Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Hài Hước # Top 5 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Hài Hước # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Hài Hước mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI1. Tìm hiểu tiếng cười tự trào (tự cười mình) trong bài 1

Bài ca là lời đối đáp vui đùa của nam nữ ở chặng hát cưới trong dân ca. Mặc dầu vậy, nó vẫn đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Cưới nàng, anh toan dẫn voi,Miễn là có thú bốn chân,Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng. Chàng dẫn thế, em lấy làm sang.Nỡ nào em lại phá ngang như là Người ta thách lợn thách gà,Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Bài ca gồm lời của chàng trai và của cô gái đối đáp nhau: chàng trai nói về việc dẫn cưới của mình, còn cô gái, về việc thách cưới. Thử xem việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường, cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt?

Cần nhớ rằng họ đều là những người lao động trong cảnh nghèo và việc cưới là điều hệ trọng nhất trong cuộc đời của họ, nhất là đối với người con gái. Nghèo là vậy, nhưng vì coi trọng lễ cưới, yêu quý người bạn trăm năm, nên chàng trai đã có những dự định sang trọng trong việc dẫn cưới:

Dự định thật to tát (chàng trai nào khi yêu mà chả thế!), nhưng chỉ là dự định vì làm sao một chàng trai nghèo lại có được những vật dẫn cưới đắt tiền như thế! Cái hóm hĩnh, đáng yêu là ở cách nói ý nhị của chàng: dẫn voi/sợ quốc cấm; dẫn trâu sợ họ máu hàn; dẫn bò/sợ họ co gân. Không phải không muốn dẫn những vật ấy mà cái chính là lo cho họ nhà gái. Chàng rể thật chu đáo vì biết cách ứng xử! Để rồi cuối cùng chàng trai mới nói ra cái vật dẫn cưới thật của mình:

Nghèo quá nên chỉ có thể dẫn cưới bằng con chuột. Cách nói thật thú vị, pha chút tinh nghịch (đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ): chuột cũng là thú bốn chân như voi, trâu bò; lại là chuột béo; và chỉ cần một con chuột béo ấy là có thể mời dân, mời làng. Nhưng đây cũng là vật dẫn cưới hư cấu do chàng trai tưởng tượng ra, vì có ai lại dẫn cưới bằng chuột bao giờ?! Chi tiết này thật đắt, thật đáng yêu trong lời dẫn cưới của chàng trai nghèo, và tiếng cười tự trào cũng bật lên hồn nhiên, vô tư khi người lao động không mặc cảm với cảnh nghèo, mà trái lại, như còn bằng lòng, vui thú với cảnh nghèo của mình.

Một lời dẫn cưới đáng yêu như thế, làm sao cô gái không chấp nhận? Hãy nghe cô trả lời người yêu cùng với lời thách cưới của mình:

Ở đây có hai nét đẹp trong tâm hồn cô gái: trong lời chấp nhận việc dẫn cưới của chàng trai và trong lời thách cưới của mình. Không chỉ chấp nhận, cô còn lấy làm sang cho dù vật dẫn cưới chỉ là một con chuột béo! Cùng cảnh nghèo như nhau, cô dễ dàng thông cảm và sẵn sàng chấp nhận. Nhưng còn cao đẹp hơn là lời thách cưới của cô: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Trên đời này, chắc hẳn không thể có một cô gái nào lại thách cưới như vậy, cho dù cùng trong cảnh nghèo. Bởi vì việc cưới là điều hệ trọng nhất trong cuộc đời người con gái, nó quyết định cả cuộc đời cô, vậy mà cô chỉ thách có một nhà khoai lang. Nhưng như vậy là đủ lắm rồi, vì nhà em nghèo mà nhà anh cũng nghèo, làm sao có thể thách khác được? Trong sự đối lập giữa thách lợn, thách gà với thách cưới một nhà khoai lang càng thấy rõ nét cao đẹp của người con gái: không chỉ là lời thách cưới vô tư, thanh thản mà còn là một tâm hồn lạc quan yêu đời, một triết lí trong cuộc sống của người lao động – không mặc cảm mà còn tìm thấy niềm vui trong cảnh nghèo và nhất là luôn giữ được cuộc sống thanh cao của mình. Lời thách cưới thật đáng yêu, đáng trân trọng, cho dù nó chỉ là lời đùa cợt trong chặng hát cưới của dân ca. Và cái dí dỏm, đáng yêu còn được cô nói tiếp trong dự định của mình về những vật thách cưới đó: Củ to thì để mời làng… Để cho con lợn con gà nó ăn…

