Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài Lớp 7: Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình # Top 7 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài Lớp 7: Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Lớp 7: Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài lớp 7: Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 7 học kì I

Soạn bài: Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình

CA DAO, DÂN CAI. VỀ THỂ LOẠI NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH 3. Bên cạnh những đặc điểm chung với thơ trữ tình (có vần, nhịp, sử dụng nhiều biện pháp tu từ,…), ca dao, dân ca có những đặc thù riêng:

1. Ca dao, dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay còn phân biệt ca dao và dân ca: Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, ca dao là lời thơ của dân ca, ngoài ra còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca.

2. Ca dao, dân ca thuộc loại trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm, thế giới tâm hồn của con người (trữ: phát ra, bày tỏ, thể hiện; tình: tình cảm, cảm xúc). Nhân vật trữ tình phổ biến trong ca dao, dân ca là những người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong quan hệ gia đình, những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu, người nông dân, người phụ nữ,… trong quan hệ xã hội. Cũng có những bài ca dao châm biếm phê phán những thói hư tật xấu của những hạng người và những sự việc đáng cười trong xã hội. Ca dao châm biếm thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Ca dao, dân ca thường rất ngắn, đa số là những bài gồm hai hoặc bốn dòng thơ.

Sử dụng thủ pháp lặp (lặp kết cấu, lặp dòng thơ mở đầu, lặp hình ảnh, lặp ngôn ngữ,…) như là một thủ pháp chủ yếu để tổ chức hình tượng.

4. Ca dao, dân ca là mẫu mực về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm và khả năng lưu truyền. Ngôn ngữ ca dao, dân ca là ngôn ngữ thơ nhưng vẫn rất gần với lời nói hằng ngày của nhân dân và mang màu sắc địa phương rất rõ.

1. Căn cứ vào nội dung câu hát có thể thấy: bài ca dao thứ nhất là lời của người mẹ hát ru con, bài thứ hai là lời của người con gái lấy chồng xa quê nói với mẹ, bài thứ ba là lời của con cháu đối với ông bà, bài thứ tư là lời của cha mẹ dặn dò con cái hoặc lời anh em tâm sự với nhau.

2. Bài 1, tác giả ví công cha, nghĩa mẹ như núi ngất trời, như nước ở ngoài biển Đông là lấy cái mênh mông, vĩnh hằng, vô hạn của trời đất, thiên nhiên để so sánh, làm nổi bật ý nghĩa: công ơn cha mẹ vô cùng to lớn, không thể nào cân đong đo đếm hết được. Ví công cha với núi ngất trời là khẳng định sự lớn lao, ví nghĩa mẹ như nước biển Đông là để khẳng định chiều sâu, chiều rộng. Đây cũng là một nét tâm thức của người Việt. Hình ảnh mẹ không lớn lao, kì vĩ như hình ảnh cha nhưng sâu xa hơn, rộng mở và gần gũi hơn. Đối công cha với nghĩa mẹ, núi với biển là cách diễn đạt quen thuộc, đồng thời cũng làm cho các hình ảnh được tôn cao thêm, trở nên sâu sắc và lớn lao hơn.

3. Ngày xưa, do quan niệm “trọng nam khinh nữ”, coi “con gái là con người ta” nên những người con gái bị ép gả hoặc phải lấy chồng xa nhà đều phải chịu nhiều nỗi khổ tâm. Nỗi khổ lớn nhất là xa nhà, thương cha thương mẹ mà không được về thăm, không thể chăm sóc, đỡ đần lúc cha mẹ đau ốm, bệnh tật.

4. Bài 3 diễn tả nỗi nhớ và sự yêu kính đối với ông bà. Để diễn đạt những tình cảm ấy, tác giả dân gian đã dùng biện pháp tu từ so sánh: nỗi nhớ được so sánh như nuộc lạt buộc trên mái nhà (rất nhiều).

Nỗi nhớ mẹ của người con gái trong bài ca dao này rất da diết. Điều đó được thể hiện qua nhiều từ ngữ, hình ảnh:

Chiều chiều: không phải một lần, một lúc mà chiều nào cũng vậy.

Đứng ngõ sau: ngõ sau là ngõ vắng, đi với chiều chiều càng gợi lên không gian vắng lặng, heo hút. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình nơi ngõ sau càng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa.

