Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học? # Top 8 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học? # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học? mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài Văn bản văn học Văn 10: Câu 1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh và khám phá thế giới, tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người….

Câu 1: Hãy nêu những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học.

– Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh và khám phá thế giới, tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

– Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, rất giàu hàm nghĩa và gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc.

– Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, những cách thức riêng của thể loại đó.

Câu 2: Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học?

– Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Đọc vàn bản văn học, ta hiểu rõ ngữ nghĩa của từ, từ nghĩa tường minh đến hàm nghĩa, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng. Cùng với ngữ nghĩa, phải chú ý tới ngữ âm. Tuy nhiên, tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần phải vượt qua để đi vào chiểu sâu của văn bản.

– Vượt qua tầng ngôn từ, chúng ta cần đi sâu vào tầng hình tượng và tầng hàm nghĩa thì mới có thể hiểu được văn bản văn học. Trên thực tế, ba tầng của văn bản văn học không tách rời mà liên hộ mật thiết với nhau. Không hiểu tầng ngôn từ sẽ không hiểu tầng hình tượng và vì vậy cũng sẽ không hiểu tầng hàm nghĩa của văn bản.

– Trong một văn bản văn học, tầng ngôn từ hình tượng hiện lên tương đối rõ, tầng hàm nghĩa khó nắm bắt hơn. Tầng hàm nghĩa chỉ có thể hiểu được khi người đọc biết suy luận, phân tích, khái quát.

Đọc văn bản văn học phải hiểu được tầng hàm nghĩa nhưng hiểu được tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học.

Câu 3: Phân tích ý nghĩa một hình tượng mà anh (chị) thấy thích thú trong một bài thơ hoặc đoạn thơ ngắn

– Để phân tích, học sinh cần nắm được đặc trưng của hình tượng trong thơ, hiếu được lớp ngôn từ để phân tích đặc điểm của hình tượng, từ đó phân tích ý nghĩa của hình tượng.

– Nên chọn hình tượng trong một bài thơ, hoặc đoạn thơ đã học trong chương trình để thấy việc tiếp cận hình tượng theo hướng tìm hiểu các tầng của văn bản có những cái hay riêng

– Có thể tham khảo ví dụ sau:

“Bóng buồm đã khuất bầu không Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”

(Lý Bạch – Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)

– Học sinh đối chiếu với bản phiên âm và dịch nghĩa để hiểu lớp ngôn từ. Chú ý các từ “cỡ phàm” (cánh buồm lẻ loi, cô độc); “bích không tận” (bầu trời xanh đến vô cùng); “duy kiến” (chỉ nhìn thấy duy nhất); “thiên tế lưu” (dòng sông bay lên ngang trời).

– Hình tượng nhân vật trữ tình được khắc hoạ qua hai hình ảnh: Cánh buồm khuất bầu không (Cô phàm viễn ảnh bích không tận) và dòng sông chảy ngang trời (Duy kiến trường giang thiên tế lưu).

– Ngôn từ và hình ảnh thơ tạo nên rất nhiều đối lập: cảnh và người; kẻ đi và người ở; bé nhỏ và rộng lớn; dom chiếc và vô tận; hữu hạn và vô hạn; trời và nước…

– Hình tượng thơ vừa gửi gắm niềm thương nhớ vừa khắc hoạ tâm trạng nôn nao khó tả của Lý Bạch trong thời khắc tiễn bạn về chốn phồn hoa.

Câu 4: Hàm nghĩa của văn bản văn học là gì? Cho ví dụ cụ thể.

– Hàm nghĩa của văn bản văn học là khả năng gợi ra nhiều lớp ý nghĩa tiềm tàng, ẩn kín của văn bản văn học mà qua quá trình tiếp cận, người đọc dần dần nhận ra.

– Hàm nghĩa của văn bản văn học không phải lúc nào cũng dễ hiểu và không phải lúc nào cũng hiểu đúng và hiểu đủ.

Ví dụ:

– Trong câu ca dao:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Khi chàng trai nói đến chuyện “tre”, “đan sàng” thì câu ca dao không chỉ mang ý nghĩa tả thực như vậy. Nó còn mang hàm nghĩa chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chỉ chuyện ướm hỏi, chuyện cưới xin.

– Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương mới đọc qua tưởng chỉ là chuyện của chiếc bánh trôi, từ đặc điểm đến các cung đoạn làm bánh. Nhưng hàm chứa trong đề tài bánh trôi là cảm hứng về cuộc đời và thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Người phụ nữ than thân trách phận nhưng không dừng lại ở đó, còn khẳng định vẻ đẹp của mình và lên tiếng phê phán xã hội bất công, vô nhân đạo.

– Truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu bao hàm nhiều ý nghĩa triết lí về con người và cuộc đời thông qua rất nhiều những nghịch lí:

+ Trong đời mỗi con người, có nhiều chuyện mà ta không lường trước được, không tính hết được bởi có những việc xảy ra ngoài ý muốn (Nhĩ, nhân vật chính của truyện, đã từng đi khắp nơi, cuối đời bị căn bệnh quái ác phải nằm liệt giường).

+ Con người, đôi khi vì những “vòng vèo, chùng chình” đã không thể đến được nơi mà mình cần đến, mặc dù nơi ấy ở ngay trước mặt (Nhĩ đã không thể sang được bãi bồi bên kia sông, ngay trước nhà mình).

+ Đôi khi, người ta cứ mải mê đi tìm những giá trị ảo tưởng trong khi có những giá trị quen thuộc, gần gũi mà bền vững thì lại bỏ qua để khi nhận ra thì quá muộn (khi nằm liệt giường, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp của “Bến quê”, vẻ đẹp của người vợ tảo tần sống gần trọn đời với mình).

+ Hãy biết trân trọng cuộc sống, trân trọng những gì thuộc về “Bến quê”, đó là bức thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến mọi người thông qua những triết lí giản dị mà sâu sắc của tác phẩm.

Luyện tập Câu 1: Văn bản “Nơi dựa”

a. Văn bản là một bài thơ văn xuôi của Nguyễn Đình Thi. Bố cục của văn bản chia làm hai đoạn có cấu trúc câu, hình tượng như nhau:

– Câu mở đầu và câu kết của mỗi đoạn có cấu trúc giống nhau.

– Mỗi đoạn đều có hai nhân vật có đặc điểm giống nhau. Đoạn một là một người đàn bà và một đứa nhỏ, đoạn hai là một người chiến sĩ và một bà cụ.

Tác giả tạo nên cấu trúc đối xứng cốt làm nổi bật tính tương phản, từ đó làm nổi bật ý nghĩa của hình tượng.

b. Những hình tượng trong hai đoạn của bài thơ gợi lên nhiều suy nghĩ về nơi dựa trong cuộc sống. Người đàn bà dắt đứa nhỏ nhưng chính đứa nhỏ lại là “Nơi dựa” cho người đàn bà; bà cụ già bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ.

Câu 2. Văn bản “Thời gian”

a. * Văn bản là một bài thơ của Nam Cao. Bài thơ có câu từ độc đáo và cách ngắt nhịp linh hoạt, cách vắt dòng có chủ định. Văn bản có thể chia làm hai đoạn:

– Đoạn một: từ đầu đến “…trong lòng giếng cạn”

– Đoạn hai: tiếp theo đến hết.

* Đoạn một nói lên sức mạnh tàn phá của thời gian. Đoạn hai nói về những giá trị bền vững tồn tại mãi với thời gian.

– Thời gian cứ từ từ trôi “qua kẽ tay” và âm thầm “làm khô những chiếc lá”. “Chiếc lá” vừa có nghĩa thực, cụ thể vừa có nghĩa bóng, ẩn dụ. Nó vừa là chiếc lá trên cây, mới hôm này còn xanh tươi sự sống thế mà chí một thời gian lọt “qua kẽ tay”, là đã lá chết. Nó vừa là những chiếc lá cuộc đời trên cái cây cuộc sống mà khi thời gian trôi đi, sự sống cứ rụng dần như những chiếc lá. Những kỉ niệm trong đời thì “Rơi / như tiếng sỏi / trong lòng giếng cạn”. Thật nghiệt ngã. Đó là quy luật băng hoại của thời gian.