Đây là tiếng cười tự trào của người bình dân trong ca dao. Người lao động tự cười mình trong cảnh nghèo. Lại chọn đúng cái cảnh cưới là lúc bộc lộ rõ nhất cái nghèo để cười, để yêu đời, ham sống. Khi người ta tự cười mình thì tiếng cười ấy bộc lộ rõ nhất nhân cách của họ như ta đã thấy trong tâm hồn cao đẹp của chàng trai và cô gái trong lời dẫn cưới và thách cưới khác thường nhưng thật đáng yêu của họ.

2. Tìm hiểu tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội trong bài 2, 3, 4.Khác với tiếng cười tự trào ở bài 1, tiếng cười trong bài 2, 3 ,4 là tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội. Đây không phải là tiếng cười đả kích, lên án giai cấp thống trị mà là tiếng cười giáo dục trong nội bộ nhân dân nhằm phê phán những thói hư tật xấu mà con người vẫn còn mắc phải. Ở đây, tác giả dân gian cười những chàng trai chưa đáng bậc nam nhi và những cô gái vô duyên đỏng đảnh… để nhắc ta phải làm người cho xứng đáng, với thái độ nhẹ nhàng, thân tình, mang tính giáo dục nhưng không vì thế mà kém phần sâu sắc.

Bài 2 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai. Bài 3 châm biếm loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Hai bài ca dao là hai bức tranh cụ thể, sinh động lại mang tính khái quát cao, điển hình cho hai loại đàn ông đáng phê phán. Nếu ở bài 2, tiếng cười bật ra nhờ nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập (Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng); thì ở bài 3, vẫn sử dụng thủ pháp đối lập giữa chồng người và chồng em, tác giả dân gian lại tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt: ngồi bếp sờ đuôi con mèo. Hình ảnh loại đàn ông lười nhác, ăn bám vợ hiện lên vừa buồn cười vừa thảm hại, mang tính hài hước và ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Bài 4. chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Đây là một bức tranh hư cấu hài hước tài tình của dân gian, có những chi tiết có thể có trong đời thường (đêm nằm thì ngáy o o; đi chợ thì hay ăn quà), cổ những chi tiết không thể có (lỗ mũi mười tám gánh lông; trên đầu những rác cùng rơm), nhưng tất cả đều được phóng đại bằng trí tưởng tượng phong phú của người bình dân. Bài ca dao hài hước này trước hết là để mua vui, giải trí, nhưng đằng sau những tiếng cười sảng khoái đó vẫn ngầm chứa một ý nghĩa châm biếm nhẹ nhàng đối với loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên không phải không có trong xã hội (ngáy o o, hay ăn quà…). Có thể do trời “phú” cho họ điều đó, cũng có thể do họ chưa tự điều chỉnh được mình trong cuộc sống chung. Tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, thông cảm, qua con mắt của người chồng yêu vợ nên tất cả điều xấu của nhân vật đều hóa thành tốt (lông mũi / râu rồng trời cho; ngáy o o/cho vui nhà; ăn quà/đỡ cơm; rác rơm / hoa thơm).

3. Những biện pháp nghệ thuật ca dao hài hước thường sử dụng– Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.– Hình ảnh hài hước, chi tiết hàm chứa ý nghĩa.– Cách nói hóm hỉnh, ý nhị.

II. LUYỆN TẬPBài tập 1: Cần nêu cảm nghĩ thật của mình về lời thách cưới của cô gái.

Tiếng cười tự trào của người lao động đáng yêu, đáng trân trọng:– Không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đùa cợt trong lối đối đáp nam nữ của dân ca).– Lời thách cưới thật khác thường (chỉ là khoai lang) mà vô tư, hồn nhiên, thanh thản nói lên tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động.

