ Hải của Nguyễn Du vừa nằm trong hệ thống thi pháp tả người anh hùng của văn học trung đại đồng thời có những nét riêng biệt, độc đáo, đặc biệt là Nguyễn Du đã khéo léo lồng những phẩm chất rất anh hùng ở Từ Hải vào trong những phẩm chất rất nhiều khiến cho nhân vật anh hùng nhưng không cách biệt với đời thường.

-/-

Đoạn trích là ước mơ công lí của Nguyễn Du gửi gắm qua hình tượng Từ Hải với dáng dấp tráng chí của một bậc đại trượng phu anh hùng cái thế, một tráng sĩ anh hùng tung hoành trong thiên hạ, vừa có chí khí phi thường vừa có tâm hồn khoáng đạt.

Đồng thời đoạn trích còn thể hiện ngòi bút đầy sáng tạo của Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải với bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ gắn bó chặt chẽ với nhau.

Người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật miêu tả.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Soạn Bài Hai Cây Phong Ngắn Gọn Nhất

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Hai cây phong với gợi ý trả lời câu hỏi phần đọc hiểu trang 100 và 101 sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 tập 1 dành cho các em tham khảo.

Hướng dẫn soạn bài Hai cây phong chi tiết

Cùng Đọc tài liệu tìm hiểu nội dung và soạn bài Hai cây phong bằng cách trả lời những câu hỏi đọc hiểu trang 100, 101 SGK Ngữ văn 8 tập 1. 1 – Trang 100 SGK

Căn cứ vào đại từ nhân xưng của người kể chuyện, hãy xác định hai mạch kể phân biệt lồng vào nhau trong Hai cây phong. Nhân vật người kể chuyện có vị trí thế nào với từng mạch kể ấy? Vì sao có thể nói mạch kể của người kể chuyện xưng “tôi” quan trọng hơn?

Trả lời

– Căn cứ vào đại từ nhân xưng người kể chuyện (tôi hoặc chúng tôi) để phân biệt hai mạch kể:

▪ Từ đầu… mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh: mạch kể xưng “tôi”

▪ Từ năm học…sau chân trời xanh biêng biếc: mạch kể xưng “chúng tôi”

▪ Đoạn còn lại: mạch kể trở về xưng “tôi”

– “Tôi” là vai tác giả ủy thác để kể chuyện, dẫn dắt câu chuyện. Mọi sự việc, cảm nhận, quan sát đều bằng nhãn quan của “tôi”

– Dù đoạn kể xuất hiện đại từ nhân xưng “chúng tôi” là lúc “tôi” nhân danh bọn con trai ngày trước, nhưng kí ức thơ ấu hiện lên chân thực, rõ nét.

– Mạch kể của nhân vật “tôi” là chủ yếu, còn mạch kể nhân xưng “chúng tôi” là mạch kể trữ tình.

2 – Trang 100 SGK

Trong mạch kể của người kể chuyện xưng “chúng tôi”, cái gì thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ và làm cho chúng ngây ngất? Tại sao có thể nói người kể chuyện đã miêu tả hai cây phong và quang cảnh nơi đây bằng ngòi bút đậm chất hội họa?

Trả lời

Hình ảnh hai cây phong gắn với kỉ niệm thời thơ ấu của bọn trẻ, xuất hiện trong mạch kể với sự dẫn dắt của “chúng tôi”.

– Có 2 đoạn kể về kỉ niệm của “chúng tôi”:

▪ Đoạn 1: kể về kỉ niệm về trò chơi tinh nghịch của bọn trẻ trước kì nghỉ hè năm cuối

▪ Đoạn 2: mở ra những chân trời mới đẹp đẽ, bao la trước mắt bọn trẻ.

– Điều thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ và làm cho chúng ngây ngất chính là thế giới sinh động, nhiệm màu ở những vùng đất xa lạ chưa biết tới.

– Quang cảnh nơi có hai cây phong được miêu tả bằng ngòi bút đậm chất hội họa:

▪ Hình ảnh hai cây phong: khổng lồ, nghiêng ngả, bóng mát rượi, cao ngang tầm cánh chim, tiếng lá xào xạc dịu hiền, cành cao ngất…

▪ Quang cảnh: đất rộng bao la, dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong sương mờ đục, dòng sông lấp lánh tận chân trời…

➜ Bức tranh thiên nhiên qua lời kể có màu sắc, đường nét, sinh động… thông qua ngòi bút quan sát tài tình, miêu tả có hồn của tác giả.