Ruột đau chín chiều: chín chiều là “chín bề”, là “nhiều bề”. Dù là nỗi đau nào thì cái không gian ấy cũng làm cho nó càng thêm tê tái. Cách sử dụng từ ngữ đối xứng (chiều chiều – chín chiều) cũng góp phần làm cho tình cảnh và tâm trạng của người con gái càng nặng nề, đau xót hơn.

Cái hay của cách diễn đạt này nằm ở cách dùng từ “ngó lên” (chỉ sự thành kính) và ở hình ảnh so sánh: nỗi nhớ – nuộc lạt trên mái nhà. Hình ảnh “nuộc lạt” vừa gợi ra cái nhiều về số lượng (dùng cái vô hạn để chỉ nỗi nhớ và sự yêu kính ông cha) vừa gợi ra sự nối kết bền chặt (tình cảm máu mủ ruột rà, tình cảm huyết thống của con cháu với ông cha).

6. Những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong cả bốn bài ca dao:

5. Bài 4 là những câu hát về tình cảm anh em. Anh em là hai nhưng cũng là một, vì: “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” (cùng một cha mẹ sinh ra, cùng chung sống, cùng chung buồn vui, sướng khổ). Quan hệ anh em còn được ví với hình ảnh chân – tay (những bộ phận gắn bó khăng khít trên một cơ thể thống nhất). Hình ảnh đó nói lên tình nghĩa và sự gắn bó thiêng liêng của anh em.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc

Bài ca dao là lời nhắc nhở chúng ta: anh em phải hoà thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng.

Thể thơ lục bát.

Cách ví von, so sánh.

Những hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày.

Đặc biệt, ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

3. Có thể kể thêm một số câu ca dao sau: Công cha như núi Thái SơnChiều chiều ra đứng ngõ sauChiều chiều ra đứng bờ sôngMuốn về quê mẹ mà không có đò. Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Các bài ca dao đều được viết theo thể lục bát, nhịp 2/2 hoặc 4/4, do đó cần đọc trầm và nhấn giọng, thể hiện mối quan hệ tình cảm chân thành, thắm thiết.

Soạn Bài : Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình

CA DAO, DÂN CA NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH

I. VỀ THỂ LOẠI1. Ca dao, dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay còn phân biệt ca dao và dân ca: Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, ca dao là lời thơ của dân ca, ngoài ra còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca.2. Ca dao, dân ca thuộc loại trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm, thế giới tâm hồn của con người (trữ: phát ra, bày tỏ, thể hiện ; tình: tình cảm, cảm xúc). Nhân vật trữ tình phổ biến trong ca dao, dân ca là những người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong quan hệ gia đình, những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu, người nông dân, người phụ nữ,… trong quan hệ xã hội. Cũng có những bài ca dao châm biếm phê phán những thói hư tật xấu của những hạng người và những sự việc đáng cười trong xã hội. Ca dao châm biếm thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam.3. Bên cạnh những đặc điểm chung với thơ trữ tình (có vần, nhịp, sử dụng nhiều biện pháp tu từ,…), ca dao, dân ca có những đặc thù riêng: + Ca dao, dân ca thường rất ngắn, đa số là những bài gồm hai hoặc bốn dòng thơ. + Sử dụng thủ pháp lặp (lặp kết cấu, lặp dòng thơ mở đầu, lặp hình ảnh, lặp ngôn ngữ,…) như là một thủ pháp chủ yếu để tổ chức hình tượng.4. Ca dao, dân ca là mẫu mực về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm và khả năng lưu truyền. Ngôn ngữ ca dao, dân ca là ngôn ngữ thơ nhưng vẫn rất gần với lời nói hằng ngày của nhân dân và mang màu sắc địa phương rất rõ.

Chữ màu xanh là soạn bài rút gọn!

Căn cứ vào nội dung câu hát có thể thấy: bài ca dao thứ nhất là lời của người mẹ hát ru con, bài thứ hai là lời của người con gái lấy chồng xa quê nói với mẹ, bài thứ ba là lời của con cháu đối với ông bà, bài thứ tư là lời của cha mẹ dặn dò con cái hoặc lời anh em tâm sự với nhau.Câu 2.

