Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Thạch Sanh # Top 4 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Thạch Sanh # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Thạch Sanh mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài Thạch Sanh nhanh nhất chỉ với 10 phút??? Trọn bộ các câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh trên lớp về tác phẩm Thạch Sanh??? Đúng vậy, tất cả sẽ có tại bài viết này của Toploigiai, mời các bạn cùng tham khảo

Soạn bài: Thạch Sanh (trong 10 phút)

Câu 1

– Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh:

– Là con của một gia đình nông dân tốt bụng, nghèo khó, sống bằng nghề kiếm củi.

– Ra đời là do ý định của Ngọc Hoàng.

– Bà mẹ mang thai nhiều năm mới sinh ra được Thạch Sanh.

– Được thần dạy cho võ nghệ và các phép thần thông.

⇒ Thạch Sanh có nguồn gốc cao quý, được sự dạy bảo của thần linh.

Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, nhân dân muốn:

+ Làm cho nhân vật trở nên hấp dẫn, tình tiết truyện li kì hơn.

+ Thạch Sanh có nguồn gốc cao quý, sống lương thiện, thể hiện quan niệm về người dũng sĩ là người phi thường, có nguồn gốc từ nhân dân và thần linh.

Câu 2

– Những thử thách của Thạch Sanh trước khi kết hôn với công chúa và phẩm chất bộc lộ qua các lần thử thách:

+ Bị mẹ con Lý Thông lừa đi canh miếu thế mạng, dùng võ công giết chết chằn tinh ⇒ Thật thà, coi trọng tình nghĩa, giỏi võ nghệ và dũng cảm.

+ Bị Lý Thông lừa xuống hang sâu cứu công chúa, dùng sức mạnh giết chết đại bàng, cứu công chúa, cứu con vua thủy tề ⇒ Lòng can đảm, tốt bụng, nghĩa hiệp.

+ Bị bắt vào ngục do bị hồn chằn tinh đại bàng hãm hại, dùng cây đàn giúp công chúa khỏi bệnh, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa ⇒ Khẳng định niềm tin của nhân dân vào các giá trị đạo đức của con người và ước mơ về lẽ công bằng ở đời.

Câu 3

– Sự đối lập giữa Lý Thông và Thạch Sanh:

Câu 4

– Ý nghĩa của niêu cơm và tiếng đàn:

– Là tiếng đàn công lý (Giúp Thạch Sanh giải oan và vạch mặt kẻ có tội).

– Minh chứng cho tài năng (tiềm lực sức mạnh của nhân dân), khẳng định tư tưởng yêu hòa bình của nhân dân làm nên kết thúc có hậu .

– Tiếng đàn tượng trưng cho sức mạnh của chính nghĩa. (Tiếng đàn khiến cho 18 nước chư hầu xin đầu hàng).

⇒ Tiếng đàn nói lên tình cảm, sức mạnh và sự độ lượng của Thạch Sanh, đồng thời tiếng đàn là vũ khí đặc biệt để cảm hóa kẻ thù, cảm hoá những kẻ hiếu chiến.

Câu 5

– Qua kết thúc của truyện, nhân dân muốn thể hiện sự công bằng ở đời: cái ác bị trừng phạt và cái thiện sẽ được đền đáp xứng đáng. Đây là kết thúc rất phổ biến trong truyện cổ tích.

Một số truyện có kết thúc tương tự như: Sọ Dừa, Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Lấy vợ Cóc, Lấy chồng Dê…

Câu 2

Kể diễn cảm truyện Thạch Sanh.

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Thạch Sanh

Văn bản “Thạch Sanh” có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Truyện kể về người dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu người bị hài, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa và chống lại quân xâm lược.

Truyện thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, cồn lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu hòa bình của nhân dân ta.

Văn bản “Thạch Sanh” thuộc phương thức biểu đạt nào?

Trả lời:

Phương thức biểu đạt của truyện: tự sự.

Văn bản “Thạch Sanh” được kể theo vai nào?

Trả lời:

Truyện được kể theo ngôi thứ 3, tức là vai của người kể chuyện.

Trong văn bản “Thạch Sanh”, sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có gì khác thường? Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy theo em nhân dân muốn thể hiện điều gì?

Trả lời:

Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có sự khác thường là:

– Do Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con.

– Vừa khôn lớn, Thạch Sanh mồ côi, phải sống trong túp lều cũ dưới gốc đa làm nghề đốn củi.

– Thạch Sanh được thiên thần dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.

Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh với những chi tiết khác thường, nhân dân đã tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện qua sự khởi đầu kì lạ. Thạch Sanh là con của người dân thường, mồ côi và sống cuộc sống nghèo khổ. Tuy nhiên điều đó không làm người ta hèn nhát mặc cảm mà Thạch Sanh đã mang trong mình dòng máu nam nhi của người dũng sĩ. Nghèo khổ vẫn nghĩa hiệp là điều nhân dân muốn gửi gắm ở Thạch Sanh.

Trong truyện “Thạch Sanh”, trước khi được kết hôn với công chúa thì Thạch Sanh đã phải trải qua những thử thách như thế nào?

Trả lời:

Trước khi kết hôn với công chúa, Thạch Sanh đã phải trải qua nhiều thử thách cam go, ác liệt:

– Chém chăn tinh, trừ hại cho dân, thu được bộ cung tên vàng.

– Diệt đại bàng, cứu công chúa.

– Diệt hồ tinh, cứu thái tử con vua Thủy Tề, được nhà vua tặng cây đàn thần.

– Đuổi quân xâm lược mười tám nước chư hầu nhờ tiếng đàn và niêu cơm kì diệu.

Thạch Sanh đã bộc lộ những phẩm chất gì qua những lần vượt qua thử thách trong truyện “Thạch Sanh”.

Trả lời:

Qua thử thách, Thạch Sanh đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp. Đó là sự chất phác, thật thà, vị tha, đặc biệt là sự dũng cảm và tài năng khác người. Đồng thời cũng thể hiện sự nghĩa khí, luôn đấu tranh chống lại cái ác.

Hãy chỉ ra sự đối lập trong truyện “Thạch Sanh” giữa hai nhân vật Thạch Sanh và Lí Thông.

Trả lời:

– Hình tượng nhân vật Thạch Sanh và Lí Thông đại diện cho hai thái cực thiện và ác, chính nghĩa và gian tà.

