Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Văn Bản Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2 # Top 8 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Văn Bản Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Văn Bản Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Theo anh (chị), trong ba văn bản Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, Hai Bà Trưng và Trưng Nữ Vương, văn bản nào là văn bản văn học ? Vì sao ?

Văn bản 1 CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG BÙNG NỔ

Bấy giờ ở huyện Mê Linh (vùng đất từ Ba Vì đến Tam Đảo, nay thuộc Hà Tây, Vĩnh Phúc), có hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái Lạc tướng thuộc dòng dõi Hùng Vương. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng Đan Phượng – Hà Tây và Từ Liêm – ngoại thành Hà Nội).

Hai gia đình Lạc tướng cùng nhau mưu việc lớn. Họ bí mật tìm cách liên kết với các thủ lĩnh ở mọi miền đất nước để chuẩn bị nổi dậy. Không may, Thi Sách bị quân Hán giết.

Mùa xuân năm 40 (tháng 3 dương lịch), Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn (Hà Tây). […]

Nghĩa quân nhanh chóng đánh bại kẻ thù, làm chủ Mê Linh ; rồi từ Mê Linh, tiến đánh Cổ Loa và Luy Lâu. Tô Định hoảng hốt phải bỏ thành, cắt tóc, cạo râu, lẻn trốn về Nam Hải (Quảng Đông). Quân Hán ở các quận khác cũng bị đánh tan.

Cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi.

( Lịch sử 6, NXB Giáo dục, 2003)

Văn bản 2 HAI BÀ TRƯNG Bà Trưng quê ở Châu Phong, Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên. Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân. Ngàn tây nổi áng phong trần, Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên. Hồng quần nhẹ bước chinh yên, Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành. Đô kì đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

(Lê Ngô Cát – Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca,

NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 1999)

Văn bản 3 TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khoé hạnh

Một trời loáng thoáng bóng sao rơi Dồn sương vó ngựa xa non thẳm Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi Ngang dọc non sông đường kiếm mã Huy hoàng cung điện nếp cân đai Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi Chàng ơi! Điện ngọc bơ vơ quá Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi.

(Ngân Giang, trong 80 tác giả nữ Việt Nam,

NXB Thanh niên, Hà Nội, 2000)

Trả lời:

Muốn biết văn bản nào là văn bản văn học, anh (chị) cần đọc kĩ nội dung và cách sử dụng ngôn ngữ ở từng văn bản. Có văn bản nhằm đến sự chân thực lịch sử, với địa danh cụ thể, nhân danh (tên nhân vật) có thực, với nguyên nhân và diễn biến rõ ràng. Có văn bản chú ý đến vẻ đẹp ngôn từ, nhất là vần luật để dễ ghi nhớ và lưu truyền sự kiện lịch sử. Có văn bản xây dựng trên hư cấu, tưởng tượng. Tất nhiên, sự hư cấu, tưởng tượng đó cũng dựa vào thực tế lịch sử. Văn bản sử dụng nhiều phép tu từ, nhiều mĩ từ, ví dụ : khoé hạnh, chim bằng, cân đai, điện ngọc.

Dựa trên các tiêu chí đã trình bày trong SGK, anh (chị) sẽ nhận ra đâu là văn bản văn học.

2. Làm rõ nghĩa các câu thơ sau :

G iặc nước đuổi xong rồi, Trời xanh thành tiếng hát

Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân Những kẻ quê mùa đã thành trí thức Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng. Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lí Trần Lê Thành nước Việt nhân dân trong mát suối Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói Những đời thường cũng có bóng hoa che.

(Chế Lan Viên, Người đi tìm hình của nước,

trong Ánh sáng và phù sa, NXB Văn học, Hà Nội, 1960)

Trả lời:

Muốn đi vào chiều sâu nội dung văn bản, cần hiểu thật kĩ ngôn từ. Không hiểu nghĩa từng từ, từng hình ảnh, từng câu thơ thì không thể hiểu được hàm nghĩa của bài thơ. Thơ văn hiện đại thường không sử dụng nhiều từ cổ, nhiều điển tích, nhưng cách dùng hình ảnh, cách cấu tạo câu cũng có nhiều sáng tạo cần phải đi sâu tìm hiểu.