Phân tích Bài 1: – Tình cảm muốn diễn tả: Tình cảm cha mẹ với con cái, nhắn nhủ con phải ghi nhớ công lao trời biển của cha mẹ. – Cái hay: Phép so sánh (công cha – núi ngất trời; nghĩa mẹ – nước biển Đông), đối xứng (cha-mẹ; núi-biển), thể lục bát dân gian, âm điệu sâu lắng đi vào lòng người. – Một số câu ca dao tương tự: + “Lên non mới biết non cao Nuôi on mới biết công lao mẫu tử” + “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” + “Nuôi con mẹ héo vóc hình Cạn bầu sữa ngọt mà tình không vơi”

Bài 1, tác giả ví công cha, nghĩa mẹ như núi ngất trời, như nước ở ngoài biển Đông là lấy cái mênh mông, vĩnh hằng, vô hạn của trời đất, thiên nhiên để so sánh, làm nổi bật ý nghĩa: công ơn cha mẹ vô cùng to lớn, không thể nào cân đong đo đếm hết được. Ví công cha với núi ngất trời là khẳng định sự lớn lao, ví nghĩa mẹ như nước biển Đông là để khẳng định chiều sâu, chiều rộng. Đây cũng là một nét tâm thức của người Việt. Hình ảnh mẹ không lớn lao, kì vĩ như hình ảnh cha nhưng sâu xa hơn, rộng mở và gần gũi hơn. Đối công cha với nghĩa mẹ, núi với biển là cách diễn đạt quen thuộc, đồng thời cũng làm cho các hình ảnh được tôn cao thêm, trở nên sâu sắc và lớn lao hơn.Câu 3.

Phân tích Bài 2 – Tâm trạng người phụ nữ lấy chồng xa quê: – Thời gian: “chiều chiều” – từ láy gợi buồn và thời gian tuần hoàn, lặp lại. – Không gian: “ngõ sau ” – vắng lặng, không gian rộng, gợi sự cô đơn. – Hành động: “đứng ” – sự hướng vọng, không yên lòng. – Nỗi niềm: “ruột đau chín chiều ” – “chín bề”, nhiều bề: Nỗi cô đơn làm dâu xứ lạ, nhớ thương cha mẹ, tê tái, đau buồn không giúp đỡ được cha mẹ.

Ngày xưa, do quan niệm “trọng nam khinh nữ”, coi “con gái là con người ta” nên những người con gái bị ép gả hoặc phải lấy chồng xa nhà đều phải chịu nhiều nỗi khổ tâm. Nỗi khổ lớn nhất là xa nhà, thương cha thương mẹ mà không được về thăm, không thể chăm sóc, đỡ đần lúc cha mẹ đau ốm, bệnh tật. Nỗi nhớ mẹ của người con gái trong bài ca dao này rất da diết. Điều đó được thể hiện qua nhiều từ ngữ, hình ảnh: – Chiều chiều: không phải một lần, một lúc mà chiều nào cũng vậy. – Đứng ngõ sau: ngõ sau là ngõ vắng, đi với chiều chiều càng gợi lên không gian vắng lặng, heo hút. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình nơi ngõ sau càng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa. – ruột đau chín chiều: chín chiều là “chín bề”, là “nhiều bề”. Dù là nỗi đau nào thì cái không gian ấy cũng làm cho nó càng thêm tê tái. Cách sử dụng từ ngữ đối xứng (chiều chiều – chín chiều) cũng góp phần làm cho tình cảnh và tâm trạng của người con gái càng nặng nề, đau xót hơn.Câu 4.

Phân tích Bài 3 – nỗi nhớ và sự yêu kính với ông bà: – “Ngó lên “: Thể hiện sự tôn kính. – Hình ảnh “nuộc lạt “: Có hai ý nghĩa là “rất nhiều” và “tình cảm gắn bó”. – Cặp từ so sánh “Bao nhiêu … bấy nhiêu “: Nỗi nhớ trùng điệp nhiều vô kể.