– Sự chiến thắng của Thạch Sanh đối với Lí Thông là sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện đối với cái ác, cái xấu.

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Lão Hạc

Soạn bài: Lão Hạc (trong 10 phút)

– Phần 2 (Không! Cuộc đời … hết): cái chết đau đớn của lão Hạc

Câu 1

Diễn biến tâm trạng lão Hạc quanh việc bán chó:

+ Với lão, con chó Vàng là người bạn duy nhất vui vầy bên lão, lão chăm nó và thương nó lắm, ăn gì cũng chia sẻ cho nó

+ Sau trận đấu, lão yêu hẳn ra, những công việc nặng nhọc làm không còn sức để làm, việc nhẹ đàn bà trong làng làm cả, nghề vải lại mất, thành ra rỗi rãi, hoa màu bị bão phá sạch trơn, không có gì nương thân cả

+ Cả lão và chó đều đói, bất đắc dĩ, lão phải bán cậu vàng

+ Khi quyết định bán, lão tặc lưỡi cho qua, nhưng khi bán rồi lão mới đau khổ, ngậm ngùi, khóc huhu vì thương, vì xót

+ Mặt cố làm ra vui vẻ nhưng không được, lão luôn dằn vặt và cảm thấy tội lỗi với hành động đó của mình.

Câu 2

+ Nguyên nhân gây ra cái chết của lão Hạc là:

– Vì tình cảnh khốn khó của lão: đói khổ, không việc làm, túng bấn

– Vì muốn giữ trọn vẹn số tiền lão dành dụm và mảnh vườn cho con

– Cái chết giải thoát cho lão

+ Trước khi tìm đến cái chết, lão thu xếp nhờ ông giáo , qua đó ta thấy:

– Lão Hạc rất yêu thương con và là một người cha tốt, một người cha có trách nhiệm

Câu 3

Thái độ, tình cảm của ” tôi”

+ Người hàng xóm quan tâm, cảm thông trước sự đau khổ dằn vặt của lão Hạc khi lão bán chó

+ Người hàng xóm thương cảm và muốn giúp đỡ sự khốn khó của lão Hạc, được lão Hạc tin tưởng hết mực khi nhờ vả

+ Buồn bã, nghi ngờ và thất vọng khi biết Lão Hạc xin bả chó

+ Xót xa, cảm phục và kính trọng nhân cách của lão Hạc khi biết lão chọn cái chết bằng bả chó.

Câu 4

Khi nghe tin lão Hạc xin bả chó, “tôi” cảm thấy đầy thất vọng mà nói:”….”

Bởi:

+ ” Tôi” nghĩ rằng vì đói quá, không còn chút gì để ăn nên lão Hạc đánh liều giết chó bằng bã chó.

+ ” Tôi” thấy chán nản, buồn bã bởi một người vốn giàu có tình cảm, coi trọng phẩm cách và giàu lòng tự trọng ấy lại bị tha hoá nhân cách bởi cái đói

– Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc, ” tôi” lại buồn theo một nghĩa khác:

+ Nhận ra được sự hoài nghi trước đó của mình là sai

+ Buồn bởi đáng ra một người đầy tử tế như lão Hạc phải được hưởng hạnh phúc nhưng trớ trêu khi phải chịu cái chết đầy đau đớn và dữ dội như thế.

+ Buồn vì cái đói, cái nghèo đã khiến con người trở nên tàn nhẫn với cả chính bản thân mình.

Câu 5

Cái hay của truyện thể hiện qua việc cách miêu tả tâm lý của nhân vật và lối kể chuyện sâu sắc.

Việc tạo dựng tình huống truyện bất ngờ gây hấp dẫn, ngạc nhiên cho người đọc, đồng thời qua đó thể hiện rõ tính cách nhân vật, nêu lên tầng triết lý của tác phẩm.

Cách xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ, hành động và tính cách đầy đặc sắc, thể hiện được chiều sâu nội tâm của nhân vật.

Câu chuyện được kể qua cách nhìn của nhân vật ” tôi”- người hàng xóm giúp câu chuyện chân thực, khách quan hơn. Ngoài giọng kể của nhân vật ” tôi” còn có lời kể của người kể chuyện, vì vậy mà tác phẩm không bị đơn điệu.

Câu 6

+ Khi đánh giá con người phải nhìn một cách toàn diện, phải đặt mình vào họ để thấy được những khó khăn mà họ đang vấp phải để cảm thông với họ

+ Những điều tốt đẹp bên trong con người đôi khi bị những đói khổ, buồn đau và sự ích kỷ che lấp, bởi vậy cần phải ” cố tìm hiểu ” họ.

+ Cần phải trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người, đừng vì những ích kỷ cho bản thân và gia đình mình mà xa lánh, rời bỏ họ

+ Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần sự thấu hiểu và vị tha.

Câu 7

– Cuộc sống người nông dân trước cách mạng:

+ Bị áp bức, bóc lột bởi thế lực tàn bạo

+ Chịu cảnh đói khổ, bần cùng, bế tắc

– Phẩm chất của người nông dân trước cách mạng:

+ Lương thiện, biết lo lắng, sống có trách nhiệm

+ Chịu khó, chịu khổ, giàu tình thương

+ Có lòng tự trọng cao

+ Có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ, đấu tranh với những bất công cuộc đời.

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Lão Hạc

Văn bản “Lão Hạc” được viết theo thể loại nào?

Trả lời:

– Thể loại: truyện ngắn

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Tức Nước Vỡ Bờ

Soạn bài: Tức nước vỡ bờ (trong 10 phút)

– Phần 2 (còn lại): Cảnh chị Dậu đương đầu với cai lệ và tay sai

Câu 1

Tình thế của chị Dậu

+ Gia đình đang lâm vào cảnh cùng đường, khốn khổ, tiền nộp sưu không có

+ Anh Dậu vừa được thả về sau khi bị đánh bầm dập, không còn chút sức lực vì thiếu tiền sưu.