Khi đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ hình dung cuộc sống của nhân dân sẽ có một sự đổi thay căn bản sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi đất nước, xây dựng nên chế độ mới.

Hãy chú ý đến những cụm từ in đậm :

– Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát

( Tiếng hát thường gợi lên những gì trong trẻo, tươi vui, hài hoà,…)

– Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lí Trần Lê

Thành nước Việt nhân dân trong mát suối

Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói

Những đời thường cũng có bóng hoa che.

( Trong mát suối gợi lên những gì ngọt mát, có ích cho cuộc sống con người ; bóng hoa che gợi lên những gì đẹp đẽ, hạnh phúc. Thời trước, chỉ có lớp người giàu có, sang trọng mới có hạnh phúc. Nay trong chế độ mới, những con người bình thường cũng có thể có hạnh phúc.)

Thử viết lại bằng văn xuôi cho rõ ý những câu thơ này.

3. Hãy nói rõ nghĩa của các câu thơ sau :

Mồi phú quý dử làng xa mã, Bả vinh hoa lừa gã công khanh. Giấc Nam Kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc,

trong Những khúc ngâm chọn lọc, NXB Giáo dục, 1994)

Trả lời:

Thơ văn thời trung đại thường sử dụng nhiều từ Hán Việt, nhiều điển tích có phần xa lạ với ngày nay. Để hiểu đúng, ta cần đọc kĩ các chú thích dưới văn bản (nếu có) và tra cứu các loại từ điển : từ điển Hán Việt, từ điển điển cố, từ điển văn liệu,… Tránh những suy đoán chủ quan, vô căn cứ, dẫn đến lầm lẫn.

– Cần tìm hiểu các từ, cụm từ : mồi phú quý, dử (có nơi gọi là nhử), làng xa mã, bả vinh hoa, gã công khanh. Ví dụ : làng xa mã ( làng ở đây có nghĩa là đoàn, bọn, giới ; xa mã : xe và ngựa) : chỉ những người giàu có ; gã công khanh ( công, khanh là những chức quan cao cấp thời phong kiến) : chỉ người có quyền cao chức trọng. Từ đó, nói rõ nghĩa hai câu thơ trên.

– Cách dùng các từ mồi, bả, dứ, lừa (những từ dùng trong các công việc câu cá, săn thú,…), gã khi nói về những người giàu, có chức vị cao trong xã hội phong kiến đã tỏ rõ thái độ nào của tác giả ?

– Giấc Nam Kha là một điển cố : Xưa có người nằm mộng đến nước Hoè An được Quốc vương nước đó phong làm Thái thú quận Nam Kha và gả công chúa cho. Sau thua giặc, bị vua cách chức, vợ cũng chết. Sợ quá, bừng tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mộng. Điển cố này muốn nói cuộc đời con người ngắn ngủi, hư ảo, được mất trong thoáng chốc.

Việc gắn sự giàu có, vinh hoa của các quan chức phong kiến ngày xưa với giấc Nam Kha có ý nghĩa gì ?

4. Tìm hiểu hình ảnh “hoàng thảo hoa vàng” và hàm nghĩa của bài tứ tuyệt sau :

HOÀNG THẢO HOA VÀNG

Hoàng thảo hoa vàng… chợt nhớ ra

Ơ xuân! Lơ đãng bấy lòng ta Câu thơ tháng chạp, mình chưa viết Mà đó hoa vàng, xuân tháng ba.

(Chế Lan Viên, Đối thoại mới, NXB Văn học, Hà Nội, 1973)

Trả lời:

– Cần chú ý những từ, cụm từ : nhớ ra, xuân, ,… Giọng khẩu ngữ nói lên trạng thái tâm hồn gì ?

– “Hoàng thảo hoa vàng” tiêu biểu cho cái gì ? Hoa tàn hoa nở theo quy luật nào ?