Bài tập 2: Tìm các bài ca dao hài hước trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, in lần thứ 7, NXB Khoa học xã hội, 1971 và cuốn Ca dao hài hước của Đào Thản, NXB Văn hóa – Thông tin, 2001.

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10

Soạn bài Ca dao hài hước lớp 10

I. Vài nét về ca dao

– Ca dao hài hước bằng nghệ thuật trào lộng, hóm hỉnh thể hiện niềm tin, lạc quan vào cuộc sống của nhân dân lao động

– Có hai loại ca dao hài hước:

+ Ca dao tự trào (tựu cười mình): là những bài ca dao vang lên tiếng cười chính mình, tự cười bản thân, tiếng cười lạc quan vượt lên trên hoàn cảnh sống vui vẻ, làm động lực tinh thần đối mặt với những lo toan vất vả của cuộc sống.

+ Ca dao châm biếm: dùng những lời nói châm biếm mỉa mai phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, có ý nghĩa điển hình.

II. Nội dung

1. Ca dao tự trào (Bài 1)

Bài ca được đặt trong thểđối đáp giữa chàng trai và cô gái.Cả hai đều nói đùa, nói vui.Trong đó nói đến chuyện thách cưới và dẫn cưới. – Bên dẫn cưới ( nhà trai) mang đến “một con chuột béo” miễn là con thú có bốn chân. Bên nhà gái lại thách cưới ” cả nhà khoai lang”.

Trong bài ca dao này muốn mượn cảnh nghèo đói trong gia đình cả hai bên để làm nền bộc lộ vẻ lạc quan dù có nghèo như vậy nhưng chàng trai, cô gái vẫn vui vẻ, có thể yêu nhau đến chọn đời, tình cảm mộc mạc, chân thành.

– Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài ca dao là biện pháp nói quá(tương phản) để tạo ra tiếng cười có ý nghĩa, giá trị.Cả hai bên dẫn cưới và thách cưới, chẳng ai dẫn cưới bằng con chuột và cũng chẳng ai thách cưới bằng khoai lang. Nhưng ý ở đây nhấn mạnh cái nghèo và tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, đáng yêu.

2. Ca dao châm biếm (Bài 2,3,4)

Tiếng cười ở những bài này lại không phải là cười chính mình nữa mà là tiếng cười phê phán.

* Bài 2: Đối tượng châm biếm ở đây là một đấng nam nhi yếu đuối. Là một người con trai là trụ cột của một gia đình, phải khỏe khoắn nhưng ở câu ca này sử dụng nghệ thuật đối lập, cách nói ngoa dụ, nên một đấng nam nhi như vậy lại phải ” khom lưng chống gối” để ” gánh hai hạt vừng”. Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, tầm thường, không đang sức trai, không nên làm trai.

*Bài 3: Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản giữa ” chồng người” và ” chồng em” ở bài ca này muốn phê phán, châm biếm một ông chồng lười nhát, vô tích sự, không có chí lớn, không có sự nghiệp mà chỉ biết “ngồi bếp” để ” sờ đuôi con mèo”.

Tác giả dân gian cười nhạo một loại đàn ông yếu đuối, chỉ biết bám váy đàn bà, không làm việc gì nên hồn, một loại đàn ông không đáng là đàn ông – không đáng là người trụ cột trong gia đình. Có bài ca dao tương tự như: ” Chồng người lội suối trèo đèo Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm”

* Bài 4: Đến bài ca này ở đây tác gải dân gian cũng sư dụng biện pháp nói quá nhưng là nói quá lên hai lần ( tức đồng nói quá), vừa nói quá cái xấu của cô vợ lại vừa nói quá về tình yêu mù quáng của ông chồng. Cái đáng cười nhất chính là giữa tình yêu và cái xấu xa của cô vợ ấy đều song hành không có điểm dừng.Đó chính là muốn phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, phê phán con người đáng chê trách.