+ Chị đang đút cháo cho chồng, mong chồng có gì lót dạ

+ Chưa kịp đưa chồng đi trốn thì cai lệ đến

Câu 2

+ Cai lệ là một tên lính hầu hạ, phục vụ bọn quan nha, thực chất là những kẻ không có một chức trách gì quan trọng mà chỉ là một tay sai chuyên hành dân, đánh người

+ Hắn cùng người nhà lý trưởng xông thẳng vào nhà anh Dậu để bắt ép đòi bằng được tiền nộp sưu

+ Vào nhà chị Dậu một cách hống hách, lộng hành:

– Đập mạnh rồi xuống đất, hét to

– Trói người tàn bạo, hùng dữ, hắn sầm sập chạy đến bên anh Dậu mà trói mặc chị Dậu can ngăn

– Tát vào mặt người phụ nữ khốn khổ không do dự

– Bị ngã chỏng khoèo vẫn hét trói vợ chồng anh Dậu- trói người thành nghề của hắn

Ngôn ngữ, lời nói:

– Quát mắng, hầm hè, xưng hô “mày”-“tao” , giọng điệu hống hách, tỏ vẻ quyền uy

– Dù chị Dậu có hết lời van xin hắn vẫn ngang ngược, cố chấp, cắt ngang lời chị, không chút động lòng thương xót.

Tác giả đã khắc hoạ nhân vật cai lệ thông qua miêu tả về cả ngoại hình và hành động, đặc biệt là ngôn từ phát ra từ lời nói để thể hiện bản chất đê tiện và xấu xa của nhân vật cai lệ.

Câu 3

+ Khi cai lệ xông vào nhà, để bảo vệ chồng mình, chị van xin, nhún nhường, cố gắng trình bày những chật vật của mình để xin lòng thương từ chúng,mong chúng cho khất sưu. Giọng vừa run rẩy lo sợ, vừa chân thành, thống thiết. Khi tên cai lệ vẫn một mực hành động, hắn không hề thương cảm mà trái lại còn cố bắt trói anh Dậu thì chị Dậu liều mạng để chống cự lại hắn. Đưa ra lý lẽ để chống lại hành động tàn ác của chúng, đỉnh điểm là sự phản kháng mãnh liệt của chị Dậu khi đẩy ngã tên cai lệ chỏng quèo.

+ Miêu tả diễn biến tâm lý của chị Dậu là rất chân thực, rất hợp lý, cho thấy được đằng sau vẻ tiều tụy, yếu đuối là một bản lĩnh đặc biệt của người đàn bà đã chịu nhiều nỗi phẫn uất và ấm ức, sự phản kháng ấy là điều tất yếu.

Câu 4

Thể hiện ý nghĩa: khi những người nông dân bị đẩy đến đường cùng, áp bức đến cùng cực, họ sẽ không chấp nhận cam chịu, phản kháng quyết liệt và mạnh mẽ để bảo vệ chính những người mà mình thương yêu.

Câu 5

+ Tình huống: sau khi đã van xin, nhún nhường mà cai lệ nhất quyết không chịu tha, chị Dậu đứng ra chống lại bằng hành động cương quyết: đánh lại tên cai lệ

+ Miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ:

– Tên cai lệ: hống hách, thô bạo, đánh chị Dậu , xấn đến trói chồng chị, lời nói thô lỗ, tàn nhẫn, sức loẻ khoẻo, ngã lăn quay ra đất miệng vẫn lảm nhảm

– Chị Dậu: mặt xám lại, nghiến hai hàm răng mà nói trong sự phẫn uất, túm lấy cổ rồi đùi ra cửa , sức xô đẩy mạnh mẽ, nhanh nhẹn

Ngôn ngữ đối thoại thể hiện rõ sự căm tức của chị Dậu và sự hung tàn của kẻ quyền cao, qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ

+ Đây là một đoạn tuyệt khéo bởi khắc hoạ được hình ảnh chị Dậu nghị lực, đầy bản lĩnh, dám đương đầu với những kẻ chuyên quyền, những kẻ tay sai của thực dân.

Câu 6

Đó là một nhận xét hợp lý, bởi

Trong bất kì xã hội bào, nếu có áp bức thì chắc chắn sẽ phải có đấu tranh, đấu tranh là điều cần thiết nếu muốn phát triển. Những người nông dân, họ chịu sự bóc lột nặng nề nhất, tàn nhẫn nhất, họ có lòng căm thù nhất bởi những khổ đau mà xã hội thực dân gây ra, giai cấp nông dân cần tiên phong trong việc phản kháng, đấu tranh.

Những đàn áp của chế độ thực dân nếu muốn được giải quyết thì chỉ có con đường đấu tranh bạo lực là hợp lý nhất.

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Tức nước vỡ bờ

Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” thuộc thể loại nào?

Trả lời:

– Văn bản được trích trong tiểu thuyết “Tắt đèn”

Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” được kể theo ngôi thứ mấy?

Trả lời:

– Đoạn trích được kể theo ngôi thứ 3- chính là tác giả.

Hoàn cảnh nào dẫn đến các sự việc của nhân vật trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” ?

Trả lời:

– Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị đang rất nguy khốn: vụ thuế đang ở vào thời điểm gay gắt nhất, bọn tay sai đang dốc sức đốc thúc những người còn nợ sưu vì quan sắp về làng thu thuế. Nhà chị Dậu thuộc dạng “cùng đinh”, đã phải chạy vạy hết cách, kể cả là bán con, bán chó mà vẫn chưa đủ tiền nộp sưu. Anh Dậu bị bắt trói, cùm kẹp đến rũ rượi mới được thả về… Cả nhà đã nhịn đói mấy ngày, vừa mới được bà hàng xóm tốt bụng cho bát gạo để nấu cháo cầm hơi…

– Khi bọn cai lệ, người nhà lí trưởng xông vào, chị Dậu bị đẩy vào một tình thế vô cùng nguy cấp: không có cách gì chạy tiền nộp sưu mà nếu để anh Dậu bị bắt trói một lần nữa thì mạng sống khó mà giữ được… Hoàn cảnh bế tắc như không lối thoát.