– Hai câu thơ cuối nói lên điều gì ? (Chú ý các cụm từ : tháng chạp, tháng ba.)

– Anh (chị) hãy viết một đoạn văn nêu hàm nghĩa bài thơ này (không quá 100 chữ). Có thể tham khảo bài viết sau :

THỬ TÌM HÀM NGHĨA CỦA BÀI RỦ NHAU ĐI HÁI MẪU ĐƠN

Ca dao xưa có câu :

Rủ nhau đi hái mẫu đơn

Có anh bạn bảo đây là câu ca dao tình yêu. Hai người đi chơi say sưa mê mải trong hạnh phúc riêng, cái nhìn mơ hồ hư ảo lầm lẫn hoa nọ với hoa kia. Quả khi mê mẩn có khi thành lẩn thẩn: “Lá này là lá xoan đào – Tương tư gọi nó thế nào hở em ?” hoặc lầm lẫn : “Lá khoai anh ngỡ lá sen – Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu !”. Sự si mê khổ thế đấy ! Nhưng đầu óc quá tỉnh táo, quá sáng suốt chắc gì đã có những giây phút thần tiên ấy !

Cũng xem đây là câu ca dao tình yêu nhưng có người muốn hiểu đây nói về sự so le giữa ước mơ và thực tế. Mẫu đơn là loài hoa được cho là đẹp nhất trong các loài hoa. Mẫu đơn là hình ảnh người con gái đẹp. Trong tình yêu, những người con trai vẫn ước mong tìm được người con gái đẹp nhất, hoa mẫu đơn của mình. Nhưng trong thực tế cuộc đời thường, anh chỉ gặp được loại dành dành. Câu ca dao là lời đành phận với những tình cờ trong tình yêu.

Cũng là sự so le giữa ước mơ và thực tế nhưng có lẽ không nên bó hẹp trong vấn đề tình yêu. Trong cuộc đời, con người thường ước mơ, thường muốn vươn đến những điều tốt đẹp, nhưng vì khả năng, vì sự hiểu biết, vì sự tình cờ và bao nhiêu điều khác, cuối cùng con người chỉ đạt được một kết quả bình thường. Đó vẫn còn là may! Mẫu đơn và dành dành tuy khác nhau nhưng cũng đều là loài hoa. Có những trường hợp : tìm kiếm mơ ước một điều rút cục gặp phải điều khác hẳn. Cái ý tình cờ may rủi này được củng cố bằng hai câu tiếp sau :

Rủ nhau đi hái dành dành, Dành dành không hái, hái cành mẫu đơn.

Thì ra trong cuộc đời cũng có những người may thế đấy ! Nhưng đó là số ít. Phần đông trong số chúng ta thường chỉ hái được dành dành. Hiểu theo ý này, câu ca dao có một ý nghĩa khái quát hơn, thâm thuý lẽ đời hơn.

(Nguyễn Xuân Nam, tạp chí Ngôn ngữ, số 4 – 1990)

5. Nhận xét về đặc điểm của văn bản sau :

VỀ LÀNG

Ngót ba mươi năm, lần này tôi mới có dịp thật sự trở về làng một thời gian. Mấy lần trước chỉ là đi qua. Thầy tôi mất đã lâu, mẹ tôi mất từ hồi tôi còn nhỏ, mấy đứa em tôi phân tán mỗi người một nơi. Chân tôi bước trên con đường làng cát mịn mà như đang đi ngược về quá khứ, một cái quá khứ xa thăm thẳm không những vì năm tháng mà còn vì những thay đổi lớn đã xảy ra.

Xa xa đã trông thấy những ngọn tre lơ thơ đàng sau khoảnh vuờn cũ. Những ngọn tre ấy thân yêu biết mấy đối với tôi. Ngày xưa, những lần đầu tôi phải xa nhà lên tỉnh học, khi ngoảnh lại nhìn mấy ngọn tre ấy đu đưa, nước mắt tôi cứ trào ra, không sao cầm lại được. Trong đầu óc non trẻ của tôi hồi bấy giờ, giữa cuộc sống tràn đầy lạnh nhạt, gian dối và ác độc, chỉ nơi đây là có tình thương. Giờ đây, cuộc sống đã thay đổi và cách tôi nhìn cuộc sống cũng đã thay đổi, nhưng mấy ngọn tre kia trong lòng tôi vẫn có một vị trí riêng.