III. Luyện tập

1. Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái ” Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào?

– Lời thách cưới đó là bên nhà cô gái, một cách thách cưới rất lạ lùng là thách cưới bằng ” một nhà khoai lang”. Em thấy để lại trong em một tiếng cười cảm thương, cảm thương cho hoàn cảnh nghèo, vất vả đối với gia đình hai bên.

Tiếng cười chua chát nhưng u uất trong lòng nỗi buồn thương cho sự nghèo khó ấy. Nhưng không hẳn chỉ có tiếng cười đồng vọng, đồng lòng ấy mà em còn thấy tiếng cười rất hóm hỉnh thể hiện niềm lạc quan về cuộc sống.Không vì nghèo mà mất niềm tin vào tương lai.

– Tiếng cười tự trào (tức tự chính mình) của người lao động trong cảnh nghèo rất đáng yêu và đáng trân trọng đó là niềm tin và niềm lạc quan trong cuộc sống, luôn phấn đấu đi lên, không đau khổ chán nản mặc cho số phận.

– Ngoài ra cũng ám chỉ phê phán xã hội ngày xưa, sự thách cưới quá cao so với đời sống nghèo khổ của nhân dân.

2. Sưu tầm những bài ca hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà, nghiện ngập rượu chè, đa thê…

Nghèo mà làm bạn với giàu Đứng lên ngồi xuống nó đau cái đì. * Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu Đến khi hùm dậy, đầu lâu chẳng còn. * Sống thì cơm chẳng có ăn Chết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi. …