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

Soạn bài: Kiều ở lầu Ngưng Bích (trong 10 phút)

– Không gian và cảnh vật:

+ Núi xa

+ Tấm trăng gần

+ Cát vàng cồn nọ

+ Bụi hồng dặm kia

– Thời gian:

+ Mây sớm

+ Đèn khuya

– Tâm trạng: cô đơn, buồn tủi của Kiều

Từ ngữ diễn tả: “Nửa tình nửa cảnh – như chia tấm lòng”

Câu 2

a. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng mình, nàng Kiều tha thiết nhớ tới Kim Trọng. Theo dòng nỗi xúc động của mình, nàng nhớ đến cha mẹ. Nỗi nhớ ấy là hợp lý, bởi vì với người thương của mình là chàng Kim đã bao ngày xa cách mà nàng chưa gặp được, Kiều nhớ và lo lắng không biết Kim Trọng khi nghe tin nhà nàng gia biến sẽ ra sao, lời thề mà hai người hứa hẹn nàng cũng không giữ trọn khiến nỗi dằn vặt càng lớn. Còn với cha mẹ, nàng cũng đã cứu cha khi bán thân mình, nên với bớt đi phần nào nỗi lo lắng, song cũng vô cùng nhớ thương mọi người.

b. Nghệ thuật sử dụng:

+ Hình ảnh:

– Nhớ người yêu: dưới nguyệt, chén đồng; tấm son; tin sương: Những kỉ niệm, nỗi mong nhớ và tấm lòng son sắt thủy chung cùa nàng

– Nhớ cha mẹ: quạt nồng ấp lạnh; tựa cửa; Sân Lai; gốc tử…: hình ảnh tình mẫu tử với công lao to lớn, sự hy sinh của cha mẹ khiến nàng cảm thấy thương nhớ khôn nguôi.

+ Từ ngữ :giàu sức biểu cảm thể hiện được nỗi đau đớn,dằn vặt, day dứt thương nhớ chàng Kim và nỗi xót xa, bùi ngùi, lăng lo cho cha mẹ.

c. Tấm lòng của Kiều

+Là một người yêu giàu lòng tự trọng, thủy chung một lòng

+Là người con gái hiếu thảo của gia đình

Câu 3

a.

+ Cảnh vật được khắc họa trong 8 câu cuối vừa hư, vừa thực, cảnh vật được khắc họa dựa trên tâm trạng nhân vật bởi vậy mà cảnh nhuốm màu tâm trạng.

Nét chung:

Cảnh vật đặc tả tâm trạng của nàng Kiều, mỗi cảnh là mỗi dòng cảm xúc, mỗi nỗi đắng cay, mỗi nỗi nhớ thương da diết. Cảnh đượm buồn bởi thế gian vốn vẫn vậy “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Nét riêng:

+ Trông cánh buồm xa nàng nhớ về quê hương, cha mẹ mình

+ Trông cánh hoa trôi man mác nàng nhớ thương người tình Kim Trọng

+ Thấy dáng cỏ buồn, gió cuốn, nghe tiếng sóng quanh mình nàng đau đớn, tủi khổ cho số phận, thân phận bèo bọt của mình.

b. Cách dùng điệp ngữ:

Điệp ngữ “Buồn trông”:

+ Được lặp lại 4 lần

+ Tác dụng: khắc họa tâm trạng đầy xót xa, buồn thương của Kiều. Nỗi buồn ấy như những đợt sóng lòng cứ tuôn trào trong trái tim đầy tổn thương của nàng.

Luyện tập Câu 1

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình :

+ Là nghệ thuật mượn cảnh nói tình. Thông qua cảnh vật mà tâm trạng của các nhân vật được thể hiện, nỗi đau dù không diễn tả trực tiếp mà người đọc vẫn cảm nhận được những cung bậc cảm xúc của nhân vật qua cảnh.

+Cảnh vật thông qua ngôn ngữ trở thành một phương tiện nghệ thuật.

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Kiều ở lầu Ngưng Bích

Nêu vị trí của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong tác phẩm “Truyện Kiều”.

Trả lời:

– Đoạn trích nằm ở phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc. Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, phẫn uất, nàng định tự vẫn, Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải đưa nàng ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích với lời hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế nhưng thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn

Trình bày bố cục của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

Trả lời:

Bố cục:

– 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Thúy Kiều

– 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương Kim Trọng và nhớ thương cha mẹ của Kiều

– 8 câu cuối: Tâm trạng đau buồn và dự cảm trước tương lai sóng gió

Nghệ thuật của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

Trả lời:

Những giá trị nghệ thuật làm nên thành công của đọan trích: thể thơ lục bát cổ truyền, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế kết hợp các biện pháp tu từ quen thuộc, điệp ngữ “buồn trông”…

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc kiểu văn bản nào?

Trả lời:

Kiểu văn bản: truyện thơ Nôm viết theo thể thơ lục bát.

Nội dung chính của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là gì?

Trả lời:

Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

Kể lại đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”. Trả lời:

Từ một thiếu nữ tài sắc sống trong cảnh “êm đềm trước rủ màn che”, sau khi tự nguyện bán mình để cứu cha, tôi rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú Bà mụ chủ lầu xanh. Do chưa ép được tôi tiếp khách làng chơi, Tú Bà đưa tôi ra ở lầu Ngưng Bích để xoa dịu và thực hiện âm mưu mới..

Lầu Ngưng Bích thật thơ mộng, nhưng lại hoang vắng đến rợn người. Ngồi trên lầu cao, tôi nhìn phía trước chỉ thấy núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như “bụi hồng” nhỏ bé. Cả một không gian mênh mông, hoang vắng không một bóng người tôi càng thấy cô đơn, trơ trọi. Trong cái không gian rợn ngợp và thời gian dài dặc, quẩn quanh “mây sớm đèn khuya” gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến tôi càng thấy “bẽ bàng” chán ngắt, buồn tủi.. Tôi đau buồn, xấu hổ, tủi thẹn với thiên nhiên, với lòng mình, với những người thân yêu. Tôi chẳng biết tâm sự cùng ai. Sớm và khuya, ngày và đêm tôi thui thủi một mình nơi đất khách quê người, chỉ còn biết làm bạn với mây và đêm.

Tôi nhớ tới Kim Trọng, nhớ tới quãng thời gian hạnh phúc bên nhau, nhớ đến những lới thề nguyền dưới ánh trăng vằng vặc. Tôi dường như đắm chìm trong tâm trạng nhớ nhung. Tôi thương Kim Trọng đang mong chờ mình vô vọng, không biết tôi đã lỗi hẹn xưa. Nhưng thương chàng rồi lại thương mình. Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu, càng hiểu rằng tấm son mà tôi dành cho chàng Kim chẳng bao giờ nguôi ngoai. Không chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của tôi đến khi nào mới rửa cho được. Tôi đau đớn xót xa ân hận, tủi hổ.