Tôi thuộc từng bờ tre, từng góc ruộng, từng chỗ ngoặt trên đường đi. Tôi bước vào mảnh vườn cũ. Ngôi nhà cũ không còn. Những cây cối thầy tôi trồng ngày trước lác đác cũng chỉ sót lại một vài cây. Nhưng lồng vào khung cảnh mới, tôi vẫn nhớ rõ như in tất cả những gì cũ. Tưởng chừng như nhớ mà lại rõ hơn nhìn, hình ảnh ngày xưa mà đậm nét hơn cái cảnh đang bày ra trước mắt. Nhớ cây ổi trên bờ ao, nhớ cái giếng ở góc vườn mùa gió Nam tắm mát rượi, nhớ hàng dâm bụt ở ngoài ngõ, nơi đứa em vội chạy ra đón anh về đưa anh cái kẹo bột, nhớ mấy cây thầu dầu (xoan) mỗi năm xuân về chúng tôi vẫn xâu hoa lại thành những chiếc cườm màu tím, nhớ mấy bụi hoàng tinh ở sau nhà thường có chim chắt làm tổ, nhớ cái giường tre nơi mẹ tôi mất, cái bàn đọc sách của thầy tôi, nhớ bao nhiêu nét mặt hiền lành, tội nghiệp.

Nhưng bà con trong xóm không để tôi triền miên trong cảnh cũ. Các trẻ em tuy không biết tôi là ai, vẫn chào hỏi tôi, theo một tập quán rất dễ mến của địa phương. Những người lớn tuổi phần đông cũng phải một chốc mới nhận ra tôi. Chuyện cũ, chuyện mới, tưởng như có thể nói hoài với nhau không bao giờ dứt.

(Hoài Thanh, trích từ Tuyển tập Hoài Thanh, tập 2, NXB Văn học,

Hà Nội, 1982, tr. 373 – 374)

Trả lời:

– Đọc bài viết về Văn bản văn học trong SGK để nắm chắc các tiêu chí đánh giá một văn bản văn học.

– Bài viết của nhà văn Hoài Thanh có lời văn trong sáng, giản dị, giàu hình ảnh và cảm xúc, gợi nhiều liên tưởng sâu xa, bộc lộ tình cảm yêu quê hương, làng xóm, gia đình, cha mẹ, anh em…

chúng tôi

Soạn Bài Văn Bản Sbt Ngữ Văn 10 Tập 1

2. Bài tập 2, trang 38, SGK.

Trả lời:

Chú ý sắp xếp các câu văn theo một thứ tự hợp lí để tạo được một văn bản hoàn chỉnh, mạch lạc. Có thể theo thứ tự: câu (1) – câu (3) – câu (5) – câu (2) – câu (4).

3. Bài tập 3, trang 38, SGK.

Trả lời:

Viết tiếp thêm khoảng 3, 4 câu, đảm bảo yêu cầu :

– Phát triển ý: Môi trường sống đang bị huỷ hoại nghiêm trọng.

– Các câu liên kết chặt chẽ và có mạch lạc.

Tham khảo đoạn văn sau :

Chàng Trương đi đánh giặc khi vợ mới có mang. Lúc trở về, con đã biết nói. Một hôm đùa với con tự xưng là bố, đứa con không nhận mà nói rằng bố nó tối tối vẫn đến. Trương buồn và ghen, đay nghiến vợ đến nỗi nàng phải tự vẫn. Một tối, ngồi bên đèn đùa với con, thấy nó chỉ lên bóng mình trên tường mà nói : “Bố đã đến kìa”. Lúc đó mới biết là mình lầm thì không kịp nữa.