Bài 3 diễn tả nỗi nhớ và sự yêu kính đối với ông bà. Để diễn đạt những tình cảm ấy, tác giả dân gian đã dùng biện pháp tu từ so sánh: nỗi nhớ được so sánh như nuộc lạt buộc trên mái nhà (rất nhiều). Cái hay của cách diễn đạt này nằm ở cách dùng từ “ngó lên” (chỉ sự thành kính) và ở hình ảnh so sánh: nỗi nhớ – nuộc lạt trên mái nhà. Hình ảnh “nuộc lạt” vừa gợi ra cái nhiều về số lượng (dùng cái vô hạn để chỉ nỗi nhớ và sự yêu kính ông cha) vừa gợi ra sự nối kết bền chặt (tình cảm máu mủ ruột rà, tình cảm huyết thống của con cháu với ông cha).Câu 5.

Chữ màu xanh là soạn bài rút gọn!

Phân tích Bài 4 – tình cảm anh em thân thương: – Điệp từ “cùng chung – cùng thân “: Tình thiêng liêng, quan trọng. – So sánh: Ví anh-em với tay-chân, những bộ phận gắn bó khăng khít trên một thể thống nhất, nói lên sự gắn bó anh em. → Nhắc nhở: Anh em phải hòa thuận, đoàn kết, thương yêu nhau để cha mẹ vui lòng cũng là lẽ sống đúng đắn.

Bài 4 là những câu hát về tình cảm anh em. Anh em là hai nhưng cũng là một, vì: “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” (cùng một cha mẹ sinh ra, cùng chung sống, cùng chung buồn vui, sướng khổ). Quan hệ anh em còn được ví với hình ảnh chân – tay (những bộ phận gắn bó khăng khít trên một cơ thể thống nhất). Hình ảnh đó nói lên tình nghĩa và sự gắn bó thiêng liêng của anh em. Bài ca dao là lời nhắc nhở chúng ta: anh em phải hoà thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng.Câu 6. Những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong cả bốn bài ca dao:

Những biện pháp nghệ thuật được cả bốn bài ca dao sử dụng: – Thể thơ lục bát – Lối ví von, so sánh. – Hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống. – Ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

– Thể thơ lục bát. – Cách ví von, so sánh. – Những hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày. – Đặc biệt, ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNGCâu 1. Cách đọc Các bài ca dao đều được viết theo thể lục bát, nhịp 2/2 hoặc 4/4, do đó cần đọc trầm và nhấn giọng, thể hiện mối quan hệ tình cảm chân thành, thắm thiết.Câu 2.

– Tình cảm diễn tả trong bốn bài ca dao là tình cảm gia đình: Cha mẹ – con cái, mẹ con, ông bà – con cháu, anh em một nhà. – Nhận xét: Đó là những tình cảm thiêng liêng, đáng quý, chúng ta cần phải tôn trọng, giữ gìn nó.

Một số bài ca dao nội dung tương tự: – “Biển Đông còn lúc đầy vơi Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng” – “Chiều chiều xách giỏ hái rau Nhìn lên mả mẹ ruột đau như dần” – “Đói lòng ăn hột chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng” – “Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

– Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con.– Chiều chiều ra đứng ngõ sauTrông về quê mẹ ruột đau chín chiều.– Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Soạn Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Hướng dẫn soạn bài Soạn bài Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình lớp 7 đầy đủ hay nhất để các bạn tham khảo cho việc soạn bài ở nhà

Các bài soạn trước đó:

SOẠN BÀI CA DAO, DÂN CA NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH LỚP 7 TẬP 1

I. Tìm hiểu tác phẩm

1. Câu 1 trang 36 SGK Ngữ văn 7 t ập 1

Bài ca dao thứ nhất là lời ru của người mẹ dành cho con

Bài ca dao thứ hai là lời người con gái lấy chồng xa quê thương nhớ tới người mẹ già ở quê nhà

Bài ca dao thứ ba là lời của con cháu nói với ông bà

Bài ca dao thứ tư là lời của cha mẹ răn dạy con cháu hoặc lời của anh em ruột thịt bảo ban, dạy bảo nhau

2. Câu 2 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Tình cảm mà bài ca dao 1 muốn nhắn nhủ là:

Nhắc nhở con cái về trách nhiệm, bổn phận về công lao sinh thành như trời biển của cha mẹ. Đồng thời bài ca dao cũng nhắc nhở mọi người về tình cảm thiêng liêng không có gì so sánh được của con cái đối với những bậc sinh thành.