Theo chúng tôi

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 28: Ca Dao Hài Hước

Tiết: 28 CHỦ ĐỀ: CA DAO CA DAO HÀI HƯỚC A. TIÊU CẦN ĐẠT 1. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng, thái độ a. Kiến thức: – Nỗi niềm xót xa, cay đắng và tình cảm yêu thương thủy chung, đằm thắm ân tình của người bình dân xưa trong xã hội cũ. – Những đặc sắc nghệ thuật dân gian trong thể hiện tâm hồn người lao động. b. Kĩ năng: – Đọc – hiểu ca dao theo đặc trưng thể loại c.Thái độ: – Biết yêu mến, trân trọng những bài ca dao dân ca Việt Nam; đồng cảm với nỗi niềm tâm sự của người bình dân trong xã hội cũ. d. Tích hợp: Giáo dục và bảo vệ môi trường. 2. Định hướng năng lực, phẩm chất HS a. Năng lực – Năng lực chung: Năng lực tự học, tự nghiên cứu; Năng lực hợp tác; tự quản; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực giao tiếp. – Năng lực riêng: Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ, Sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. b. Phẩm chất: Nhân ái, khoan dung; Trung thực, tự trọng, chí công vô tư;Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó B. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC – SGK, SGV, CKTKN. – Thiết kế bài dạy. C. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH – KTDH: đặt câu hỏi, chia nhóm, giao nhiệm vụ, đọc hợp tác, trình bày một phút D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG GV tổ chức cho học sinh đóng kịch, lồng ghép 4bài ca dao trong SGK vào vở kịch HS diễn sáng tạo GV: các em biết những bài ca dao trong vở kịch các bạn vừa diễn ở đâu không? Chủ đề của những bài ca dao đó? HS: nhận biết và trình bày. GV giới thiệu bài mới: Tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tự cười mình), tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội của người bình dân việt nam xưa không chỉ thể hiện trong văn xuôi tự sự với thể loại truyện cười mà còn được thể hiện khá độc đáo trong thơ trữ tình dân gian. Đó là những bài ca dao hài hước, ca dao trào phúng. Tiếng cười lạc quan của người lao động ở đây sẽ được biểu hiện rất giòn giã, khoẻ khoắn phong phú và độc đáo. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI PPDH và KTDH Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt ĐH NL, phẩm chất – PPDH: gợi tìm đàm thoại, trả lời câu hỏi. -KTDH: đặt câu hỏi, trình bày một phút. – PPDH: trả lời câu hỏi. -KTDH: đặt câu hỏi – PPDH: Đàm thoại, diễn giảng -KTDH: đặt câu hỏi – PPDH: -KTDH: đặt câu hỏi, chia nhóm, giao nhiệm vụ. – PPDH: -KTDH: đặt câu hỏi, chia nhóm, giao nhiệm vụ, kĩ thuật khăn trải bàn – PPDH: trả lời câu hỏi. -KTDH: đặt câu hỏi Thao tác 1 : GV HD HS tìm hiểu chung. GV: Nêu đặc điểm của ca dao hài hước? HS trả lời theo sự chuẩn bị bài GV : Cả 4 bài ca dao đều thuộc loại ca dao hài hước nhưng có thể phân loại cụ thể ntn? HS phân loại dựa trên đặc điểm nội dung của ca dao hài hước Thao tác 2 :GV HD HS đọc- hiểu chùm ca dao hài hước. – GV: Bài ca dao số 1 được sáng tác theo hình thức nào? Với nội dung gì? – HS phát hiện: Hình thức đối đáp; nội dung: dẫn cưới và thách cưới – GV diễn giảng: Đây là lối đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó mang đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. GV chia nhóm, giao nhiệm vụ cho HS làm việc ở nhà. GV cho HS các nhóm khác nhận xét, bổ sung ; GV nhận xét, chuẩn xác kiến thức. – Nhóm 1: Chàng trai dự định dẫn cưới những gì? nhận xét cách nói, con người của chàng trai? – Nhóm 2: Chàng trai dẫn cưới lễ vật gì? Lễ vật đó có gì đặc biệt? nhận xét cách nói của chàng trai? GV: Gia cảnh của chàng trai thế nào? Trong cảnh ngộ đó chàng trai là người thế nào? HS làm việc cá nhân và trả lời. GV chuẩn xác kiến thức – Nhóm 4: Em hiểu gì về nghĩa của từ “sang” trong lời đánh giá của cô gái về lễ vật dẫn cưới của chàng trai? Đó là lời đánh giá trang trọng hay là lời biểu lộ tấm lòng bao dung của cô gái cùng chung cảnh ngộ với chàng trai? – Nhóm 5: Đáp lại lời chàng trai, cô gái đã thách cưới như thế nào?Lí giải việc thách cưới của cô gái? Nhận xét cách nói của cô gái? Từ đó ta thấy cô gái là người thế nào? GV : Cả nhà, cả họ nhà khoai lang (củ to, củ nhỏ, củ rím, củ hà,…) ” Lễ vật “một nhà khoai lang” vừa khá lớn lại vừa thật bình dị mà khác thường của lễ vật thách cưới của gia đình cô gái, làm bật lên tiếng cười. – Nhóm 6 Tìm một số bài ca dao thách cưới. GV : Qua lời đối đáp của chàng trai, cô gái, ta thấy họ tự giễu điều gì ? Qua đó thể hiện triết lí sống nào ? HS : rút ra KL GV chốt. GV chia nhóm, giao nhiệm vụ GV cho HS các nhóm khác nhận