(Theo Nguyễn Đình Thi,

Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao, cổ tích)

Trả lời:

Văn bản tóm tắt đã bao gồm những chi tiết quan trọng của truyện. Diễn biến theo trình tự câu chuyện. Các câu tạo nên một văn bản nhỏ vì có liên kết mạch lạc.

Về liên kết, chú ý đến các từ cùng trường nghĩa ( bố, con, vợ, chàng, nàng), ( lúc, khi, hôm, tối), các từ thay thế ( nó, mình, đó)… Về mạch lạc, chú ý đến trình tự thời gian của các sự kiện, quan hệ nguyên nhân – kết quả của chúng,…

5. So sánh hai văn bản sau, xác định sự khác nhau về thể loại, về mục đích giao tiếp, về từ ngữ, về cách thức biểu hiện.

a) Sen : Cây mọc ở nước, lá to tròn, hoa màu hồng hay trắng, nhị vàng, hương thom nhẹ, hạt dùng để ăn. Đầm sen. Mứt sen. Chè ựớp sen.

( Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988)

Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

(Ca dao)

Trả lời:

Hai văn bản cùng nói về cây sen, nhưng khác nhau về nhiều phương diện :

– Về thể loại : Văn bản (a) là văn xuôi, văn bản (b) là văn vần.

– Về mục đích : Văn bản (a) nhằm cung cấp những hiểu biết về cây sen : nơi sống, hình dáng, cấu tạo và ích lợi của nó. Văn bản (b) lại có mục đích chính là qua hình tượng cây sen để ca ngợi một phẩm chất tốt đẹp của con người : trong môi trường xấu vẫn giữ được sự thanh khiết, trong sạch.

– Về từ ngữ : Ở văn bản (a) dùng nhiều từ ngữ chỉ có một nghĩa nói về đời sống tự nhiên của cây sen. Ở văn bản (b), nhiều từ ngữ được dùng với nghĩa chuyển ( đẹp, bùn, hôi tanh, gần, mùi bùn).

– Về cách thức biểu hiện : Văn bản (a) thuộc phong cách khoa học (một mục từ trong từ điển). Văn bản (b) thuộc phong cách nghệ thuật.

6. Đọc đoạn văn sau và phân tích sự liên kết của các câu.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một bộ áo mớ ba, một cái xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi giày thêu, đi vừa như in. Lọ thứ ba, đào lên thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất, bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn. Trả lời:

Đoạn văn có sự liên kết chặt chẽ. Về nội dung, các câu đều nói về việc Tấm đào các lọ chôn dưới đất và có được những tư trang đẹp. Về hình thức liên kết, cần chú ý các từ ngữ chỉ thứ tự, các từ ngữ cùng trường nghĩa quần áo, tư trang ( bộ áo mớ ba, cái xống lụa, cái yếm lụa điều,…), việc lặp từ ngữ ( đào, lọ,…)

chúng tôi

Soạn Bài Văn Bản Báo Cáo Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2

1. Trong các dòng sau, dòng nào phù hợp nhất với lí do viết báo cáo ?

a) Vì cần đề đạt một nguyện vọng chính đáng của tập thể.

b) Do cần ghi lại một cảm xúc của bản thân.

c) Do muốn thể hiện sự hối hận của bản thân.

d) Do yêu cầu của một cá nhân hay tập thể cao hơn mình.

e) Vì muốn báo cho mọi người một thông tin quan trọng.

2. Yêu cầu nào trong các yêu cầu sau không phải là yêu cầu bắt buộc đối với việc viết văn bản báo cáo ?

a) Tên văn bản cần viết in hoa, khổ chữ to.

b) Trình bày văn bản báo cáo cần sáng sủa, cân đối.

c) Ghi tên người (tổ chức) báo cáo.

d) Các kết quả cần nêu rõ ràng với các số liệu chi tiết, cụ thể.

e) Báo cáo viết càng dài càng tốt.