Rồi tôi nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng trông, thương cho cha mẹ ngày càng già, day dứt không được ở cận kề chăm sóc. Nỗi xót thương da diết và day dứt trong tôi khôn nguôi vì không thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu.

Tôi nhớ thương cha mẹ, quê hương mong ước có ngày đoàn tụ và trông ra cửa bể lúc chiều hôm. Không gian mênh mông và thời gian buồn bã. Giữa khung cảnh ấy chỉ có một con thuyền vô định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong lòng tôi nỗi buồn về thân phận trôi nổi của tôi không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra sao.Tôi đau đớn cho thân phận của mình và đưa mắt nhìn bãi cỏ trước lầu. Cả nội cỏ trải ra mênh mông một màu vàng úa gợi tới sự héo tàn, buồn bã. Màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây không phải màu xanh của sự sống của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết bao giờ mới kết thúc. Cảnh mờ mịt cũng giống như tương lai mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của tôi. Và tôi nghe con sóng nổi lên ầm ầm sau cơn gió. Âm thanh của tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội va vào vách đá như đang ở dưới ngay dưới “ghế ngồi” của tôi. Một nỗi buồn mênh mông như đè nặng, bao quanh lấy tôi. Nhìn đâu tôi cũng thấy buồn, cảnh vật dù có đổi thay nhưng nỗi buồn của tôi thì như cố định. Tôi cảm nhận được những gì sẽ đến với mình như một định mệnh không sao thoát ra được.

Em hãy nhận xét về trình tự thương nhớ của Thúy Kiều trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”. Theo em thứ tự đó có hợp lý không?

Trả lời:

Trình tự thương nhớ của Thúy Kiều: nhớ Kim Trọng trước, sau đó nhớ cha mẹ. Theo nhiều nhà hủ nho thì như vậy là không đúng với truyền thống dân tộc, thật ra lại là rất hợp lý với tâm lý của Thúy Kiều lúc bấy giờ.

– Kiều bán mình chuộc cha mẹ và em là đã thể hiện chữ hiếu của bản thân với công lao cha mẹ, nên nàng phần nào đỡ day dứt.

– Đối với Kim Trọng, Kiều nhận thấy mình như một kẻ phụ tình, không đền đáp được tình cảm và tấm lòng của người yêu.

“Người tựa cửa hôm mai” được nói tới trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là ai? Những suy nghĩ của nàng Kiều về người đó được thể hiện như thế nào?

Trả lời:

“Người tựa cửa hôm mai” được nói tới trong đoạn thơ trên chính là cha mẹ Kiều.

– Kiều cảm thấy đau đớn, xót xa khi tưởng tượng ở quê nhà, cha mẹ và nàng vẫn tựa cửa ngóng đợi tin tức về nàng.

– Nàng xót thương, cảm thấy day dứt khi không thể “quạt nồng ấp lạnh” phụng dưỡng song thân.

Trong đoạn cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tác giả sử dụng điệp từ “buồn trông” có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu, khắc họa nỗi buồn trông ra bốn phía, ngóng đợi những thứ xa xôi, mơ hồ làm thay đổi hiện tại bế tắc.

– Buồn trông cái thảng thốt, lo âu, mỗi sợ hãi của người con gái non nớt khi lạc vào cuộc đời ngang trái.

– Cụm từ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với những sắc thái cao độ khác nhau.

– Điệp ngữ lại kết hợp với các từ láy chủ yếu là từ láy tượng hình, dồn dập, tạo nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày càng dâng kín bủa vây lấy Kiều.

– Điệp ngữ tạo nỗi buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.

Ghi lại các từ láy có trong phần cuối của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” và cho biết dụng ý nghệ thuật của chúng.

Trả lời:

Các từ láy được sử dụng trong bài: man mác, thấp thoáng, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm.

+ “thấp thoáng”:gợi tả sự nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của ánh mặt trời sắp tắt.

+ “man mác”:sự chia ly, cách biệt, khi Kiều càng ngày càng thấy bản thân lênh đênh, vô định, ba chìm bảy nổi ba chìm sóng nước.

+ “xanh xanh”, “ầm ầm”: chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đang đổ dồn tới đè nặng lấy tâm trạng và kiếp người nhỏ bé của Kiều.

Qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, em hãy nhận xét tình cảm của tác giả đối với Thúy Kiều.

Trả lời:

– Tác giả xót thương trước thân phận và hoàn cảnh của Kiều. Tác giả tái hiện chân thực nỗi đau, nỗi buồn và sự tuyệt vọng của Kiều trong những ngày tháng vô định, mù mịt, không có tương lai.

– Tác giả thấu hiểu cặn kẽ nỗi cô đơn, buồn tủi mà Kiều đang phải đối mặt, vì thế mà ông có thể diễn tả thông qua hình ảnh của ngoại cảnh nhưng chạm tới được dụng ý nghệ thuật của mình.

– Cảnh thiên nhiên trong bài cũng chính là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc chân thật của mình.

Qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, em hãy so sánh hai câu thơ của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời” và câu “Buồn trông nội cỏ rầu rầu”.

Trả lời:

– Câu thơ: Cỏ non xanh tận chân trời là câu thơ trong đoạn trích Cảnh ngày xuân, diễn tả hình ảnh đẹp đẽ về sức sống của mùa xuân. Màu xanh của cỏ non ngút ngàn tới chân trời, mở ra không gian khoáng đạt, giàu sức sống.

– Câu thơ: Buồn trông nội cỏ rầu rầu.

+ Nội cỏ “rầu rầu” là hình ảnh “sắc xanh héo úa” mù mịt, nhạt nhòa trải dài từ chân mây tới mặt đất, không còn cái “xanh tận chân trời” như sắc cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm.

+ Màu xanh của sự héo tàn gợi cho Kiều một nỗi nhàm chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô đơn, quạnh quẽ vô vọng vì sống cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày sống vô vị tẻ nhạt không biết kéo tới bao giờ.

Phân tích biện pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả Nguyễn Du trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

Trả lời:

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong đoạn thơ cuối bài (8 câu cuối) chính là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển.