– Vấn đề ở đây là ai cũng nhận ra quy luật ấy nhưng không phải ai cũng có thể làm cho mình bất tử cùng thời gian. Vậy mà cũng có những giá trị mang sức sống mãnh liệt chọi lại với thời gian, bất tử cùng thời gian. Đó là sức mạnh vượt thời gian của thi ca và âm nhạc (hiểu rộng ra ỉà nghệ thuật). Dĩ nhiên là “những câu thơ “những bài hát”, những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Hai chữ “xanh” được láy lại như “chọi” lại với chữ “khô” trong câu thứ nhất.

– Câu kết thật bất ngờ: “Và đôi mắt em/ như hai giếng nước”. Dĩ nhiên đây là “hai giếng nước” chứa đầy những kỉ niệm tình yêu, những kỉ niệm tình yêu sống mãi, đối lập với những kỉ niệm “rơi” vào “lòng giếng cạn” quên lãng của thời gian.

b. Qua bài thơ “Thời gian”, Văn Cao muốn gửi đến chúng ta một thông điệp: thời gian có thể xoá nhoà tất cả, thậm chí tàn phá cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Duy chỉ có văn học nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu bền.

Câu 3. Văn bản “Mình và ta” Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!

a. Thơ Chế Lan Viên rất giàu chất triết lí và đây là một trong những bài thơ như thế. Chỉ có điều, cái chất triết lí ấy không phải được trình bày một cách khô khan mà trình bày bằng những hình tượng giàu tính nghệ thuật. Ví dụ như trong hai câu đầu của bài thơ này, nhà thơ đã có một liên tưởng sâu sắc và tinh tế khi so sánh mối quan hệ giữa bạn đọc và nhà văn như hai người tri kỉ :

Hai câu thơ thể hiện quan niệm sâu sắc của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà văn (ta). Trong quá trình sáng tạo, nhà văn luôn có sự đồng cảm với bạn đọc cũng như trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, bạn đọc luôn có sự đồng cảm với nhà văn. Sự đồng cảm phải có được nơi tận cùng “sâu thẳm” thì tác phẩm mới thực sự là tiếng nói chung, là nơi gặp gỡ của tâm hồn, tình cảm con người.

Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành.

b. Hai câu sau là quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc:

Nhà thơ Chế Lan Viên lại muốn nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc. Theo đó, một tác phẩm văn chương chỉ trở thành tác phẩm văn chương thực sự khi nó đến tay độc giả. Thêm nữa, quá trình đi từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm trong tâm trí người đọc không phải là một quá trình sao chép hoàn toàn thụ động của người xem sách. Nhà văn khi sáng tác đã tự “để ra” những “khoảng trống” cho người đọc và kế đó trong quá trình tiếp nhận, người đọc lại tiếp tục phát huy tính chủ động sáng tạo của mình (từ “tro” nhen lên thành “lửa”, từ “đá” dựng lại nên “thành”). Cứ thế, tác phẩm văn chương tồn tại trong trạng thái động và có sức cuốn hút người đọc nhiều thời với nhiều thế hệ khác nhau.

Quan niệm trên của Chế Lan Viên đã được nhà thơ phát biểu theo cách của thơ và đó cũng là một minh chứng cho quan niệm của chính nhà thơ.

Soạn Bài Văn Bản Văn Học Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học

Soạn bài Văn bản văn học (ngắn gọn) Văn 10: Câu 1. Văn bản văn học đi sâu phản ánh và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người…

Câu 1: Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học :

– Văn bản văn học đi sâu phản ánh và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

– Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao.

– Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, cách thức của thể loại đó

Câu 2: “Hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học” vì :

– Ngôn từ là đối tượng đầu tiên khi tiếp xúc với văn bản văn học.

– Chiều sâu của văn bản văn học tạo nên từ tầng hàm nghĩa, tầng hàm nghĩa được ẩn dưới bóng tầng hình tượng, mà hình tượng lại được hình thành từ sự khái quát của lớp nghĩa ngôn từ.