xét, bổ sung ; GV nhận xét, chuẩn xác kiến thức. – Nhóm 1 : Đối tượng chế giễu ở bài ca dao số 2 là ai ? hình thức chế giễu? Nhằm mục đích gì ? – Nhóm 2 : Đối tượng chế giễu ở bài ca dao số 3 là ai ? hình thức chế giễu ? Nhằm mục đích gì ? GV: qua hai bài ca dao 2,3, tác giả dân gian muốn nhắc nhở điều gì đến những kẻ làm trai HS: Chân thành, nhắc nhở người đàn ông phải mạnh mẽ, siêng năng, có ý chí để sống xứng đáng với gia đình, xã hội – Nhóm 3: Tìm một số bài ca dao chế giễu loại đàn ông lười biếng – Nhóm 4 : Đối tượng chế giễu ở bài ca dao số 4 là ai ? hình thức chế giễu ? Nhằm mục đích gì ? – Nhóm 5 : Tìm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, ăn quà vặt, nghiện rượu chè, tệ nạn đa thê, tảo hôn, mê tín dị đoan. Thao tác 3 : Hướng dẫn HS tổng kết Nghệ thuật và nội dung GV : Khái quát nghệ thuật và nội dung của những bài ca dao vừa học HS khái quát và trình bày GV chốt I. Tìm hiểu chung 1. Đặc điểm của ca dao hài hước a. Nội dung: – Tiếng cười tự trào, tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động, dù họ phải sống trong cảnh nghèo khổ. – Tiếng cười phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu của người bình dân. b. Nghệ thuật: – Hư cấu, dựng cảnh tài tình. – Chọn lọc những chi tiết điển hình. – Cường điệu phóng đại, dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc…để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh GV nhận xét, chốt. – Bài 1: Ca dao hài hước tự trào (tự cười mình). ” Mục đích: mua vui, biểu hiện tinh thần lạc quan. – Bài 2, 3, 4: Ca dao hài hước châm biếm, phê phán. ” Mục đích: mua vui, châm biếm, phê phán cái xấu. II. Đọc – hiểu văn bản 1- Bài ca dao số 1 – Viết theo thể đối đáp giữa chàng trai và cô gái (2 nhân vật trữ tình) về việc dẫn cưới và thách cưới. * Lời dẫn cưới của chàng trai: – Chàng trai dự định dẫn cưới + Toan: + Dẫn voi + Dẫn trâu + Dẫn bò ” Cách nói giả định: “toan dẫn” ” là cách nói thường gặp của các chàng trai nghèo đang yêu ngày xưa. + Lí do chàng trai không thực hiện dự định: Dẫn voi îí Sợ quốc cấm. Dẫn trâu îí Sợ họ máu hàn. Dẫn bò îí Sợ họ nhà nàng co gân. ” Cách nói khoa trương, phóng đại, giảm dần. – Chàng trai dẫn cưới( việc làm): con chuột béo + Lập luận hài hước, hóm hỉnh, thông minh “Miễn là có thú bốn” ” Lễ vật “ sang trọng”, đặc biệt, khác thường ” Tiếng cười bật lên * Lời cô gái thách cưới: – Lời đánh giá về lễ vật dẫn cưới của chàng trai: Sang” có giá trị cao. ( đàng hoàng, lịch sự. ” Tấm lòng bao dung của cô gái cùng chung cảnh ngộ với chàng trai. – Cách nói về lễ vật thách cưới: + Cách nói đối lập, so sánh: Người ta îí Nhà em îí + Lời giải thích của cô gái về việc sử dụng lễ vật thách cưới: Củ to- mời làng. Củ nhỏ- họ hàng ăn chơi. Củ mẻ- con trẻ ăn chơi. Củ rím, củ hà- lợn, gà ăn. + Cách nói giảm dần: Củ to” củ nhỏ” củ mẻ” củ rím” củ hà. ” Tính chất trào lộng, đùa vui. “Cô gái cảm thông với cái nghèo của chàng trai. Sự đảm đang, tháo vát, nghĩa tình đậm đà của cô gái nghèo với họ hàng, gia đình, làng xóm. ” Là lời thách cưới khác thường, vô tư, thanh thản, tràn đầy lòng lạc quan yêu đời. 2- Bài ca dao số 2,3,4 a. Bài ca dao số 2 – Đối tượng chế giễu: Người đàn ông – Mở đầu bằng môtíp quen thuộc: Làm trai cho đáng nên trai. – Nghệ thuật: Đối lập, phóng đại: + Đối lập: Câu 1 îí Câu 2 Lẽ thường îí Sự thật về anh chàng trong bài ca dao này + Hình ảnh phóng đại, đối lập: Khom lưng chống gối îí Gánh 2 hạt vừng Tư thế rất cố gắng, îí Công việc quá nhỏ bé, cố gắng hết sức “Tiếng cười bật lên giòn giã. b. Bài ca dao số 3 – Đối tượng chế giễu: Người chồng – Nghệ thuật: tương phản, ngoa dụ Chồng người îí Chồng em Đi ngược về xuôi îí ngồi bếp sờ đuôi con mèo c. Bài ca dao số 4 – Đối tượng chế giễu: Người phụ nữ – Nghệ thuật: + Phóng đại + trí tưởng tượng phong phú: lỗ mũi 18 gánh lông + Liệt kê: ngủ ngáy, ăn quà, đầu tóc rác rơm + Nói ngược: râu rồng trời cho, cho vui nhà, đỡ cơm, hoa thơm… + Lặp cấu trúc : chồng yêu, chồng bảo. III. Tổng kết 1. Nghệ thuật: – Phóng đại, nói giảm, tương phản, hư cấu. – Cách lập luận hài hước – Chi tiết gây cười độc đáo, 2. Nội dung: – Triết lý nhân sinh cao đẹp: Lạc quan, yêu đời, vượt lên nghèo khó và rất coi trọng tình nghĩa – Bài học: Tránh những thói hư tật xấu mà con người mắc phải. Đàn ông cần phải có sức trai, nghị lực, hoài bão – Năng lực tự học – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ – Năng lực tự học – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ – Năng lực tự học – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ – Năng lực hợp tác , tự