3. Nếu viết một báo cáo theo các mục sau đây thì còn thiếu những mục nào ? Và trong những mục còn thiếu đó, mục nào quan trọng hơn ?

a) Quốc hiệu và tiêu ngữ.

b) Tên văn bản : Báo cáo về… (viết in hoa).

c) Người (tổ chức) báo cáo.

d) Báo cáo về lí do, sự việc và các kết quả đã làm được.

e) Chữ kí và họ tên người báo cáo.

4..Báo cáo sau đây có gì sai về hình thức trình bày ?

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Báo cáo

Kính gửi : Tổng phụ trách Đội Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi.

Hưởng ứng phong trào quyên góp giúp đỡ đồng bào vùng lũ lụt vượt qua những khó khăn do thiên tai gây ra, lớp 7C đã tiến hành quyên góp được một số quà gửi các bạn học sinh vùng lũ lụt như sau :

Quần áo : 6 bộ.

Sách vở : 12 bộ sách giáo khoa cũ (lớp 6) và 30 quyển vở học sinh.

Tiền : 100 000 đồng.

Gợi ý làm bài

1. Muốn làm được bài tập này, các em nên chú ý mục đích của việc viết báo cáo. Mục đích của văn bản báo cáo là nhằm tổng kết, nêu lên những gì đã làm theo yêu cầu của cấp trên. Từ mục đích này, đọc kĩ các lí do đã nêu trong bài tập để xác định đúng lí do phù hợp nhất.

2. Nên xem lại mục Lưu ý về văn bản báo cáo, trang 135 -136, SGK Ngữ văn 7, tập hai, từ đó xác định những yêu cầu bắt buộc và yêu cầu nào không bắt buộc trong bài tập này.

3. Nếu viết báo cáo theo các mục đã nêu trong bài tập này thì sẽ thiếu hai mục :

– Địa điểm và ngày tháng làm báo cáo.

– Nơi nhận báo cáo.

Trong hai mục này, thì nơi nhận báo cáo là quan trọng hơn.

4. Báo cáo trong bài tập 4 có mấy điểm thiếu và sai trong quy cách trình bày :

– Thiếu mục địa điểm và ngày tháng làm báo cáo.

– Thiếu mục kí tên.

– Trình bày chưa đúng : Chữ báo cáo cần viết in hoa, cỡ chữ to. Các mục quốc hiệu và tiêu ngữ, tên văn bản, nơi nhận báo cáo và nội dung báo cáo phải cách nhau 2-3 dòng.

chúng tôi

Soạn Bài Bến Quê (Trích) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 67 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Em hiểu như thế nào về tên truyện Bến quê, khi đối chiếu với nội dung thiên truyện ?

1. Truyện ngắn Bến quê tập trung vào một tình huống khá đặc biệt, đó là tình huống nào ? Hãy chỉ ra những nghịch lí trong tình huống ấy và nêu ý nghĩa của nó.

Trả lời:

Tình huống truyện chính là cảnh ngộ éo le, ngặt nghèo của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời. Là một người từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, không thiếu một xó xỉnh nào, vậy mà đến cuối đời Nhĩ lại bị buộc chặt trên giường bởi một căn bệnh quái ác khiến anh gần như liệt toàn thân, và sự sống của Nhĩ đã gần như cạn kiệt. Khai thác tình huống này, tác giả phát hiện và nhấn mạnh vào những điều nghịch lí trong cảnh ngộ của nhân vật : Là người từng đi khắp thế giới, nhưng Nhĩ lại chưa từng đặt chân lên cái bãi bồi màu mỡ ngay bên kia sông ; từng bay những chuyến bay vượt nửa vòng trái đất, nhưng nay lại không thể nhích thân mình dịch chuyển vài mươi phân trên giường bệnh ; đứa con trai mà anh nhờ thay mình thực hiện điều khao khát là đặt chân lên bờ bãi bên kia sông thì lại mải mê sa vào một đám chơi phá cờ thế trên hè phố, có thể lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày.

Đưa ra những nghịch lí ấy, nhà văn muốn phát hiện những quy luật của đời sống và chiêm nghiệm, triết lí về cuộc đời con người.