Câu 3: Phân tích ý nghĩa hình tượng trong câu ca dao :

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Câu ca dao không chỉ mang nghĩa tả thực. “Tre non đủ lá” chỉ người đã trưởng thành, đủ tuổi, đủ lớn ; “đan sàng” có ám chỉ chuyện kết duyên, cưới xin. Câu ca dao là lời ngỏ ý của chàng trai hỏi cô gái có thuận tình đợi chàng mối lái chưa.

Câu 4: – Hàm nghĩa của văn bản văn học là khả năng gợi ra nhiều lớp ý nghĩa tiềm tàng, ẩn kín của văn bản văn học mà qua quá trình tiếp cận, người đọc dần dần nhận ra.

– Hàm nghĩa của văn bản văn học không phải lúc nào cũng dễ hiểu và không phải lúc nào cũng hiểu đúng và hiểu đủ.

Luyện tập Câu 1: Văn bản “Nơi dựa”

a. Hai đoạn có cấu trúc câu, hình tượng tương tự nhau là mở bài – kết bài : người đàn bà và đứa nhỏ – người chiến sĩ và bà cụ.

b. Hình tượng nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản:

+ Người mẹ trẻ lấy điểm dựa tinh thần là đứa con mới chập chững biết đi.

+ Anh bộ đội : dựa vào cụ già bước run rẩy không vững.

Câu 2. Văn bản “Thời gian”

a. * Văn bản là một bài thơ của Nam Cao. Bài thơ có câu từ độc đáo và cách ngắt nhịp linh hoạt, cách vắt dòng có chủ định. Văn bản có thể chia làm hai đoạn:

– Đoạn một: từ đầu đến “…trong lòng giếng cạn”

– Đoạn hai: tiếp theo đến hết.

* Đoạn một nói lên sức mạnh tàn phá của thời gian. Đoạn hai nói về những giá trị bền vững tồn tại mãi với thời gian.

– Thời gian cứ từ từ trôi “qua kẽ tay” và âm thầm “làm khô những chiếc lá”. “Chiếc lá” vừa có nghĩa thực, cụ thể vừa có nghĩa bóng, ẩn dụ. Nó vừa là chiếc lá trên cây, mới hôm này còn xanh tươi sự sống thế mà chí một thời gian lọt “qua kẽ tay”, là đã lá chết. Nó vừa là những chiếc lá cuộc đời trên cái cây cuộc sống mà khi thời gian trôi đi, sự sống cứ rụng dần như những chiếc lá. Những kỉ niệm trong đời thì “Rơi / như tiếng sỏi / trong lòng giếng cạn”. Thật nghiệt ngã. Đó là quy luật băng hoại của thời gian.

– Vấn đề ở đây là ai cũng nhận ra quy luật ấy nhưng không phải ai cũng có thể làm cho mình bất tử cùng thời gian. Vậy mà cũng có những giá trị mang sức sống mãnh liệt chọi lại với thời gian, bất tử cùng thời gian. Đó là sức mạnh vượt thời gian của thi ca và âm nhạc (hiểu rộng ra ỉà nghệ thuật). Dĩ nhiên là “những câu thơ “những bài hát”, những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Hai chữ “xanh” được láy lại như “chọi” lại với chữ “khô” trong câu thứ nhất.

– Câu kết thật bất ngờ: “Và đôi mắt em/ như hai giếng nước”. Dĩ nhiên đây là “hai giếng nước” chứa đầy những kỉ niệm tình yêu, những kỉ niệm tình yêu sống mãi, đối lập với những kỉ niệm “rơi” vào “lòng giếng cạn” quên lãng của thời gian.

b. Qua bài thơ “Thời gian”, Văn Cao muốn gửi đến chúng ta một thông điệp: thời gian có thể xoá nhoà tất cả, thậm chí tàn phá cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Duy chỉ có văn học nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu bền.

Câu 3. Văn bản “Mình và ta”

a. Quan niệm của Chế Lan Viên về mối quan hệ người đọc – nhà văn ở câu 1, 2 :

Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình.

Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!

Nhà văn (ta) và bạn đọc (mình) luôn có sự đồng cảm trong quá trình sáng tạo cũng như quá trình tiếp nhận. Sự đồng cảm phải ở nơi tận cùng “sâu thẳm” thì tác phẩm mới thực sự là tiếng nói chung, là nơi gặp gỡ của tâm hồn, tình cảm mình – ta.

Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy, Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành.

b. Quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc trong câu 3, 4 :

Để hiểu được lời gửi gắm, thông điệp của nhà văn, người đọc phải tái tạo, tưởng tượng, suy ngẫm, phân tích sao cho từ bếp “tro” tưởng như tàn lại có thể “nhen thành lửa cháy”, từ “viên đá con” có thể dựng nên thành, nên luỹ.

Soạn Bài Văn Bản Văn Học (Văn Lớp 10)

Soạn bài văn bản Văn Học (văn lớp 10)

1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tư tưởng và tình cảm, thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người (nội dung).

2. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mỹ cao, sử dụng nhiều phép tu từ. Văn bản văn học thường hàm súc, gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng (hình thức).

3. Mỗi văn bản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định, và theo những qui ước, cách thức của thể loại đó (cách thức thể hiện).

II/ Cấu trúc của văn bản văn học 1. Tầng ngôn từ – từ âm đến ngữ nghĩa

Đọc văn bản, ta phải hiểu rõ ngữ nghĩa của từ, từ nghĩa tường minh đến nghĩa hàm ẩn, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng. Cùng với ngữ nghĩa phải chú ý đến ngữ âm.

2. Tầng hình tượng

Hình tượng được sáng tạo trong văn bản nhờ những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng mà có sự khác nhau.

3. Tầng hàm nghĩa

Đọc tác phẩm văn học, ta đi từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng, dần dần ta tìm ra tầng hàm nghĩa. Tầng hàm nghĩa là cái đích của văn bản văn học. 

III/ Từ văn bản đến tác phẩm văn học

Văn bản là hệ thống ký hiệu tồn tại khách quan. Khi hệ thống kí hiệu được đánh thức bởi hoạt động đọc (tiếp nhận) thì lúc ấy văn bản mới trở thành tác phẩm văn học.

LUYỆN TẬP THỰC HÀNH 1. Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học:

– Văn bản văn học phải phản ánh và khám phá hiện thực khách quan, tư tưởng tình cậm con người và phải có giá trị thẩm mĩ.

– Văn bản văn học phải mới lạ về nội dung và độc dáo về nghệ thuật.

– Văn bản văn học phải giúp người đọc khám phá những chân lí.

2. Nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học là bởi vì tầng ngôn từ là phương tiện để đi đến tầng hình tượng và cuối cùng là tầng hàm nghĩa.

3. Phân tích hình tượng bánh trôi nước trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.

Từ các từ ngữ “vừa trắng vừa tròn, bảy nổi ba chìm, tấm lòng son”, ta tiếp nhận hình tượng chiếc bánh trôi nước chính là ẩn dụ cho người phụ nữ đẹp (vừa trắng vừa tròn) nhưng cuộc đời trôi nổi, bấp bênh (bảy nổi ba chìm); dù vậy họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình (tấm lòng son).

4. Hàm nghĩa của văn bản văn học là ý nghĩa sâu xa ẩn sau lớp nghĩa đen của ngôn từ và hình tượng thẩm mĩ.

– Lá lành đùm lá rách – hàm nghĩa của câu tục ngữ là chỉ sự cưu mang đùm bọc lẫn nhau của con người.

Hàm nghĩa của câu ca dao là sự hối hận, nuối tiếc của cô gái vì đã trao gởi tình yêu không đúng chỗ.

5. Văn bản Nơi dựa

a) Hai đoạn có câu trúc câu, hình tượng tương tự nhau:

– Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.

– Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.

b) Những hình tượng người đàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già gợi lên cho chúng ta suy nghĩ về những điểm tựa của cuộc đời. Thì ra nơi dựa đâu chỉ là bức tường thành vững chãi mà nơi dựa còn là những tình cảm cao dẹp của tình mẫu tử, những tình yêu thương con người dành cho nhau. Và chỗ dựa tinh thần còn quan trọng hơn chỗ dựa vật chất.

a) Các câu thơ:

Kỷ niệm trong tôi Rơi Như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn. Riêng những câu thơ còn xanh. Riêng những bài hát còn xanh.

