Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn) # Top 5 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn) # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn) mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học:

– Văn bản văn học cỏn gọi là văn bản nghệ thuật văn bản văn chương. Văn bản văn học đi sâu vào phản ảnh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng, thoã mãn nhu cầu hướng thiện và thẩm mĩ của con người.

– Ngôn từ của văn bản văn học là ngôn từ nghệ thuật có hình tựong mang tính thẩm mĩ cao, trau chuốt biểu cảm, gợi cảm, hàm súc, đa nghĩa.

– Mỗi văn bản đều có một thể loại nhất định và theo quy ước cách thức thể loại đó.

Câu 2 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

Hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học, vì:

– Trong một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình trước cuộc đời thông qua hình tượng.

– Hình tượng nghệ thuật lại được hình thành từ sự khái quát của các lớp nghĩa ngôn từ

⇒ Vì thế, nếu mới chỉ hiểu tầng ngôn từ mà chưa biết tổng hợp nên ý nghĩa của hình tượng, chưa hiểu được các ý nghĩa hàm ẩn của văn bản thì chưa thể coi là đã nắm được nội dung tác phẩm.

Soạn văn 7 ngắn nhất tại Cunghocvui Câu 3 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

Cho câu thơ sau:

“Một ngày lạ thói sai nha

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

– Tầng ngôn từ:

+ “Thói” là lối sống, cách sống, cách hành xử hay hành động thường không tốt, được lặp lại lâu ngày thành nếp, thành thói quen.

+ “Sai nha” là nha dịch và nha lại, lũ tay chân của bọn quan lại thời phong kiến.

+ “Khốc lại” nghĩa là tai hại, đáng sợ, đau khổ, đau thương.

– Tầng hình tượng:

Đó là bọn sai nha trong xã hội phong kiến thối nát: Chỉ vì tiền mà bọn sai nha làm cho gia đình Vương Ông bị tan nát, bị đau khổ. Gia đình Kiều đang yên vui hạnh phúc, bỗng trở nên tan hoang, tan nát, người bị tù tội, người phải bán mình chuộc cha! ⇒ Xã hội đồng tiền, “đồng tiền đâm toạc tờ giấy”.

– Tầng hàm nghĩa:

Nguyễn Du đã đứng về phía nhân dân, chỉ ra mặt trái của chế độ phong kiến, đã vạch mặt, lên án bọn quan lại, lũ sai nha với thái độ căm giận, khinh bỉ, đồng thời nói lên sự cảm thông sâu sắc, đồng cảm với nhân dân – những con người bị đối xử đến “khốc hại” “vì tiền”, nên những vần thơ của ông vừa giàu giá trị tố cáo hiện thực, vừa giàu giá trị nhân đạo.

Câu 4 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

– Hàm nghĩa của văn bản văn học là những lớp nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản được gửi gắm trong hình tượng

Ví dụ câu ca dao:

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng”

⇒ Hàm nghĩa: chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chỉ chuyện ướm hỏi, chuyện cưới xin.

Câu 1 (trang 121 – 122 sgk Ngữ văn 10 Tập 2): cấu trúc hai đoạn tượng tự nhau

– Câu đầu là câu hỏi của nhà thơ về một hiện tượng nhìn thấy trên đường

– 3 câu tiếp tả kỹ hai nhân vật: nét mặt, cử chỉ…

– Câu cuối vừa là câu hỏi vứa là nỗi băn khoăn, suy nghĩ về nơi dựa.

b/ hình ảnh tương phản:

người đàn bà – em bé,

người chiến sĩ – bà cụ

⇒ Người mẹ dựa vào đứa bé chập chững, anh bộ đội dựa vào bà cụ đang run rẩy cất bước trên đường. Đứa bé chính là niềm vui, niềm tin chổ dựa tinh thần để người mẹ sống và làm việc.

⇒ Bà cụ già yếu chính là nơi gởi lòng kính yêu của con cháu, là sức mạnh cho người lính chiến đấu và chiến thắng.

⇒ Nơi dựa nói theo Nguyễn Đình Thi là điểm tựa về mặt tinh thần, tình cảm: tình yêu, lòng hi vọng về tương lai, lòng biết ơn quá khứ.