3 – Trang 101 SGK

Trong mạch kể chuyện của người kể chuyện xưng “tôi”, nguyên nhân nào khiến hai cây phong chiếm vị trí trung tâm và gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện? Tại sao có thể nói trong mạch kể xen lẫn tả này, hai cây phong được miêu tả hết sức sống động, như hai con người và không chỉ thông qua sự quan sát của người họa sĩ.

Trả lời

– Trong mạch kể chuyện xưng “tôi” hình ảnh hai cây phong đóng vai trò là trung tâm, gợi lên nhiều ấn tượng và cảm xúc sâu sắc.

▪ Hình ảnh hai cây phong gắn với chuỗi kỉ niệm học trò “tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy… như mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…”

▪ Đặc biệt hai cây phong là nhân chứng cảm động về tình thần trò giữa cô bé An-tư-nai và thầy Đuy-sen.

– Sự kết hợp tài tình giữa ngòi bút họa sĩ và thi sĩ đã tạo ra nét đẹp, sức cuốn hút diệu kì đối với hình ảnh hai cây phong.

▪ Phác họa hình ảnh hai cây phong: sinh động khác thường, nghiêng ngả thân cây, lay động cành lá…

– Hai cây phong như hai con người, có tiếng nói riêng và tâm hồn riêng.

▪ Trí tưởng tượng phong phú giúp người kể nghe được tiếng nói nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều sắc thái khác nhau của hai cây phong.

▪ Sử dụng biện pháp nhân hóa để làm sống động thế giới của hai cây phong.

➜ Hai cây phong được miêu tả sống động, có hồn gây xúc động và tạo dư vị cho người đọc.

– Căn cứ vào đại từ nhân xưng người kể chuyện (tôi hoặc chúng tôi) xác định hai mạch kể phân biệt lồng vào nhau:

▪ Từ đầu… gương thần xanh: mạch kể xưng “tôi”

▪ Từ năm học… xanh biêng biếc: mạch kể xưng “chúng tôi”

▪ Đoạn còn lại: mạch xưng “tôi”

Trong mạch kể xưng “tôi”, tôi là người kể chuyện nhân danh tác giả, tự giới thiệu là “họa sĩ”. Trong mạch kể xưng là “chúng tôi ” vẫn là người kể chuyện trên nhưng lại nhân danh cả “bọn con trai ngày trước” để kể.

– Trong hai mạch kể, mạch kể của người kể chuyện xưng “tôi” quan trọng hơn trong văn bản này. Vì mọi quan sát, cảm nhận đều dưới cái nhìn của nhân vật “tôi”.

Trong mạch kể của người kể chuyện xưng “chúng tôi”, điều thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ, làm cho chúng ngây ngất là:

– Cây phong trên đồi cao vào năm học cuối cùng, trước kì nghỉ hè, bọn trẻ chạy ào lên phá tổ chim

– “thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng” mở ra trước mắt bọn trẻ khi ngồi trên những cành cây cao của hai cây phong.

Có thể nói, người kể chuyện đã miêu tả quang cảnh và hai cây phong bằng ngòi bút đậm chất hội họa:

– Đường nét:

▪ Đất rộng bao la

▪ Dải thảo nguyên hoang vu: Mất hút trong làn sương

▪ Những dòng sông tận chân trời: Sợi chỉ bạc mỏng manh

▪ Cây phong: khổng lồ, nghiêng ngả, cao ngang tầm cánh chim, cành cao ngất…

– Màu sắc:

▪ Màu trắng của làn sương mờ đục

▪ Màu xanh của thảo nguyên xa thẳm biêng biếc

▪ Màu bạc lấp lánh của những con sông.

→ Quang cảnh và hai cây phong được tác giả miêu tả bằng ngòi bút đậm chất hội họa. Những đường nét phóng khoáng, những màu sắc hài hòa… đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên sinh động, có hồn.

