Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Lớp 10: Đọc # Top 1 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Lớp 10: Đọc # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Lớp 10: Đọc mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì II

Soạn văn lớp 10 bài: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam

được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn hiểu rõ những tác phẩm văn học thời trung đại Việt Nam để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

Soạn bài lớp 10: Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa

Soạn bài lớp 10: Thực hành viết các đoạn văn chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Văn bản văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Khi đọc – hiểu cần chú ý đối chiếu giữa văn bản phiên âm, bản dịch nghĩa với văn bản dịch thơ văn. Chú ý đọc kĩ những nội dung chú thích về nghĩa hay điển tích, điển cố.

2. Văn học trung đại thiên về biểu hiện tâm, chí mà ít tả thực các hiện tượng đời sống. Khi đọc – hiểu, cần lưu ý đến tính ước lệ, tượng trưng của các hình ảnh; khai thác những hàm ý ẩn chứa.

3. Văn học trung đại thiên về xây dựng những kết cấu ngôn từ cân đối, hài hoà. Cần khai thác đặc điểm độc đáo về biểu hiện này khi đọc – hiểu văn bản.

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Luyện đọc – hiểu văn tự, điển cố, từ cổ

a) So sánh bản dịch nghĩa và bản dịch thơ bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão; từ đó cho biết việc so sánh có tác dụng như thế nào?

Gợi ý:

Câu 1 (Cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước vừa chẵn mấy thu / Múa giáo non sông trải mấy thu): Hai chữ “Múa giáo” không hay bằng “cầm ngang ngọn giáo”, làm mất đi cái hiên ngang, vững chãi, lẫm liệt.

Câu 2 (Ba quân dũng mãnh như hổ báo khí thế nuốt trâu / Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu): Bản dịch thơ lược bỏ mất “tì hổ” (hổ báo).

Câu 3 (Nam nhi mà chưa trả được nợ công danh / Công danh nam tử còn vương nợ): Câu này dịch khá sát.

Câu 4 (Xấu hổ khi nghe người ta nói chuyện Vũ hầu / Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu): Câu này dịch khá sát.

à Nhờ đối chiếu, ta hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn vẻ đẹp của bài thơ.

b) Câu thơ “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” (Nguyễn Trãi – Cảnh ngày hè) – hiểu “tiễn” là “ngát”; có bản phiên âm là “Hồng liên trì đã tịn mùi hương” – hiểu “tịn” là “hết”. Theo anh (chị), hiểu theo nghĩa nào thích hợp hơn?

Gợi ý: Theo SGK Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một thì “Tiễn: từ Hán Việt có nghĩa đầy, có thừa, trong câu này có thể hiểu là ngát hoặc nức. Hai câu: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ – Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”, ý nói trong khi thạch lựu ở hiên còn đang tiếp tục phun màu đỏ, thì sen hồng trong ao đã ngát mùi hương.” (Sđd, Tr. 160).

c) Giải thích ý nghĩa và biểu tượng (được in đậm) trong các câu sau:

(Đại cáo bình Ngô)

Gợi ý:

Nhân nghĩa: nhân là yêu thương, trọng người; nghĩa là theo lẽ phải. Yên dân: làm cho dân yên.

Điếu phạt: điếu là thương xót, phạt là trừng phạt kẻ có tội; hai chữ điếu phạt là rút gọn từ điếu dân phạt tội: thương dân, đánh kẻ có tội.

Đại nghĩa: nghĩa lớn, nghĩa cao cả.

Chí nhân: vô cùng nhân (nghĩa); lòng nhân (nghĩa) ở mức cao nhất.

Trúc chẻ tro bay: khí thế chiến thắng mạnh mẽ, không sức nào cản nổi, như chẻ tre, như gió cuốn tro bay.

Sấm vang chớp giật: sức mạnh chiến thắng mãnh liệt.

Dựng cần trúc ngọn cờ phất phới: lấy ở sách cổ, ý nói vì quá gấp gáp chưa kịp may cờ, phải lấy cành trúc làm cờ để tập hợp lực lượng.

Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào: lấy ý từ một truyện cổ, kể chuyện Tấn – Sở đánh nhau, có người dâng vua sở vò rượu ngon, vua Sở cho hoà vò rượu vào nước sông để đủ cho vua tôi cùng uống. Quân sĩ cảm động, đồng lòng đánh bại nước Tấn. ở đây ý nói người chỉ huy và quân lính cùng nhau chia ngọt sẻ bùi.

d) Giải thích điển tích văn học và từ cổ trong các câu sau:

(Nhàn)

(Cảnh ngày hè)

Gợi ý:

Phú quý tựa chiêm bao: có thể hiểu theo tích xưa, một người nằm ngủ dưới gốc cây hoè chiêm bao thấy mình được làm quan, giàu có, tỉnh dậy thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây hoè, mới biết đó chỉ là chiêm bao.

Ngu cầm: đàn của vua Ngu Thuấn. Ngu là tên một triều đại huyền thoại do vua Thuấn lập nên, đất nước thanh bình, nhân dân no đủ. Tương truyền vua Nghiêu có ban cho vua Thuấn một cây đàn. Những lúc rỗi rãi, vua Thuấn thường gẩy đàn ca khúc Nam phong:

2. Luyện đọc – hiểu tâm sự, chí hướng, tư tưởng trong văn bản văn học trung đại

a) Giải thích ý nghĩa các câu sau:

(Phú sông Bạch Đằng)

Gợi ý:

Đến bên sông chừ hổ mặt – Nhớ người xưa chừ lệ chan: nghĩ tới thời oanh liệt của các vua Trần xưa, thấy xấu hổ và xót xa cho hiện trạng của đất nước đương thời.

Giặc tan muôn thủa thăng bình – Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao: Nhấn mạnh vai trò của người lãnh đạo đất nước.

b) Phân tích tâm sự của Nguyễn Du trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”.

Gợi ý:

Xem lại nội dung đọc – hiểu bài Đọc “Tiểu Thanh kí”

Mối đồng cảm, thương xót và tự nghiệm thấm thía mà Nguyễn Du gửi gắm trong Đọc Tiểu Thanh kí có cơ sở từ sự thực cuộc đời, thân phận ông. Nguyễn Du xuất thân trong gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Từng thi đỗ tam trường và làm quan. Năm 1789 nhà Lê suy sụp, gia cảnh tan tác, Nguyễn Du phải lánh về quê vợ. Sau đó ra làm quan dưới triều Nguyễn. Có thể nói Nguyễn Du đã sống và chứng kiến một thời đại biến động dữ dội nhất của lịch sử Việt Nam, ông cũng được chứng kiến những đổi thay, bạc bẽo của cuộc đời và thân phận con người. Là một văn nhân, tuy làm quan nhưng vốn sẵn mối thương đời, thương người, cuộc đời đã lại trải qua nhiều sóng gió, sự đồng cảm giữa Nguyễn Du và Tiểu Thanh là hết sức tự nhiên, cũng giống như mối đồng cảm, đau đớn cho thân phận Thuý Kiều trong Truyện Kiều vậy.

Tác giả nói về Tiểu Thanh, nói về mình và cũng là nói về số phận của những kẻ tài hoa mệnh bạc nói chung. Từ sự thương xót cho Tiểu Thanh tài hoa mệnh bạc, tác giả đi đến khái quát về nhân sinh: Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được”. Câu thơ chất chứa nỗi tuyệt vọng trước những nghịch lí, trớ trêu của tạo hoá, cho thấy cảm thức đầy bi kịch của tri kỉ tài hoa. Tác giả tự vận những điều đã thương cảm cùng Tiểu Thanh vào chính mình ở câu 6: “Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”. Từ xót người đến xót đời và xót mình, câu thơ thể hiện nỗi đau chung từ trải nghiệm, “lời chung” cho kẻ bạc mệnh được phát hiện cũng còn từ chính riêng phận của thi nhân. Đến hai câu cuối bài, Nguyễn Du trực tiếp nói lên tâm sự của riêng mình, tiên cảm và dự cảm, tự vấn về mình. Câu hỏi vừa mang vẻ băn khoăn, trăn trở, nghi hoặc lại vừa như tiếng lòng thi nhân tha thiết mong đợi tri kỉ, tri ngộ. Hai câu này, thực ra là sự tiếp tục, cụ thể hoá của “ngã tự cư” ở câu 6. Câu hỏi không còn chỉ là đặt ra cho Tiểu Thanh hay Nguyễn Du mà đã trở thành niềm day dứt phổ quát, đặt ra cho bao đời, bao người kim cổ trước nghịch lí tài hoa mệnh bạc.

c) Chỉ ra tư tưởng, tình cảm của tác giả Nguyễn Dữ trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.