Câu 2 (trang 122 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

a. Các câu hàm chứa ý nghĩa:

– Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt “thời gian qua kẽ tay”, thời gian “làm khô những chiếc lá”. Chiếc lá là hình ảnh mang tính biểu trưng, chiếc lá là mảnh đời đang trôi đi theo nhịp thời gian. Những chiếc lá khô hay chính là cuộc đời không thể tránh khỏi vòng sinh diệt. Những chiếc lá khô, những cuộc đời ngắn ngủi và những kỉ niệm của đời người cũng sẽ bị rơi vào quên lãng (hòn sỏi rơi vào lòng giếng cạn đầy bùn cát thì chẳng có tiếng vang gì cả).

⇒ Cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xóa nhòa.

– Thế nhưng, trong cuộc sống có những điều tồn tại mãnh liệt với thời gian đó là:

Riêng những câu thơ

còn xanh

Riêng những bài hát

còn xanh

– Hình ảnh “đôi mắt em”: đôi mắt người yêu (kỉ niệm tình yêu); “giếng nước”: giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành.

b. Qua bài thơ “Thời gian”, Văn Cao muốn nói rằng: thời gian có thể xoá nhoà tất cả, chỉ có văn học nghệ thuật và tình yêu là có sức sống lâu bền.

Câu 3 (trang 123 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

a.

– Hai câu thơ thể hiện quan niệm sâu sắc của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà văn (ta).

– Trong quá trình sáng tạo, nhà văn luôn có sự đồng cảm với bạn đọc cũng như trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, bạn đọc luôn có sự đồng cảm với nhà văn.

– Sự đồng cảm phải có được nơi tận cùng “sâu thẳm” thì tác phẩm mới thực sự là tiếng nói chung, là nơi gặp gỡ của tâm hồn, tình cảm con người.

b.

– Nhà văn viết tác phẩm văn học là sáng tạo nghệ thuật theo những đặc trưng riêng. – Những điều nhà văn muốn nói đều đã được gửi gắm vào hình tượng nghệ thuật và nghệ thuật chỉ có giá trị gợi mở chứ không bao giờ nói hết, nói rõ.

– Người đọc phải tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy ngẫm, phân tích để sao cho từ bếp “tro” tưởng như tàn lại có thể “nhen thành lửa cháy”, từ “viên đá con” có thể dựng nên thành, nên luỹ

Soạn Bài Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn)

Soạn bài Văn bản văn học

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học:

– Văn bản văn học cỏn gọi là văn bản nghệ thuật văn bản văn chương. Văn bản văn học đi sâu vào phản ảnh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng, thoã mãn nhu cầu hướng thiện và thẩm mĩ của con người.

– Ngôn từ của văn bản văn học là ngôn từ nghệ thuật có hình tượng mang tính thẩm mĩ cao, trau chuốt biểu cảm, gợi cảm, hàm súc, đa nghĩa.

– Mỗi văn bản đều có một thể loại nhất định và theo quy ước cách thức thể loại đó.

Câu 2 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

Hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học, vì:

– Trong một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình trước cuộc đời thông qua hình tượng.

– Hình tượng nghệ thuật lại được hình thành từ sự khái quát của các lớp nghĩa ngôn từ

⇒ Vì thế, nếu mới chỉ hiểu tầng ngôn từ mà chưa biết tổng hợp nên ý nghĩa của hình tượng, chưa hiểu được các ý nghĩa hàm ẩn của văn bản thì chưa thể coi là đã nắm được nội dung tác phẩm.

Câu 3 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

Cho câu thơ sau:

“Một ngày lạ thói sai nha

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

– Tầng ngôn từ:

+ “Thói” là lối sống, cách sống, cách hành xử hay hành động thường không tốt, được lặp lại lâu ngày thành nếp, thành thói quen.

+ “Sai nha” là nha dịch và nha lại, lũ tay chân của bọn quan lại thời phong kiến.

+ “Khốc lại” nghĩa là tai hại, đáng sợ, đau khổ, đau thương.

– Tầng hình tượng:

Đó là bọn sai nha trong xã hội phong kiến thối nát: Chỉ vì tiền mà bọn sai nha làm cho gia đình Vương Ông bị tan nát, bị đau khổ. Gia đình Kiều đang yên vui hạnh phúc, bỗng trở nên tan hoang, tan nát, người bị tù tội, người phải bán mình chuộc cha! ⇒ Xã hội đồng tiền, “đồng tiền đâm toạc tờ giấy”.