– Để diễn tả tâm trạng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển để khắc họa tâm trạng của Kiều trong lúc bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

– Mỗi biểu hiện của cảnh chính là ẩn dụ về tâm trạng con người, mỗi một cảnh khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau trong khi nỗi buồn ấy lại ẩn chứa tâm trạng.

– Thông qua điệp từ “buồn trông” kết hợp cùng với hình ảnh đứng sau và hệ thống các từ láy tượng hình, gợi sự dồn dập, chỉ có một từ tượng thanh ở cuối câu tạo nên nhịp điệu diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng lên, lớp lớp nỗi buồn vô vọng, vô tận.

Hoàn cảnh, không gian sống của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích được tác giả miêu tả như thế nào?

Trả lời:

4 câu thơ đầu: bức họa về hoàn cảnh, không gian nơi Thúy Kiều ở

– Khung cảnh thiên nhiên được miêu tả là khung cảnh trước lầu Ngưng Bích qua điểm nhìn từ trên cao, từ tâm trạng của Kiều

– “Khóa xuân”: khóa kín tuổi xuân, ở nơi đây, con người đã chẳng còn mong chờ đến tuổi thanh xuân nữa

– “Non xa- trăng gần” đối nhau: tạo không gian xa rộng, nơi đây Kiều không có một người thân quen

– Tác giả sử dụng từ ghép “bốn bề” đứng cạnh từ láy “bát ngát” gợi không gian rộng lớn không một bóng người,

– Cảnh vật vốn có đường nét, màu sắc nhưng lại không đẹp, đã vậy còn gợi cảm giác cô đơn, rợn ngợp

⇒ Ở đây tác giả sử dụng vô cùng thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình.

Các dạng đề tác phẩm: Kiều ở lầu Ngưng Bích

1. Dạng đề 2-3 điểm

Đề 1: Chép lại 8 câu thơ cuối trong đoạn trích : ” Kiều ở lầu Ngưng Bích” và nêu cảm nhận về nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong đoạn thơ.

Trả lời:

– Chép đúng nội đúng 8 câu thơ.

– Phần cảm nhận:

+ Mở đoạn: Giới thiệu nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

+ Thân đoạn: cảm nhận về nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong đoạn thơ.

+ Kết đoạn: Đánh giá chung về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả.

Đề 1: Cảm nhận của em về tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Du.

Trả lời:

a. Mở bài: Giới thiệu chung về đoạn trích (Đoạn thơ hay nhất biểu hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự sự, tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ độc thoại thể hiện nỗi lòng và tâm trạng của nhân vật Thuý Kiều)

b. Thân bài:

* Tâm trạng của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:

– Đó là tâm trạng cô đơn buồn tủi, đau đớn xót xa

– Nàng nhớ đến Kim Trọng, thương chàng.

– Nàng thương cha mẹ già thiếu người chăm sóc.

– Nàng nghĩ về hiện tại của bản thân thì thấy buồn dâng lớp lớp như tâm trạng ngổn ngang trước một tương lai mờ mịt, bế tắc.

* Nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du:

– Nhà thơ sử dụng ngoại cảnh để tả tâm cảnh.

– Vừa tạo ra sự đối lập Thiên nhiên rộng lớn – con người nhỏ bé cô đơn vừa tạo ra sự tuơng đồng : cảnh ngổn ngang – tâm trạng ngổn ngang, cảnh mờ mịt nhạt nhoà – tâm trạng u buồn, bế tắc.

– Nguyễn Du sử dụng điệp ngữ, các từ láy tạo nên sự trùng điệp như nỗi lòng của Kiều đang “Lớp lớp sóng dồi”

c. Kết bài:

– Khẳng định nghệ thuật vịnh cảnh ngụ tình đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du.

– Xót thương số phận tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều.

– Căm ghét xã hội phong kiến xấu xa, thối nát, tàn bạo.

Đề 2: Nêu cảm nhận của em về số phận của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ xã hội phong kiến thông qua hình ảnh Vũ Thị Thiết – (Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ) và Thuý Kiều – (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

Trả lời:

Mở Bài:

– Nhấn mạnh về số phận bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam xưa.

– Giới thiệu hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Truyện Kiều (Nguyễn Du).

Thân bài:

– Số phận bi kịch của người phụ nữ xưa:

+ Đau khổ, bất hạnh, oan khuất tài hoa bạc mệnh. Hồng nhan đa truân.

– Không được sum họp vợ chồng hạnh phúc, một mình nuôi già, dạy trẻ, bị chồng nghi oan, phải tìm đến cái chết, vĩnh viễn không thể đoàn tụ với gia đình chồng con… – Nàng Vũ Thị Thiết.)

– Số phận Vương Thuý Kiều: Bi kịch tình yêu, mối tình đầu tan vỡ, phải bán mình chuộc cha, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần ( Hai lần tự tử, hai lần đi tu, hai lần phải vào lầu xanh, hai lần làm con ở) quyền sống và quyền hạnh phúc bị cướp đoạt nhiều lần…).

+ Cảm thương xót xa cho cuộc đời của những người phụ nữ xưa. Căm giận xã hội phong kiến bất công tàn bạo đã trà đạp lên nhân phẩm cuộc đời họ…

– Vẻ đẹp, nhân phẩm của họ:

+ Tài sắc vẹn toàn:

+ Chung thuỷ son sắt (Vũ Thị Thiết)

+ Tài sắc hiếu thảo nhân hậu, bao dung khát vọng tự do công lý và chính nghĩa (Thuý Kiều).

Kết bài:

– Nêu cảm nhận bản thân. (Xót xa thương cảm) .

– Bày tỏ thái độ không đồng tình, lên án chế độ xã hội phong kiến bất công vô nhân đạo xưa.

– Khẳng định sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa hôm nay…

Đề 3: Cho đoạn thơ sau:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Chân trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

a. Em hãy nêu nội dung của đoạn thơ trên?

Trả lời:

Đoạn trích diễn tả nỗi nhớ thương cha mẹ và người yêu của Thúy Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

b. Cụm từ “tấm son” có nghĩa gì?

Trả lời:

“Tấm son” là từ ngữ dùng để chỉ tấm lòng son sắt, thủy chung, khôn nguôi nhớ về Kim Trọng của Thúy Kiều.