Gợi ý:

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên thể hiện nổi bật gương người cương trực, can đảm, mạnh mẽ đấu tranh chống lại gian tà, loại trừ cái ác, đòi công lí, công bằng. Truyện thể hiện thái độ phê phán đối với cái ác, cái xấu đồng thời cho thấy tinh thần can đảm đứng về phía chính nghĩa, bênh vực lẽ phải.

Ý nghĩa giáo dục của truyện được thể hiện ở đoạn bình cuối truyện. Lời bình đã nói lên lời răn về nhân cách của kẻ sĩ, con người chân chính không nên uốn mình, phải sống cương trực, ngay thẳng. Sự cứng cỏi, lòng can đảm trước những cái xấu, cái ác là thái độ ứng xử tích cực cần được coi trọng.

Ý nghĩa về sự ca ngợi, tôn vinh người cương trực, quyết đoán, dám đương đầu với cái ác, cái xấu được thể hiện ở phần kết câu chuyện, khi Tử Văn chết lại được sống lại và trở thành đức Thánh ở đền Tản Viên.

3. Luyện đọc – hiểu giá trị nghệ thuật ngôn từ

(Cảnh ngày hè)

Gợi ý:

Đối về bằng – trắc:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, B – T – B – B – B – T – TNgười khôn người đến chốn lao xao. B – B – B – T – T – B – B

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, B – B – B – T – B – B – TXuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. B – T – B – B – T – T – B

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, B – B – B – T – T – B – BHồng liên trì đã tiễn mùi hương. T – T – B – B – B – T – T

Lao xao chợ cá làng ngư phủ, B – B – T – T – B – B – TDắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. T – T – B – B – B – T – B

Đối ý:

dại / khôn; ăn / tắm

thạch lựu đỏ hoa / sen hồng ngát hương; âm thanh chợ cá làng chài / tiếng ve lầu chiều

Đối từ loại:

tính từ / tính từ (dại / khôn); động từ / động từ (ăn / tắm),…

danh từ / danh từ (lựu / liên); động từ / động từ (phun / tiễn),…

Sự đối lập giữa “ta dại” và “người khôn” trong câu 3 – 4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quý. Theo đó, cái dại của “ta” là cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thuận lẽ tự nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” mà chọn “đến chốn lao xao”, nghĩa là nơi ồn ã, ở đó con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy. “khôn” – “dại”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” là những quan niệm sống, cách lựa chọn rất khác nhau.

Bức tranh ngày hè được miêu tả trong những cặp câu cân đối, hài hoà; cũng là sự cân đối, hài hoà của màu sắc, âm thanh. Vẻ đẹp của cảnh đầy sức sống cũng hé mở cho thấy cái nhìn thấm đẫm tình yêu cuộc sống của nhà thơ.

b) Phân tích tính chất hàm súc của hình ảnh trong các câu thơ:

(Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)

(Nỗi lòng)

Gợi ý:

Hai câu thơ tựa như một bức tranh với bút pháp miêu tả tài hoa, nhưng cảnh ấy là để ngụ tình, tả trạng thái tình cảm của người đưa tiễn. Cái nhìn đầy nhớ nhung, quyến luyến toát lên từ những hình ảnh bóng cánh buồm lẻ loi xa xa, từ sự vận động “mất hút” trong khoảng không gian xanh biếc mênh mang, chữ “Duy kiến” được nhấn mạnh gợi tả cái đang mất đi, hút xa dần, tuột khỏi mình, cho thấy trạng thái cô đơn, trơ vơ còn lại đang rợn ngợp tâm tưởng người đưa tiễn. Bút pháp gợi tả tinh tế còn cho thấy sự vận động chuyển dịch ngày càng xa và sự dõi theo quá trình chuyển dịch ấy. Không nói gì về tình mà tình đã lan toả, vời vợi trong hình ảnh thơ. Đến khi dòng sông choán ngợp cái nhìn (dòng sông ngang trời) thì cảm xúc luyến tiếc, nhớ nhung cùng trạng thái đơn côi, chia lìa đã được đẩy đến đỉnh điểm.