– Tầng hàm nghĩa:

Nguyễn Du đã đứng về phía nhân dân, chỉ ra mặt trái của chế độ phong kiến, đã vạch mặt, lên án bọn quan lại, lũ sai nha với thái độ căm giận, khinh bỉ, đồng thời nói lên sự cảm thông sâu sắc, đồng cảm với nhân dân – những con người bị đối xử đến “khốc hại” “vì tiền”, nên những vần thơ của ông vừa giàu giá trị tố cáo hiện thực, vừa giàu giá trị nhân đạo.

Câu 4 (trang 121 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

– Hàm nghĩa của văn bản văn học là những lớp nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản được gửi gắm trong hình tượng

Ví dụ câu ca dao:

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng”

⇒ Hàm nghĩa: chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chỉ chuyện ướm hỏi, chuyện cưới xin.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 121 – 122 sgk Ngữ văn 10 Tập 2): cấu trúc hai đoạn tượng tự nhau

– Câu đầu là câu hỏi của nhà thơ về một hiện tượng nhìn thấy trên đường

– 3 câu tiếp tả kỹ hai nhân vật: nét mặt, cử chỉ…

– Câu cuối vừa là câu hỏi vứa là nỗi băn khoăn, suy nghĩ về nơi dựa.

b/ hình ảnh tương phản:

người đàn bà – em bé,

người chiến sĩ – bà cụ

⇒ Người mẹ dựa vào đứa bé chập chững, anh bộ đội dựa vào bà cụ đang run rẩy cất bước trên đường. Đứa bé chính là niềm vui, niềm tin chỗ dựa tinh thần để người mẹ sống và làm việc.

⇒ Bà cụ già yếu chính là nơi gởi lòng kính yêu của con cháu, là sức mạnh cho người lính chiến đấu và chiến thắng.

⇒ Nơi dựa nói theo Nguyễn Đình Thi là điểm tựa về mặt tinh thần, tình cảm: tình yêu, lòng hi vọng về tương lai, lòng biết ơn quá khứ.

Câu 2 (trang 122 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

a. Các câu hàm chứa ý nghĩa:

– Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt “thời gian qua kẽ tay”, thời gian “làm khô những chiếc lá”. Chiếc lá là hình ảnh mang tính biểu trưng, chiếc lá là mảnh đời đang trôi đi theo nhịp thời gian. Những chiếc lá khô hay chính là cuộc đời không thể tránh khỏi vòng sinh diệt. Những chiếc lá khô, những cuộc đời ngắn ngủi và những kỉ niệm của đời người cũng sẽ bị rơi vào quên lãng (hòn sỏi rơi vào lòng giếng cạn đầy bùn cát thì chẳng có tiếng vang gì cả).

⇒ Cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xóa nhòa.

– Thế nhưng, trong cuộc sống có những điều tồn tại mãnh liệt với thời gian đó là:

Riêng những câu thơ

còn xanh

Riêng những bài hát

còn xanh

– Hình ảnh “đôi mắt em”: đôi mắt người yêu (kỉ niệm tình yêu); “giếng nước”: giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành.

b. Qua bài thơ “Thời gian”, Văn Cao muốn nói rằng: thời gian có thể xoá nhoà tất cả, chỉ có văn học nghệ thuật và tình yêu là có sức sống lâu bền.

Câu 3 (trang 123 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):

a.

– Hai câu thơ thể hiện quan niệm sâu sắc của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà văn (ta).

– Trong quá trình sáng tạo, nhà văn luôn có sự đồng cảm với bạn đọc cũng như trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, bạn đọc luôn có sự đồng cảm với nhà văn.

– Sự đồng cảm phải có được nơi tận cùng “sâu thẳm” thì tác phẩm mới thực sự là tiếng nói chung, là nơi gặp gỡ của tâm hồn, tình cảm con người.

b.

– Nhà văn viết tác phẩm văn học là sáng tạo nghệ thuật theo những đặc trưng riêng. – Những điều nhà văn muốn nói đều đã được gửi gắm vào hình tượng nghệ thuật và nghệ thuật chỉ có giá trị gợi mở chứ không bao giờ nói hết, nói rõ.