Hàm chứa ý nghĩa: Kỷ niệm rồi sẽ mất đi, chỉ có câu thơ và tiếng hát là còn mãi mãi. Tình yêu cũng mãi chứa đầy trong tâm khảm. Nghệ thuật nếu đi được vào lòng người sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian. Và tình yêu cũng thế.

b) Qua bài Thời gian, Văn Cao muốn nói với chúng ta rằng: thời gian sẽ xoá nhoà tất cả, chỉ có nghệ thuật và kỷ niệm tình yêu là có sức sống lâu bền.

7. Văn bản Mình và ta.

a) Quan niệm của Chế Lan Viên về người đọc và nhà văn:

Theo Chế Lan Viên, giữa người người đọc (mình) và người viết (ta) có mối liên hệ mật thiết, mối liên hệ ấy là sự đồng cảm, đồng điệu về tâm hồn giữa người đọc với người viết: Mình là ta đấy thôi, ta vẫn. gửi cho mình. Đi từ trái tim thì mới đến được trái tim, từ tâm hồn mới đến được tâm hồn. Tác phẩm văn học là tiếng nói của trái tim, của tâm hồn người viết, bởi vậy nó sẽ tìm đến với trái tim, tâm hồn người đọc. Đó chính là nơi gặp gỡ của nhà văn và dộc giả: Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy. Văn học phản ánh cái cá thể, riêng biệt, nhưng đồng thời cũng là cái chung, phổ quát. Điều đó khiến cho người đọc cảm thấy được chia sẻ động viên… khi đến với tác phẩm. Khi tôi viết về tôi, chính là tôi nói về anh đấy (Vích-to Huy-go).

b) Quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí người đọc:

Nhà văn như gói tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ… của mình vào đống tro ngôn ngữ, chỉ khi nào được người đọc tiếp nhận thì đống tro ấy mới bùng cháy lên thành ngọn lửa, để mở ra thế giới hình tượng phong phú sinh động mà nó đang ngủ yên trong ngôn từ: “Ta gửi tro, minh nhen thành ngọn lửa”. Không chỉ có thế, nhà văn cung cấp chất liệu, hình ảnh, người đọc phải bằng trí tưởng tượng của mình làm sống dậy cả một thế giới mà nhà văn chỉ phác thảo vài ba nét, rồi phân tích, tổng hợp chất liệu ấy thành hình tượng thì mới nhận thức đầy đủ thế giới nghệ thuật có chiều sâu tư tưởng, và vẻ đẹp thẩm mĩ: “Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành”-. Bài thơ anh, anh làm một nửa thôi,

Còn một nửa để mùa thu làm lấy. (Chế Lan Viên)

Nguồn: chúng tôi

Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học

Tiêu chí và cấu trúc của văn bản văn học

I. Tiêu chí của văn bản văn học

Ngày nay, đa số nhận diện một văn bản văn học theo các tiêu chí sau:

1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

Khái niệm về văn bản văn học là một vấn đề phức tạp, tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử để xác định.

2. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao( trau chuốt, biểu cảm, hàm sức và đa nghĩa)

3. Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng (thuộc về một thể loại nhất định và theo những qui ước, cách thức của thể loại đó).

– Kịch: có hồi, có cảnh, có lời đối thoại, độc thoại …

– Thơ: có vần, có điệu, luật, có câu thơ, có khổ thơ …

– Truyện: có nhân vật, có sự việc, sự kiện, chi tiết, kết cấu cốt truyện, các loại lời văn …

Ranh giới giữa văn bản văn học và những văn bản phi văn học không phải lúc nào cũng rõ ràng, cố định

Ví dụ: + Có văn bản không phân biệt giữa văn sử (Sử kí Tư Mã Thiên) hay giữa triết văn (Nam Hoa kinh của Trang Tử)

+ Có những văn bản văn học là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử xã hội (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi)

-Nội dung 2: Cấu trúc của văn bản văn học

II. Cấu trúc của văn bản nghị luận

1. Tầng ngôn từ – từ ngữ âm đến ngữ nghĩa:

– Đọc văn bản ta phải hiểu đúng (rõ) ngữ nghĩa và ngữ âm của các ngôn từ.(tức là hiểu các nghĩa: nghĩa tường minh→nghĩa hàm ẩn; từ nghĩa đen đến nghĩa bóng của từ ngữ, là hiểu các âm thanh gợi ra khi đọc, khi phát âm)

Ví dụ 2: Từ ngôi sao nghĩa là “tỏa sáng”, chúng ta có ngôi sao điện ảnh, ngôi sao ca nhạc…với hàm nghĩa khen ngợi, ngưỡng mộ.

– Tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần phải vượt qua để đi vào chiều sâu của văn bản.

2. Tầng hình tượng:

– Dùng ngôn từ nghệ thuật để xây dựng hình tượng

– Hình tượng trong văn bản được sáng tạo nhờ các chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng mà có sự khác nhau. Hình tượng văn học có thể là: hình ảnh thiên nhiên, sự vật, con người.

– Ví dụ: SGK

– VD: Hình ảnh thiên nhiên: sen, tùng, cúc, trúc, mai…

+ Sự vật: xe ô tô: Bài thơ về tiểu đội xe không kính…

+ Con người: anh thanh niên trong Lặng lẽ sa pa; cô gái thanh niên xung phong trong Những ngôi sao xa xôi; chị Dậu trong Tắt đèn…

3. Tầng hàm nghĩa:

– Trong TPVH: Từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng, dần dần tìm ra tầng hàm nghĩa (ý nghĩa ẩn kín, ý nghĩa tiềm tàng) của văn bản.

– Hàm nghĩa:

+ Điều nhà văn muốn tâm sự, những thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm về đạo đức xã hội, những hoài bão …

– Ví dụ: SGK

III. Từ văn bản đến tác phẩm văn học

– VBVH chỉ là hệ thống kí hiệu chưa tác động đến con người và xã hội.

– TPVH thể hiện mối quan hệ giữa độc giả với TP, giữa độc giả với nhà văn. Người đọc hiểu TP thì lúc đó mới tác động đến con người và xã hội

IV. Luyện tập

* Văn bản “Nơi dựa”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Bài thơ văn xuôi (có ý thơ, ngôn từ có nhịp điệu). Bài có 2 đoạn có cấu trúc tương tự nhau, gần như đối xứng với nhau:

– Câu đầu đoạn là câu hỏi của nhà thơ về 1 hiện tượng nhìn thấy trên đường

– Các câu tiếp diễn tả 2 nh n vật: nét mặt, đôi mắt, cử chỉ, cái miệng…

– Câu kết của mỗi đoạn vừa là câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn, suy nghĩ về nơi dựa

– Các nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản.

b. Hàm nghĩa những hình tượng: người đàn bà – em bé; người chiến sĩ – bà cụ già:

– Thông thường người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại.

– Nơi dựa ở đây là tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống

→ phẩm giá nhân văn của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại.

* Văn bản “Thời gian”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Hàm nghĩa của các câu:

– Câu 3, 4: Thời gian qua đi, những kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng, vô tăm tích. Như vậy cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà.

– Câu 5,6: sức sống mãnh liệt, tồn tại với thời gian của VHNT. NT đạt đến độ tuyệt vời sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian.

– Câu kết: đôi mắt người yêu – kỉ niệm tình yêu như giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành.

b. Ý nghĩa của bài thơ: Thời gian xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời con người. Duy chỉ có VHNT và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài.

* Văn bản “Mình và ta”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Chế Lan Viên dùng thơ để nói lên quan niệm của mình về VHNT:

– Câu thơ 1,2 nói mối quan hệ thân thiết giữa bạn đọc (mình) và người viết (ta). Chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng là chỗ sâu thẳm tâm hồn mà người viết tìm đến để khai thác, diễn tả.

– Vì mối quan hệ tương thông đó mà người viết mới có thể tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc, có thể sáng tác những tráng ca về đất nước

b. Câu 3,4: Chế Lan Viên nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến TPVH trong tâm trí người đọc. Viết không phải là nói hết, cạn lời, cạn ý. Nhà văn cần dành cho người đọc cơ hội tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy nghĩ rộng hơn thế giới NT được nói đến trong văn bản.

Theo chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học? trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!