– Trong mạch kể chuyện xưng “tôi” nguyên nhân hai cây phong đóng vai trò là trung tâm, gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện:

▪ Hai cây phong xuất hiện từ khi “tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình”, hai cây phong như ngọn hải đăng của làng, có “tiếng nói riêng”, “tâm hồn riêng”.

▪ Hình ảnh hai cây phong gắn với những “ấn tượng tuổi thơ”, kỉ niệm học trò “tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy… như mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…”

▪ Hai cây phong là nhân chứng cảm động về tình thần trò giữa cô bé An-tư-nai và thầy Đuy-sen.

– Hai cây phong như hai con người, có tiếng nói riêng và tâm hồn riêng, được miêu tả sống động như hai con người, qua sự quan sát của một họa sĩ và cũng là một người con xa quê:

▪ Trí tưởng tượng phong phú giúp người kể nghe được tiếng nói nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều sắc thái khác nhau của hai cây phong.

▪ Sử dụng biện pháp nhân hóa để làm sống động thế giới của hai cây phong.

→ Hai cây phong vì thế không chỉ là biểu tượng của quê hương “tôi” mà còn thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhân vật “tôi”.

Kiến thức cần ghi nhớ

– Ai-ma-tốp (1928 – 2008) là nhà văn Cư-rơ-gư-xtan, một nước Cộng hoà ở vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây.

– Xuất thân trong một gia đình viên chức

– Năm 1961 ông được trao tặng giải thưởng Lê-nin

– Ông viết văn bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Nga.

– Nhiều tác phẩm của ông quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như Cây phong non trùm khăn đỏ, Người thầy đầu tiên, Con tàu trắng,... .

1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

– Hai cây phong là phần đầu của truyện ” Người thầy đầu tiên” rút ra từ tập ” Núi đồi và thảo nguyên”.

– Văn bản là phần đầu của truyện Người thầy đầu tiên, được sáng tác năm 1957

▪ Phần 1 (từ đầu… gương thần xanh) : hai cây phong gắn với văn hóa làng Ku-ku-rêu qua lời kể nhân vật “tôi”.

▪ Phần 2 (phần còn lại): Những thước phim quay chậm về kỉ niệm thời thơ ấu gắn với hai cây phong.

Trong đoạn trích truyện Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp, hai cây phong được miêu tả hết sức sinh động bằng ngòi bút đậm chất hội họa. Người kể chuyện truyền cho chúng ta tình yêu quê hương da diết và lòng xúc động đặc biệt vì đây là hai cây phong gắn với câu chuyện về thầy Đuy-sen, người đã vun trồng ước mơ, hi vọng cho những học trò nhỏ của mình.

– Lựa chọn ngôi kể, người kể tạo nên hai mạch kể lồng ghép độc đáo

– Sự kết hợp giữa miêu tả, biểu cảm với ngòi bút đậm chất hội họa, truyền sự rung cảm đến người đọc

– Nghệ thuật nhân hóa với những liên tưởng tác bạo đầy chất thơ tại nên sức hấp đẫn cho văn bản

Nội dung truyện được đặt vào bối cảnh vùng quê hẻo lánh của Cư-rơ-gư-xtan, vào giữa những năm 20 của thế kỉ trước. Thời đó, trình độ phát triển ở nơi đây còn thấp, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề, phụ nữ bị coi thường, trẻ mồ côi bị rẻ rúng. Cô bé An-tư-nai mồ côi sống trong gia đình chú thím ở làng Ku-ku-rêu, chẳng được học hành, và phải chịu sự giám sát, sai khiến hà khắc của bà thím. Đuy-sen được Đoàn Thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường, đã kịp thời cứu giúp, cho em đến trường học. Bà thím ác nghiệt ép gả bán An-tư-nai làm vợ lẽ cho người ta. Một lần nữa, An-tư-nai được thầy Đuy-sen giải thoát, được lên tỉnh học, rồi đến học tiếp ở Mát-xcơ-va, sau trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Còn thầy Đuy-sen, bây giờ đã già, làm nghề đưa thư. Khi An-tư-nai còn đang học ở trường làng, có hôm Đuy-sen mang về trường hai cây phong non và bảo em: “Hai cây phong này thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt… Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này…”.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia Ngắn Gọn Nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!