– Người đọc phải tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy ngẫm, phân tích để sao cho từ bếp “tro” tưởng như tàn lại có thể “nhen thành lửa cháy”, từ “viên đá con” có thể dựng nên thành, nên luỹ

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Văn Bản Văn Học Siêu Ngắn

Câu 1: (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học (VBVH)

– VBVH đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tư tưởng, tình cảm, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

– VBVH xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao.

– VBVH xây dựng theo một phương thức riêng, mỗi VBVH đều thuộc một thể loại nhất định, tuân thủ quy ước và cách thức của thể loại đó (thơ, truyện, kịch…).

Câu 2: Câu 2: (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Nói hiểu tầng ngôn ngữ mới là bước đầu cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học vì cấu trúc của VBVH mang nhiều tầng lớp bao gồm tầng ngôn từ, tầng hình tượng, tầng hàm nghĩa.

– Trong đó, vượt qua tầng ngôn từ, người đọc mới nắm bắt được ngữ âm, ngữ nghĩa trên bề mặt của tác phẩm.

– Từ đó, người đọc có cơ sở để nhận diện và khám phá tầng hình tượng (thể hiện ở chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng…).

– Từ tầng ngôn từ, tầng hình tượng, người đọc mới có thể khám phá tầng hàm nghĩa ẩn sâu bên trong, tức là hiểu điều nhà văn muốn tâm sự, kí thác (nói theo nguyên lí “tảng băng trôi” của nhà văn Mĩ Hê-ming-uê là phần băng chìm khó nhận diện ở bên dưới).

Câu 3: Câu 3: (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Phân tích ý nghĩa một hình tượng yêu thích trong một bài/đoạn thơ ngắn:

VD: Hình tượng tấm lụa đào trong bài ca dao.

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

– Nghĩa ngôn từ: Cô gái so sánh thân mình giống như tấm lụa đào giữa chợ.

– Nghĩa hình tượng:

+ Đặc điểm của tấm lụa đào: quý giá, đẹp đẽ, mềm mại, đáng trân trọng.

+ Hoàn cảnh của tấm lụa đào: bị bán ở chợ, không biết sẽ vào tay người mua nào.

+ Nghĩa hàm ẩn: qua sự tương đồng giữa thân phận của mình với đặc điểm, hoàn cảnh của tấm lụa đào, cô gái vừa khẳng định giá trị bản thân vừa xót xa, lo lắng cho cuộc đời mình không biết sẽ gặp người bạn đời như thế nào. Bởi trong xã hội xưa, người con gái không được tự quyết chuyện trăm năm của mình.

Câu 4: Câu 4: (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Hàm nghĩa của văn bản văn học:

– Khái niệm: là ý nghĩa ẩn kín, ý nghĩa tiềm tàng trong VBVH. Cụ thể, đó là những điều nhà văn muốn tâm sự, muốn thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm đạo đức xã hội, những hoài bão. Đó là thông điệp nhà văn muốn gửi gắm cho đời.

– Ví dụ:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

(Trích “Tự tình” II- Hồ Xuân Hương)

– Tác giả miêu tả hành động, trạng thái của từng đám rêu mọc xiên ngang mặt đất, hình ảnh mấy hòn đá vươn lên “đâm toạc” chân mây. Chúng có sức sống mãnh liệt dù bé nhỏ, bình thường. Hàm nghĩa ở đây là thái độ bất bình, ngang tàng, phản kháng của Hồ Xuân Hương muốn chống lại số phận bé nhỏ, bấp bênh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Đó cũng là bản lĩnh Xuân Hương, cá tính Xuân Hương độc đáo, mạnh mẽ.

LUYỆN TẬP VB1: Nơi dựa

– Bài “Nơi dựa” chia thành hai đoạn có cấu trúc, hình tượng, tứ thơ giống nhau:

+ Cấu trúc: câu mở đầu và câu kết thúc giống nhau (điệp cấu trúc cú pháp).

+ Tứ thơ, hình tượng thơ tương đồng: mỗi đoạn đều có hai nhân vật, trong mỗi cặp nhân vật lại có một người không thể tự bước đi vững vàng mà phải nhờ vào người còn lại ( đứa bé nhờ vào mẹ – người mẹ già nhờ vào anh chiến sĩ).

– Những hình tượng trên gợi suy ngẫm sâu xa về chỗ dựa:

+ Nơi dựa giản đơn, dễ nhận thấy là chỗ dựa về sức khỏe, về vật chất: em bé phải dựa vào mẹ để tập đi, người mẹ già phải nhờ vào anh chiến sĩ để đi lại.