Tác giả đã thể hiện chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu. Hình ảnh vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng, nung nấu mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Vẫn không ra ngoài cảm giác bi kịch, trong khi mối thù nước chưa trả đang thôi thúc thì tuổi đã cao, sức lực không còn sung mãn, tâm ấy với lực ấy trong một con người sinh ra bi kịch, nhưng cũng tâm ấy lực ấy mà toát lên vẻ đẹp của chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng, vẻ sáng láng của kẻ lỡ vận, âm thầm mà tâm tráng.

Soạn Bài Lớp 10: Luyện Tập Đọc

Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì II

do VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

Soạn bài lớp 10: Chuyện chức phán sự ở đền Tản ViênSoạn bài lớp 10: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Công danh nam tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

(Tỏ lòng)

Gợi ý:

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,Voi uống nước, nước sông phải cạn.Đánh một trận sạch không kình ngạc,2. Luyện tập đọc – hiểu mạch ý của đoạn văn Đánh hai trận tan tác chim muông.“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” Nổi gió to trút sạch lá khô,Thông tổ kiến phá toang đê vỡ.

Hai câu thơ này thể hiện chí khí của vị tướng muốn noi gương Vũ Hầu. Không thể hiểu đây là nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão khi nghe chuyện Vũ Hầu; bởi vì không có liên hệ nào để hiểu Phạm Ngũ Lão có điều gì đó phải hổ thẹn khi “nghe chuyện Vũ Hầu”. Không thể hiểu hai câu thơ này hàm chứa giả thiết rằng nếu chưa xong nợ công danh thì sẽ thẹn với Vũ Hầu; bởi vì từ ý nghĩa của từ, câu, đoạn,… không thể hiện một giả thiết nào.

b) Ý nghĩa của đoạn trích sau là gì?

(Đại cáo bình Ngô)

Gợi ý:

Đoạn trích thể hiện uy lực phi thường của nghĩa quân Lam Sơn. Các ý quân đông, voi nhiều, đánh nhanh, đánh mạnh hay sự sụp đổ không thể cứu vãn được của quân Minh là những biểu hiện, chứng tỏ uy lực ấy.

c) Hiểu thế nào là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của thơ văn?

Gợi ý: Từ việc tìm hiểu nghĩa của ví dụ trên, có thể thấy ý chính của thơ văn nhiều khi không chỉ thể hiện ở bề mặt con chữ, từ ngữ mà còn là nghĩa ở ngoài lời, ở khoảng trống giữa các từ, các câu.

a) Chỉ ra các ý và liên hệ giữa các ý trong đoạn văn sau:

(Hiền tài là nguyên khí của quốc gia)

3. Luyện tập cảm nhận hình tượng văn học

Gợi ý:

Đoạn văn này gồm hai ý, trong hai câu nối tiếp nhau, liên hệ với nhau. Ý thứ nhất được thể hiện trong câu đầu: hiền tài là nguyên khí quốc gia. Trong câu tiếp theo, ý thứ hai là hệ quả của ý được khẳng định trong câu trước: Nhận thức được tầm quan trọng của hiền tài với thịnh suy của đất nước, nên các thánh đế minh vương đều phải ra sức vun trồng hiền tài.

b) Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương) có những đoạn văn nào? Ý chính của từng đoạn là gì? Các ý đó liên hệ với nhau như thế nào?

Gợi ý:

Bài văn này có hai phần: phần một nêu các lí do khiến cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời; phần hai nêu động cơ và quá trình biên soạn sách.

Phần một gồm các đoạn:

4. Luyện tập khái quát tư tưởng, quan điểm của tác phẩm và đoạn trích

Chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca.

Người có học thì ít quan tâm đến thơ ca.

Người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì.

Chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế.

Thời gian, binh lửa làm hư nát, tiêu huỷ sách vở.

Liên hệ giữa các đoạn văn thể hiện liên hệ giữa các lí do: từ những lí do chủ quan đến những lí do khách quan.

Phần hai gồm hai đoạn:

Những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả và trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc.

Quan điểm và cách thức biên soạn.

Quan hệ giữa hai phần trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” là mối quan hệ giữa thực trạng và giải pháp.

5. Quá trình đọc – hiểu văn bản văn học có những bước nào? Ở mỗi bước ấy, phải đảm bảo những yêu cầu gì?

c) Hai bài Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ đều nêu ngày tháng nhân vật mất trước, rồi sau đó kể lại một số sự kiện lúc họ sống. Đây là cách bố cục theo bút pháp “cái quan định luận”.

a) Trong truyện Chử Đồng Tử có những tình tiết nào hay và độc đáo?

Gợi ý:

Có thể kể ra các tình tiết như: hai cha con chỉ có một cái khố (tình cảnh khốn cùng); cuộc kì ngộ của Đồng Tử và Tiên Dung; Tiên Dung quyết định kết duyên và ở lại sống cùng Chử Đồng Tử; Đồng Tử được Phật Quang cho một cây gậy và chiếc nón có phép lạ, nhờ đó họ có được một cung điện lộng lẫy, với cả binh lính,…

b) Dựa vào những tình tiết tiêu biểu, hãy mô tả lại hình tượng người ở ẩn trong bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Gợi ý:

Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật. Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng.

6. Tưởng tượng, liên tưởng có tác dụng như thế nào đối với việc đọc – hiểu văn bản văn học?

a) Phát biểu khái quát tư tưởng bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương.

Gợi ý: Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập”, tấm lòng yêu nước của tác giả được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc.

b) Động cơ nào khiến tác giả không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập?

Gợi ý:

Hiểu rõ bốn nguyên nhân làm cho sách vở nước ta thất truyền, xót xa trước nguy cơ sáng tác thi ca bị mai một, tác giả Hoàng Đức Lương đã không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập.

Gợi ý:

Đọc – hiểu ngôn từ:

Đọc thông suốt toàn văn bản, hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, phép tu từ,…

Hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác,…

Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật:

Tưởng tượng, “cụ thể hoá” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát;

Phát hiện các mâu thuẫn tiềm ẩn trong hình tượng và tìm hiểu lô gích bên trong của chúng.

Đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản: Đọc cho ra cái linh hồn của nhà văn ẩn chứa trong văn bản – cái thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời,…

Đọc – hiểu và thưởng thức văn học: Người đọc tự phát hiện, tự khẳng định về thế giới nghệ thuật của tác phẩm; vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của tác giả vừa giữ lại ấn tượng sâu đậm của mình đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm.

Gợi ý: Trong sáng tạo văn bản nghệ thuật, tác giả sử dụng liên tưởng, tưởng tượng để tạo ra hình tượng hàm chứa những nội dung ý nghĩa sâu sắc thông qua so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… Đến lượt người đọc, nhờ liên tưởng, tưởng tượng mà tái tạo, thâm nhập, cắt nghĩa, lí giải,… nghĩa là làm sống lại thế giới hình tượng đã được nhà văn mã hoá và thưởng thức nó bằng chính vốn sống, sở trường của mình.

Soạn Văn Lớp 10, Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10, Giáo Án, Văn Mẫu Lớp 10 Hay

Soạn văn lớp 10 hay là tài liệu với tổng hợp những bài soạn ngữ văn lớp 10 tập 1 và tập 2 đầy đủ và chi tiết nhất. Các bạn học sinh có thể dựa vào tài liệu soạn văn 10 này và soạn bài cũng như nắm bắt được những kiến thức cốt lõi của tiết học để chuẩn bị sẵn sàng cho bài giảng trên lớp. Những bài soạn văn 10 được sắp xếp theo đúng với trình tự giảng dạy cũng như chương trình sách giáo khoa, chính vì thế ngữ văn 10 bài 1 đến bài 4 và những bài khác đều được trình bày soạn theo sgk giúp các em dễ dàng tìm hiểu và học tập nhất.