Cũng có thể Kiều đang cảm thấy tủi hờn, nhục nhã khi tấm lòng son bị vùi dập, hoen ố, không biết gột rửa thế nào cho hết.

c. Nêu dụng ý nghệ thuật của tác giả khi sử dụng từ “tưởng” và “xót” trong đoạn thơ trên.

Trả lời:

– Từ “tưởng” gợi lên được nỗi lòng khắc khoải, nhớ mong về người cũ tình xưa của Thúy Kiều. Trong lòng nàng luôn thường trực nỗi nhớ người yêu đau đớn, dày vò tâm can.

– Từ “xót” tái hiện chân thực nỗi đau đớn đến đứt ruột của Kiều khi nghĩ về cha mẹ. Nàng không thể ở cạnh báo hiếu cho cha mẹ, nàng đau đớn tưởng tượng ở chốn quê nhà cha mẹ đang ngóng chờ tin tức của nàng.

d. Thành ngữ nào được sử dụng trong đoạn trích trên?

Trả lời:

Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” được sử dụng nhằm nhấn mạnh nỗi đau xót dày xé tâm can của Kiều khi lo lắng nghĩ về cha mẹ. Nàng băn khoăn không biết cha mẹ có được phụng dưỡng, chăm sóc chu đáo không.

e. Em hãy nhận xét về trình tự thương nhớ của Thúy Kiều trong đoạn trích trên. Theo em thứ tự đó có hợp lý không?

Trả lời:

Trình tự thương nhớ của Thúy Kiều: nhớ Kim Trọng trước, sau đó nhớ cha mẹ. Theo nhiều nhà hủ nho thì như vậy là không đúng với truyền thống dân tộc, thật ra lại là rất hợp lý.

+ Kiều bán mình chuộc cha mẹ và em là đã thể hiện sự hiếu đễ của bản thân với công lao cha mẹ, nên nàng phần nào đỡ day dứt.

+ Đối với Kim Trọng, Kiều nhận thấy mình như một kẻ phụ tình, không đền đáp được tình cảm và tấm lòng của người yêu.

g. “Người tựa cửa hôm mai” được nói tới trong đoạn thơ trên là ai? Những suy nghĩ của nàng Kiều về người đó được thể hiện như thế nào?

Trả lời:

“Người tựa cửa hôm mai” được nói tới trong đoạn thơ trên chính là cha mẹ Kiều.

– Kiều cảm thấy đau đớn, xót xa khi tưởng tượng ở quê nhà, cha mẹ và nàng vẫn tựa cửa ngóng đợi tin tức về nàng.

– Nàng xót thương, cảm thấy day dứt khi không thể “quạt nồng ấp lạnh” phụng dưỡng song thân.

h. Viết đoạn văn theo phương pháp diễn dịch nêu cảm nhận của em về tâm trạng của nhân vật Kiều trong đoạn thơ trên.

Trả lời:

Kiều một mình trơ trọi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng thì nỗi cô đơn của Kiều càng lúc càng dâng cao, và tâm trạng thương nhớ người yêu và người thân khắc khoải, da diết.

– Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng: Kiều luôn day dứt vì không thể đáp lại tình cảm và tấm lòng của Kim Trọng.

+ Nỗi nhớ về cảnh thề nguyền khiến Kiều thấy thương thân tủi phận, nàng thấy lại kỉ niệm thiêng liêng trong niềm nuối tiếc.

+ Thương xót, đau đớn nghĩ rằng Kim Trọng sẽ ngóng đợi khi không thấy Kiều.

+ Tấm lòng son sắt của nàng bị vùi dập, hoen ố không biết bao giờ gột rửa cho được.

→ Nỗi nhớ chàng Kim là nỗi nhớ da diết, đau đớn tới dày xé tâm can.

– Nỗi nhớ cha mẹ: thấy “xót” khi tưởng tượng cha mẹ vẫn ngóng đợi nàng.

+ Kiều tưởng tượng cha mẹ nơi quê nhà già yếu đi, không biết có ai chăm sóc chu đáo.

+ Mỗi khi nhớ về cha mẹ nàng luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dưỡng của cha mẹ.

→ Nỗi nhớ thương của Kiều nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng. Hoàn cảnh của nàng thật xót xa, đau đớn. Nàng đã quên đi nỗi khổ, thực trạng của bản thân để hướng về người thân. Trái tim của nàng giàu tình yêu thương và đức hi sinh.

⇒ Kiều là người chung thủy, người con hiếu thảo, một người giàu đức hi sinh, lòng vị tha cao cả, đáng trân trọng.

Đề 4: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xăm

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

a. Cảnh vật trong đoạn thơ được miêu tả theo những trình tự nào?

Trả lời:

Cảnh vật trong đoạn thơ được miêu tả theo trình tự từ xa tới gần.

Từ “cửa bể chiều hôm” tới “ghế ngồi”, bốn khung cảnh khác nhau:

+ Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển.

+ Những cánh hoa lụi tàn trôi man mác trên ngọn nước mới.

+ Nơi cỏ héo úa, rầu rầu.

+ Cảnh tưởng tượng sóng quanh ghế ngồi.

→ Diễn đạt nỗi buồn dâng lên đầy ắp, càng ngày như muốn nhấn chìm Kiều trước cuộc bể dâu.

b. Trong đoạn trích trên điệp từ “buồn trông” có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu, khắc họa nỗi buồn trông ra bốn phía, ngóng đợi những thứ xa xôi, mơ hồ làm thay đổi hiện tại bế tắc.

– Buồn trông cái thảng thốt, lo âu, mỗi sợ hãi của người con gái non nớt khi lạc vào cuộc đời ngang trái.

– Cụm từ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với những sắc thái cao độ khác nhau.

– Điệp ngữ lại kết hợp với các từ láy chủ yếu là từ láy tượng hình, dồn dập, tạo nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày càng dâng kín bủa vây lấy Kiều.

– Điệp ngữ tạo nỗi buồn trầm hùng, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.

c. Em hãy nêu tác dụng của hai câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Trả lời:

Câu hỏi tu từ: “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”

– Hình ảnh cánh buồm nhỏ, đơn độc giữa mênh mông sóng nước, cũng giống như tâm trạng của Kiều trong không gian thanh vắng ở hiện tại nghĩ tới tương lai mịt mù của bản thân.