Cái hay của ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu của bài ca dao này là:

Bài ca dao sử dụng những hình ảnh so sánh ví von. Cụ thể “Công cha” được so sánh như “núi ngất trời”, “nghĩa mẹ” được so sánh với “nước ngoài biển Đông”. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh to lớn, vĩnh hằng của thiên nhiên để so sánh với công lao của cha mẹ.

Biện pháp nghệ thuật đối xứng làm khắc sâu ý nghĩa, công cha đối xứng với nghĩa mẹ, núi đối với biển

Thể thơ lục bát uyển chyển, mềm mai, giọng điệu du dương như lời ru của mẹ thì thầm, sâu lắng

Từ “công” là nghĩa trừu tượng, đã được cụ thể hóa thành “cù lao chín chữ” để bất kì ai cũng có thể nhìn thấy được một cách rõ ràng.

Một số bài ca dao cũng nói về công cha nghĩa mẹ là

Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Hay

Công cha nghĩa mẹ cao dày Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trưởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm chuyên cần Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con

3. Câu 3 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Bài hai là tâm trạng của người con gái lấy chồng xa quê. Ta có thấy rõ tâm trạng đó qua các hình ảnh về thời gian, không gian, hành động và nỗi niềm của nhân vật.

Thời gian”chiều chiều”, không phải một buổi chiều cụ thể mà là chiều nào cũng vậy, từ láy gợi cảm giác buồn bã, sự lặp đi lặp lại của thời gian.

Không gian “ngõ sau”, gợi ra hình ảnh vắng lặng, thưa người qua lại, cùng với thời gian “chiều chiều” càng gợi cho người đọc về thân phận nhỏ bé của người phụ nữ và nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương da diết.

Hành động “đứng”, chứ không phải là ngồi, trong bối cảnh không gian vắng lặng, thời gian đã về chiều, người còn gái đứng trông về quê nhà, gợi cho chúng ta thấy được sự khắc khoải nhớ mong của người con gái, hình ảnh đó càng trở nên nhỏ bé, cô độc và đáng thương hơn nữa

Nỗi niểm “ruột đau chin chiều”, nỗi niềm của người con gái lấy chồng xa quê chứa đựng bao u uất, bao nỗi niềm tâm sự dường như nỗi lòng của cô không chỉ dừng lại ở nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, mà còn chen lẫn nỗi niềm cay đắng, xót xa về thân phận làm dâu côi cút ở nhà chồng, nhớ mẹ, thương mẹ già ở nơi xa không ai chăm sóc.

4. Câu 4 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Bài 3 diễn tả nỗi nhớ và sự kính yêu đối với ông bà. Tình cảm đó được thể hiện qua những hình ảnh sau:

Hình ảnh so sánh “bao nhiêu…bấy nhiêu”, tác giả đã cụ thể hóa nỗi nhớ, làm cho nỗi nhớ trở nên trùng điệp, không thể nào kể xiết.

Hành động “ngó lên” thể hiện sự tôn kính dành cho tổ tiên

Sự vật dùng để so sánh “nuộc lạt mái nhà” gợi lên sự kết nối bền chặt của sự vật, qua đó tác giả muốn nói đến sự gắn kết bền chặt của những người cùng một huyết thống, cùng một nguồn cội. Số nuộc lạt đồng thời cũng ngầm nói đến công lao của ông bà dành cho con cháu không gì có thể đếm xuể. Tác giả sử dụng hình ảnh so sánh”bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” nỗi nhớ, sự kính trọng của con cháu dành cho ông bà được cụ thể hóa trở nên trừu tượng.

5. Câu 5 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Trong bài 4, tình cảm anh em được thể hiện qua những hình ảnh:

Tuy hai anh em là hai nhưng đều có chung “bác mẹ”, cùng chung “một nhà”, khác với người xa lạ, hai anh em có cùng chung huyết thống, cùng sống chung dưới một mái nhà. Quan hệ tình cảm được tác giả so sánh như “tay chân”, những bộ phận không thể tách rời trên cơ thể. Qua những hình ảnh đó, ta có thể thấy tình cảm anh em là sự gắn bó khăng khít, anh em phải hòa thuận, nương tựa vào nhau cùng xây dựng gia đình êm ấm.