+ Nơi dựa sâu xa, quan trọng là chỗ dựa về tinh thần: em bé và người mẹ già yếu đều là nguồn sống, là chỗ dựa tình cảm để người mẹ trẻ và anh chiến sĩ có thể vượt qua thử thách.

VB2: Thời gian

– Các câu thơ được trích dẫn hàm chứa ý nghĩa: khẳng định sự tàn phá, mài mòn khủng khiếp của thời gian (làm khô héo cảm xúc khiến kỉ niệm đã qua giờ khô khan như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn). Chỉ có thơ ca nghệ thuật và tình yêu vẫn luôn tràn đầy cảm xúc, tràn đầy sức sống bất diệt ( còn xanh, như hai giếng nước) bất chấp thời gian.

– Thông điệp trong bài “Thời gian”: trong dòng thời gian thử thách, khắc nghiệt, chỉ có những giá trị chân chính mới tồn tại lâu bền (nghệ thuật, tình yêu).

VB3: Mình và ta

– Mối quan hệ giữa người đọc và nhà văn (câu 1,2): mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, gần gũi, đồng cảm.

– VBVH và TPVH trong tâm trí người đọc (câu 3,4): VBVH, TPVH là các tác phẩm ngôn từ, thông điệp đã được ẩn trong các hình tượng, các câu từ. Nhờ có sự tiếp nhận, cảm thụ, trí hình dung tưởng tượng của người đọc mà những hình tượng ấy, ngôn từ ấy trở nên sinh động, hiện thực hóa và thực sự sống cuộc đời đích thực của nó. Nếu không được tiếp nhận trong tâm trí người đọc, VBVH hay TPVH mãi chỉ là những văn bản chết.

Chia sẻ: chúng tôi

Bài Soạn Siêu Ngắn: Văn Bản (Tiếp)

b) Đoạn văn được viết theo phương pháp lập luận diễn dịch.

c) Có thể đặt một số những nhan đề sau: Môi trường và lá cây; Môi trường và cơ thể sống;…

Trả lời

Sắp xếp các câu theo trình tự: (1) – (3) – (4) – (2) – (5)

Nhan đề: Việt Bắc

Trả lời Môi trường sống bị hủy hoại

Môi trường sống của loài người hiện nay đang bị hủy hoại ngày càng nghiêm trọng. Nước – nguồn mạch duy trì sự sống của muôn loài, bị ô nhiễm nghiêm trọng. Lượng chất độc lẫn trong nước tăng dần theo cấp số nhân. Mỗi ngày, có tấn chất thải đổ thẳng ra sông ngòi, biển cả mà không qua xử lí là một trong những nguyên nhân khiến cho nguồn nước bị ô nhiễm. Cùng với đó, đất cũng trở nên khô cằn, nhiễm độc do con người sử dụng. Lượng xe cộ quá nhiều cùng với dân số tăng nhanh chóng mặt, không khí, tiếng ồn vây quanh cuộc sống cũng đang ngày càng trở nên ô nhiễm trầm trọng. Việt Nam là một trong những nước có không khí bị ô nhiễm cao kỉ lục so với mức trung bình trên thế giới. Môi trường ô nhiễm dẫn tới những hệ lụy đáng tiếc về sức khỏe, tinh thần, đời sống của con người. Chính vì thế, mỗi người cần tự ý thức về việc bảo vệ môi trường và các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần dề ra những biện pháp thiết thực và coi đây trở thành vấn đề cấp thiết đối với sự phát triển, phồn vinh của đất nước.

Trả lời:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

ĐƠN XIN NGHỈ HỌC

Kính gửi: Thầy giáo chủ nhiệm lớp 10 A, Trường THPT…

Tên em là: Nguyễn Văn B

Hôm nay, ngày…, tháng…, năm…

Em xin trình bày với cô một việc như sau: Hôm nay, gia đinh em có việc bận nên không thể đi học được. Em làm đơn này kính xin cô cho em nghỉ buổi học hôm nay. Em xin hứa sẽ thực hiện việc chép bài và học bài nghiêm túc và đầy đủ.

Em xin chân thành cảm ơn cô.

Học sinh

(Kí tên)

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Văn Bản Văn Học (Siêu Ngắn) trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!