2. Phân tích bức tranh thiên nhiên được miêu tả ở phần đầu của truyện (từ “Ngoài cửa sổ” đến “ngay trước cửa sổ nhà mình”). Chú ý : Bức tranh ấy được miêu tả qua cái nhìn của ai ? Đường nét, màu sắc của cảnh vật được miêu tả tinh tế, gợi cảm như thế nào và gợi ra tâm trạng gì của người quan sát ?

Trả lời:

Cảnh vật được miêu tả theo cái nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu và bề rộng : từ những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, vòm trời và sau cùng là bãi bồi bên kia sông.

Cảnh vật thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, qua cái nhìn của Nhĩ, hiện ra với vẻ đẹp riêng và chỉ có thể cảm nhận được bằng những cảm xúc tinh tế. Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ; con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra ; vòm trời như cao hơn. Không gian và những cảnh sắc vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó. Cái nhìn ấy thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống, với vẻ đẹp bình dị mà sâu xa của thiên nhiên, của quê hương ở nhân vật Nhĩ.

3. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh và chi tiết sau trong truyện : bãi phù sa màu mỡ bên kia sông, bờ đất lở dốc đứng ở bên này sông, đứa con trai của Nhĩ sa vào đám chơi phá cờ thế bên hè phố ?

(Em tự phát hiện ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh, chi tiết còn lại.)

4. Ở đoạn kết truyện, tác giả đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với một vẻ rất khác thường. Hãy giải thích ý nghĩa của các chi tiết đó.

Trả lời:

Em đọc lại đoạn kết của truyện để nhận ra sự khác thường và thái độ vội vã, khẩn thiết của nhân vật Nhĩ thể hiện trong tư thế, hành động. Hành động của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng, thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhưng hình ảnh này còn gợi ra ý nghĩa khái quát hơn. Đó là ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

5. Truyện Bến quê chứa đựng những suy ngẫm, triết lí gì của tác giả về con người và cuộc đời ? Hãy nêu cảm nghĩ của em về những điều nhà văn suy ngẫm, triết lí.

Trả lời:

Truyện ngắn này chứa đựng nhiều suy ngẫm, triết lí của Nguyễn Minh Châu về đời người, là kết quả của sự chiêm nghiệm thấm thìa, sâu sắc của tác giả. Có thể nêu một số ý sau :

– Cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lí ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của mỗi con người.

– Cuộc đời con người thường khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình, nhất là khi còn trẻ. Chỉ đến khi đã từng trải hoặc ở một cảnh ngộ khác thường nào đó, người ta mới nhận thức được những giá trị đích thực của cuộc sống, những giá trị ấy thường giản dị và bền vững, lại ở gần gũi quanh ta. Nhưng thường thì khi nhận thức được điều đó, con người lại không còn mấy thời gian và sức lực để đạt tới nó.

(Em có thể phát hiện thêm những triết lí khác trong truyện. Em cần nêu cảm nghĩ về những suy ngẫm, triết lí của tác giả một cách chân thực, tự nhiên.)

6. Em hiểu như thế nào về tên truyện Bến quê, khi đối chiếu với nội dung thiên truyện ?

Trả lời:

Đối chiếu với nội dung truyện, tên truyện Bến quê có thể gợi ra nhiều ý nghĩa, chẳng hạn như:

– Quê hương, gia đình là nơi lưu giữ những vẻ đẹp, những giá trị bền vững, sâu xa, là chỗ dựa, bến đỗ bình yên cho cuộc đời mỗi con người, dù có bôn ba đi khắp mọi phương trời.

– “Bến quê” không chỉ mang ý nghĩa cụ thể về không gian thân thuộc của quê hương, mà còn là biểu tượng cho những giá trị gần gũi, vững bền, thân thuộc và giản dị đối với mỗi con người, mà nhiều khi người ta thường vô tình bỏ qua, không biết trân trọng nó.

chúng tôi

Bài tiếp theo

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Văn Bản Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!