6. Câu 6 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Những biện pháp nghệ thuật được cả bốn bài ca dao sử dụng là:

Nghệ thuật so sánh, ví von

Thể thơ lục bát nhẹ nhàng, uyển chuyển

Hình ảnh thơ sử dụng gần gũi, thân thuộc trong đời sống

Âm điệu tâm tình, ngọt ngao như lời ru của mẹ

II. Luyện tập Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình lớp 7

1. Câu 1 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Tình cảm được diễn tả trong cả bốn bài ca dao trên là tình cảm gia đình: công ơn sinh thành, tình cảm của cha mẹ đối với con cái, tình cảm của con cái đối với cha mẹ, ông bà đối với con cháu, tình cảm anh em một nhà

Đó là những tình cảm thiêng liêng, những bài ca dao nhắc nhở những thế hệ sau luôn phải nhớ ơn, tôn trọng và giữ gìn.

2. Câu 2 trang 36 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Những bài ca dao có nội dung tương tự là

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Hay

“Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

Năm canh chày, thức đủ năm canh…”

Các bài soạn tiếp theo:

Skkn Dạy Ca Dao Dân Ca Lớp 7

sáng kiến kinh nghiệmgiảng dạy ca dao- dân catrong chương trình ngữ văn lớp 7

I- lí do chọn đề tài

1. cơ sở lí luận

Có thể nói vấn đề dạy học tác phẩm văn học thể đặc trưng thể loại cho đến nay vẫn chưa hề cũ vì dạy tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một trong những yêu cầu cần thiết và quan trọng. Nó khẳng định được cách đi đúng hướng trong việc cải tiến, đổi mới phương pháp nội dung dạy- học Ngữ văn ở THCS theo chương trình SGK mới hiện nay. Như chúng ta đã biết SGK Ngữ văn mới hiện nay được biên soạn theo chương trình tích hợp, lấy các kiểu văn bản làm nơi gắn bó ba phân môn (Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn), vì thế các văn bản được lựa chọn phải vừa tiêu biểu cho các thể loại ở các thời kì lịch sử văn học, vừa phải đáp ứng tốt cho việc dạy các kiểu văn bản trong Tiếng Việt và Tập làm văn. Vì vậy SGK Ngữ văn 7 hiện nay có cấu trúc theo kiểu văn bản, lấy các kiểu văn bản làm trục đồng quy. ở chương trình Ngữ văn THCS các em được học 6 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh và điều hành. Sáu kiểu văn bản trên được phân học thành hai vòng ( vòng 1: lớp 6-7; vòng 2: lớp 8-9) theo nguyên tắc đồng tâm có nâng cao. ở lớp 7 các em học ba kiểu văn bản: biểu cảm, lập luận và điều hành. Trong đó học kì I chỉ tập trung một kiểu văn bản là biểu cảm. Chính vì vậy mà SGK Ngữ văn 7 đã đưa những tác phẩm trữ tình dân gian ( cụ thể là ca dao- dân ca) nhằm minh hoạ cụ thể, sinh động cho kiểu văn bản biểu cảm giúp các em dễ dàng tiếp nhận ( đọc, hiểu, cảm thụ, bình giá về ca dao-dân ca một thể loại trữ tình dân gian)..2 .cơ sở thực tiễn

a,Về phía học sinh

– Chưa thực thực sự yêu thích ca dao- dân ca. – Còn nhầm, chưa phân biệt được ca dao- dân ca. – Cứ thấy thể thơ 6/8 là xếp vào ca dao ( cả tục ngữ). – Chưa có kĩ năng phân tích ca dao, một loại thơ dân gian với những đặc trưng riêng về thi pháp.

b, Về phía giáo viên

Chưa nghiên cứu kĩ đặc trưng thể loại của ca dao- dân ca. Phương pháp dạy ca dao -dân ca còn chung chung cũng giống như phương pháp giảng dạy thơ trữ tình.

II- mục đích của đề tài

Trong việc giảng dạy phân môn văn hiện nay không ít giáo viên loay hoay lúng túng trước tác phẩm nghệ thuật và tài liệu hướng dẫn ( hình như hướng dẫn một đường mà tác phẩm lại gợi cho giáo viên một ấn tượng khác). Không ít những giờ dạy học tác phẩm văn chương đã diễn ra

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Lớp 7: Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!