Mẫu soạn văn lớp 10, các bài văn mẫu lớp 10 hay nhất

Trong soạn văn lớp 10 hay bao gồm từ những bài soạn văn bản chi tiết như soạn văn 10 bài chiến thắng Mtao Mxây, soạn văn 10 tấm cám, soạn văn 10 bài khái quát văn học dân gian vn, những bài khái quát văn học dân gian vn, soạn văn 10 bài tổng quan văn học Việt Nam cùng với những bài soạn văn nâng cao tập 1 dành cho các em học sinh lớp 10 đều được trình bày và soạn cụ thể nhất. Dựa vào những bài soạn ngữ văn 10 này các bạn hoàn toàn có thể trang bị cho mình những kiến thức cũng như củng cố và rèn luyện kỹ năng làm văn của mình qua hướng dẫn dễ dàng và hiệu quả hơn.

Tài liệu soạn văn lớp 10 hay bao gồm cả kiến thức cho chương trình cơ bản và nâng cao chính vì thế để học tốt ngữ văn 10 các bạn học sinh cần tìm hiểu và nắm rõ chương trình học của mình, chuẩn bị bài kỹ lưỡng tại nhà bằng tài liệu văn mẫu lớp 10. Cùng với việc soạn bài ngữ văn lớp 10 thì các bạn cũng nên tìm hiểu chi tiết những hướng dẫn và cách viết văn cụ thể cho từng thể loại để tiến hành làm văn nhanh chóng và đúng chuẩn. Bên cạnh đó các tài liệu giải bài tập văn lớp 10 cũng có rất nhiều bạn hãy lựa chọn và ứng dụng cho nhu càu học tập của mình đạt kết quả cao hơn.

Soạn văn lớp 10 hay không chỉ là tài liệu hữu ích dành cho các em học sinh, với tài liệu này các thầy cô giáo cũng có thể sử dụng cho nhu cầu giảng dạy của mình như làm giáo án, tài liệu hướng dẫn hỗ trợ học tốt ngữ văn 10 nâng cao tập 1 và tập 2. Thông qua những tài liệu này các thầy cô cũng đưa ra phương pháp giảng dạy phù hợp với các em học sinh, qua đó đem lại cho các em những kiến thức để học môn ngữ văn tốt nhất.

Soạn Bài Văn Bản Lớp 10

1. Khái niệm văn bản

Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức.

– Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời, cả văn bản còn phải đư­ợc xây dung theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng.

– Mỗi văn bản th­ường hư­ớng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định.

– Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thư­ờng mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản.

3. Các loại văn bản thường gặp

Dựa theo lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau:

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tuỳ bút,…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (sách giáo khoa, tài liệu học tập, bài báo khoa học, luận văn, luận án, công trình khoa học,…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ (đơn, giấy khai sinh, giấy uỷ quyền,…). Các loại văn bản này thường có mẫu biểu quy định sẵn về hình thức.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau ; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi.

2. Văn bản (1) đề cập đến một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè), văn bản (2) nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập tới một vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người đứng lên chống Pháp). Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghĩa rất rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

3. Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa liên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ (“thân em”). Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn được nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần : Mở bài, thân bài và kết bài.

– Mở bài: Gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

– Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

– Kết bài: Phần còn lại.

4. Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đợi vào sự rủi may) ; mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

5. Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “lời kêu gọi”. Thế nên, nó có dấu hiệu hình thức riêng. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi ( Hỡi đồng bào toàn quốc!) để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp.

Phần kết thúc là hai khẩu hiệu (cũng là hai lời hiệu triệu) để khích lệ ý chí và lòng yêu nước của “quốc dân đồng bào”.

6

– Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị.

– Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều các từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hàng ngày ( mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị ( kháng chiến, hòa bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc…).

– Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung.

7. a) Phạm vi sử dụng của các loại văn bản:

– Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị.

– Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học.

– Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính.

b) Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản

c) Về từ ngữ

– Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội.

– Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học.

– Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính.

d) Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản:

– Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát.

– Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng mạch lạc.

– Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục…

– Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung.

chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Lớp 10: Đọc trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!