quản, giải quyết vấn đề, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ TV, thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mĩ – Phẩm chất: Nhân ái, khoan dung; tự trọng; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó – Năng lực hợp tác , tự quản, giải quyết vấn đề, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ TV, thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mĩ – Phẩm chất: Nhân ái, khoan dung; tự trọng; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó Năng lực tự quản, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ TV, – Phẩm chất: Nhân ái, khoan dung; tự trọng; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP PPDH và KTDH Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt ĐH NL, phẩm chất PPDH: trả lời câu hỏi KTDH: Đặt câu hỏi, trình bày một phút. PPDH: trả lời câu hỏi KTDH: Đặt câu hỏigiao nhiệm vụ GV cho Hs luyện tập dưới hình thức trò chơi Tìm đáp án nhanh Câu 1: Biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong ca dao hài hước? A. Ẩn dụ và kịch tính B. Gắn với hiện thực C. Cường điệu, phóng đại D. Tưởng tượng, kì ảo Câu 2. Tại sao chàng trai trong bài ca dao thứ nhất không dẫn cưới bằng “ trâu, bò” mà lại dẫn cưới bằng “con chuột béo”: A. Vì chàng trai muốn trọc tức nhà gái. B. Vì họ nhà gái kiêng ăn “ trâu, bò”. C. Vì chàng trai nghèo. D. Cả A, B và C đều đúng. Câu 3. Cách nói của chàng trai có yếu tố nghệ thuật : A. Lối nói khoa trương, phóng đại. B. Lối nói giảm dần , đối lập. C. Chi tiết – cách lập luận hài hước. D. Cả A, B và C đều đúng. A. Ca dao hài hước có mục đích chủ yếu là truyền đạt kinh nghiệm sống. B. Tiếng cười tạo nên bởi những nghệ thuật độc đáo, đậm chất dân gian. C. Tiếng cười tự trào,châm biếm, phê phán trong ca dao dí dỏm, sắc sảo, sâu rộng. D. Ca dao hài hước nói lên sự thông minh, hóm hỉnh và tâm hồn lạc quan, yêu đời của người lao động cho dù cuộc sống của họ thời xưa còn nhiều vất vả, lo toan. Câu 5: Ca dao hài hước và truyện cười không giống nhau ở điểm nào? A. Đối tượng B. Hình thức thể hiện C. Thủ pháp gây cười D. Tác dụng tiếng cười Ñieàn vaøo choã troáng nhöõng caâu ca dao sau: 1. Choàng ngöôøi beå Sôû soâng Ngoâ Choàng em, rang ngoâ 2. Laøm trai cho ñaùng neân trai, Voùt ñuõa cho daøi,.côm con. 3. Laøm trai cho ñaùng neân trai, AÊn côm vôùi vôï, laïi naøi. 4. AÊn no roài laïi , Nghe giuïc troáng cheøo,..ñi xem HS tìm đáp án và trả lời nhanh GV đưa đáp án đúng GV giao nhiệm vụ cho HS Bài tập luyện tập ở nhà Nêu ngắn gọn cảm nhận về lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”. Qua đó em thấy tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu, đáng trân trọng ở chỗ nào? HS vận dụng kiến thức làm văn và đọc văn, làm bài tập vào vở bài tập Tìm đáp án nhanh: Câu 1: C Câu 2: C Câu 3:D Câu 4:A Câu 5: B Ñieàn vaøo choã troáng : 1- ngồi bếp, cháy quần 2- ăn vụng 3- vét niêu 4- nằm khoèo, bế bụng Bài tập luyện tập ở nhà – Tiếng cười tự trào của người lao động đáng yêu, đáng trân trọng ở chỗ: – Cô gái không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đùa cợt trong chặng hát cưới của lối đối đáp nam nữ trong dân ca). – Lời thách cưới thật khác thường (chỉ là khoai lang) mà vô tư, hồn nhiên, thanh thản nói lên tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động. – NL: tự học – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó – NL: tự học, sử dụng ngôn ngữ TV, thưởng thức và cảm thụ thẩm mĩ – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG PPDH và KTDH Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt ĐH NL, phẩm chất PPDH: trả lời câu hỏi. KTDH: giao nhiệm vụ. GV giao nhiệm vụ: Từ nội dung của những bài ca dao hài hước châm biếm, phê phán thói xấu của những người đàn ông và phụ nữ bình dân xưa, anh/chị trình bày suy nghĩ của mình về những người đàn ông và phụ nữ chuẩn mực HS: viết vào vở BT HS có thể trình bày quan điểm của mình về mẫu người đàn ông, phụ nữ chuẩn mực. NL: tự học, giải quyết vấn đề, Sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mĩ. – Phẩm chất:Nhân ái, khoan dung; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó HOẠT ĐỘNG TÌM TÒI MỞ RỘNG PPDH và KTDH Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt ĐH NL, phẩm chất PPDH: trả lời câu hỏi. KTDH: giao nhiệm vụ. GV giao nhiệm vụ: Sưu tầm những bài ca dao hài hước tự trào, phê phán châm biếm HS: viết vào vở BT – Tìm ít nhất 5 bài ca dao hài hước. – NL: tự học – Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ Dặn dò: chuẩn bị Lời tiễn dặn theo phiếu học tập E. RÚT KINH NGHIỆM BÀI DẠY