+ Nàng cảm thấy lênh đênh giữa dòng đời, không biết ngày nào mới được trở về với gia đình, đoàn tụ với người thân yêu.

Câu hỏi tu từ: “Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Những cánh hoa trôi vô định trên mặt nước càng khiến Kiều buồn hơn, nàng nhìn thấy trong đó số phận lênh đênh, chìm nổi, bấp bênh giữa dòng đời ngang trái.

Kiều lo sợ không biết số phận của mình sẽ trôi dạt, bị vùi lấp ra sao.

d. Ghi lại các từ láy có trong đoạn thơ trên và cho biết dụng ý nghệ thuật của chúng.

Trả lời:

Các từ láy được sử dụng trong bài: man mác, thấp thoáng, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm.

– “thấp thoáng”: gợi tả sự nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của ánh mặt trời sắp tắt.

– “man mác”: sự chia ly, chia cách biệt, khi Kiều càng ngày càng thấy bản thân lênh đênh, vô định, ba chìm bảy nổi ba chìm sóng nước.

– “xanh xanh”, “ầm ầm”: chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đang đổ dồn tới đè nặng lấy tâm trạng và kiếp người nhỏ bé của Kiều.

e. Em hãy so sánh hai câu thơ của Nguyễn Du: Cỏ non xanh tận chân trời. Hãy chỉ ra nội dung của câu thơ đó với câu: Buồn trông nội cỏ rầu rầu.

Trả lời:

– Câu thơ: Cỏ non xanh tận chân trời là câu thơ trong đoạn trích Cảnh ngày xuân, diễn tả hình ảnh đẹp đẽ về sức sống của mùa xuân. Màu xanh của cỏ non ngút ngàn tới chân trời, mở ra không gian khoáng đạt, giàu sức sống.

– Câu thơ: Buồn trông nội cỏ rầu rầu.

Nội cỏ “rầu rầu” là hình ảnh “sắc xanh héo úa” mù mịt, nhạt nhòa trải dài từ chân mây tới mặt đất, không còn cái “xanh tận chân trời” như sắc cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm.

Màu xanh của sự héo tàn gợi cho Kiều một nỗi nhàm chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô đơn, quạnh quẽ vô vọng vì sống cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày sống vô vị tẻ nhạt không biết kéo tới bao giờ.

g. Phân tích hình ảnh ẩn dụ:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Trả lời:

– Nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Một cơn “gió cuốn mặt duềnh” là sự tưởng tượng của Kiều trước thực tại mù mịt, chênh vênh của Kiều.

– Âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập xuống cuộc đời nàng và còn tiếp tục đè lên kiếp người đè nặng lên trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công.

– Tất cả những đợt sóng đang gầm thét trực chờ nhấn chìm Kiều, nàng không chỉ buồn mà là sợ, kinh hãi trước khi rơi vào vực thẳm một cách bất lực.

Nỗi buồn đã lên tới đỉnh điểm khiến Kiều thực sự tuyệt vọng.

→ Cảnh vật được nhìn thông qua lăng kính tâm trạng của Kiều “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

h. Cảm nhận về nàng Kiều trong đoạn văn trên (khoảng 7 – 10 câu).

Trả lời:

Chỉ với 8 câu thơ tả thực cảnh nhưng thực chất là tâm cảnh đã nói lên sự vô định, buồn bã, nỗi lo âu kinh hãi dồn tới đỉnh điểm trong cảm xúc của Kiều. Hình ảnh cánh buồm xa xa nơi cửa biển là hình ảnh rất đắt khi thể hiện được nội tâm nhân vật Kiều. Cánh buồm nhỏ nhoi vô định cũng chính là hình ảnh Kiều vẫn lênh đênh giữa dòng đời không biết khi nào mới về đoàn tụ với gia đình. Tiếp nối là hình ảnh những cánh hoa tàn lụi trôi man mác trên mặt nước mới xa thì Kiều lại càng buồn hơn bởi nàng nhìn thấy thân phận vô định giữa dòng đời của mình. Hình ảnh nội cỏ rầu rầu như khắc họa sâu thêm nỗi buồn không lối thoát của Kiều. Nàng vô vọng vì những chuỗi ngày vô định xung quanh tẻ nhạt, không biết kéo tới bao giờ. Dường như nỗi buồn ngày càng tăng lên tới vô định, dồn dập. Nỗi buồn và sợ hãi dâng lên tột đỉnh, khiến Kiều rơi vào tuyệt vọng. Tất cả như muốn nhấn chìm, và dìm Kiều xuống tận đáy của sự đau khổ cùng cực.

i. Nhận xét tình cảm của tác giả đối với Thúy Kiều.

Trả lời:

Tác giả xót thương trước thân phận và hoàn cảnh của Kiều. Tác giả tái hiện chân thực nỗi đau, nỗi buồn và sự tuyệt vọng của Kiều trong những ngày tháng vô định, mù mịt, không có tương lai.

Tác giả thấu hiểu cặn kẽ nỗi cô đơn, buồn tủi mà Kiều đang phải đối mặt, vì thế mà ông có thể diễn tả thông qua hình ảnh của ngoại cảnh nhưng chạm tới được dụng ý nghệ thuật của mình.

Cảnh thiên nhiên trong bài cũng chính là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc chân thật của mình.

k. Phân tích biện pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả Nguyễn Du trong đoạn trích trên bằng đoạn văn tổng phân hợp có sử dụng phép thế và phép lặp (gạch chân phía dưới các phép liên kết đó).

Trả lời:

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong đoạn thơ cuối bài (8 câu cuối) chính là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển.

Để diễn tả tâm trạng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển để khắc họa tâm trạng của Kiều trong lúc bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

Mỗi biểu hiện của cảnh chính là ẩn dụ về tâm trạng con người, mỗi một cảnh khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau trong khi nỗi buồn ấy lại ẩn chứa tâm trạng.

Thông qua điệp từ “buồn trông” kết hợp cùng với hình ảnh đứng sau và hệ thống các từ láy tượng hình, gợi sự dồn dập, chỉ có một từ tượng thanh ở cuối câu tạo nên nhịp điệu diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng lên, lớp lớp nỗi buồn vô vọng, vô tận.

Bạn đang xem bài viết Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Thạch Sanh trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!