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. – Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dỉ dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào? Lời giải chi tiết:

– Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sông con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

– Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

– Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

– Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, tương phản để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

+ Lối nói khoa trương, phóng đại.

Dẫn cưới: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò

+ Lối nói giảm dần:

● Voi ⟶ trâu ⟶ bò

● Củ to ⟶ củ nhỏ ⟶ củ mẻ ⟶ củ rím, củ hà

+ Lối nói đối lập: đối lập giữa mơ ước với thực tế: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò đối lập với dẫn bò.

Câu 2 Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc các bài ca số 2, 3, 4 có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao. Lời giải chi tiết:

– So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

Bài 2.

– Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai.

Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ.

+ Đối lập hay còn gọi là tương phản “làm trai”, “sức trai” xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan” hoặc “làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam”. Ở đây đối lập với “làm trai” và “sức trai” là “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”.

+ Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm “khom lưng chống gối” ấy như thế nào mọi người đã rõ.

Bài 3.

– Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn.

– Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”. Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

Chồng người lội suối trèo đèo

Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

Bài 4.

– Bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

Câu 3 Câu 3 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước. Lời giải chi tiết:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

– Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

– Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

– Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

Luyện tập Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào? Trả lời:

– Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

– Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

– Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là phê phán thách cưới nặng nề của người xưa.

Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà vặt, nghiện ngập rượu chè; tệ nạn tảo hôn,… Trả lời: “Cái cò là cái cò kì Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô Đêm nằm thì gáy o o Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà” “Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân” ND chính

Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, những tiếng cười đặc sắc trong ca dao – tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tư cười mình) và tiếng cười châm biếm, phê phán – thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân.

chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Hài Hước trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!