Xem Nhiều 2/2023 #️ Tác Phẩm Văn Học Và Quan Niệm Về Tác Phẩm Văn Học # Top 9 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tác Phẩm Văn Học Và Quan Niệm Về Tác Phẩm Văn Học # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tác Phẩm Văn Học Và Quan Niệm Về Tác Phẩm Văn Học mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân nhà văn hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống và con người, thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả trước thực tại. Đó là đơn vị độc lập cơ bản của văn học; là đơn vị sáng tạo, là phát ngôn phức hợp của nhà văn; là sự phản ánh, khúc xạ, âm vang của đời sống hiện thực; là chỉnh thể trung tâm của hoạt động văn học; là đối tượng thưởng thức, tiếp nhận của người đọc. Bản chất, đặc trưng, thuộc tính của văn học đều biểu hiện tập trung ở tác phẩm văn học.

Tác phẩm văn học có thể tồn tại bằng hình thức truyền miệng hoặc hình thức văn bản nghệ thuật (được ghi giữ bằng văn tự), có thể được tạo thành bằng văn vần hoặc văn xuôi; nhưng bao giờ cũng thuộc về một thể loại văn học nhất định (trữ tình, tự sự, kịch), một thể tài văn học nhất định (thơ trữ tình, truyện ngắn, tiểu thuyết, bi kịch, hài kịch,…). Độ dài, dung lượng của tác phẩm văn học rất khác nhau, có thể là một câu (ca dao, tục ngữ, cách ngôn,…) đến hàng ngàn hàng vạn câu (sử thi, tiểu thuyết,…).

Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, là sự kết tinh quá trình tư duy nghệ thuật của người cầm bút. Một quá trình biến những cảm xúc, tình cảm, biểu tượng, ý nghĩ của nhà văn thành một sự thực văn hoá xã hội khách quan, một đối tượng để mọi người đọc và suy ngẫm. Với ý nghĩa đó, tác phẩm văn học là sự kết tinh của một quan hệ xã hội. Ở thời đại nào cũng vậy, tác phẩm văn học là một bằng chứng cụ thể, là tấm gương khách quan về tầm vóc tư tưởng và chiều sâu phản ánh, về trình độ nghệ thuật và tài năng sáng tạo của nhà văn.

Tác phẩm văn học do nhà văn sáng tạo ra; nhưng nó lại có đời sống độc lập tương đối với tác giả, có một sinh mệnh khác so với những gì diễn ra trong tâm trí của người đã sinh thành ra nó. Tuỳ thuộc vào giá trị tư tưởng, nghệ thuật và sự tiếp nhận của người đọc, tác phẩm văn học có thể sống ngắn hơn hoặc dài hơn so với cuộc đời của nhà văn. Những tác phẩm văn học lớn có thể được đón nhận ở những thời đại, những dân tộc khác nhau, có khả năng trường tồn cùng nhân loại. “Trong lịch sử, tác phẩm tỏ ra ngày càng cũ đi về chữ nghĩa, nhưng lại càng được cắt nghĩa mới về nội dung. Nhờ vậy, tác phẩm là trung tâm của một hệ thống quan hệ biến đổi ổn định: tác giả – tác phẩm – người đọc, và qua đó là hệ thống hiện thực được phản ánh – tác phẩm – hiện thực tiếp nhận, và đồng thời là văn hoá nghệ thuật truyền thống – tác phẩm – văn hoá nghệ thuật đương đại.

Tác phẩm văn học, sáng tác của một nhà văn, sáng tác của một trào lưu, nền văn học dân tộc đều được xem là những chỉnh thể nghệ thuật; trong đó, tác phẩm văn học là đơn vị độc lập cơ bản của văn học, là chỉnh thể nghệ thuật cơ bản nhất. Chỉnh thể là một tổng thể gồm các yếu tố có mối liên hệ mật thiết nội tại, tạo thành một khối thống nhất, bảo đảm cho sự hoạt động của nó cũng như mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh. Chỉnh thể không phải là sự tập hợp, tổng cộng giản đơn của các phương diện, yếu tố tạo nên tác phẩm văn học. “Chỉnh thể là sự liên kết siêu tổng cộng để tạo ra nội dung mới, chức năng mới vốn không có trong các yếu tố khi tách rời ra”. Và chỉ trong tính chỉnh thể thì nội dung và hình thức đích thực của tác phẩm văn học mới xuất hiện. Nhà văn tạo được tính chỉnh thể cho tác phẩm tức là đã làm cho tác phẩm trở thành một xã hội riêng, một thế giới nghệ thuật riêng, có quy luật nội tại riêng của nó. Nhà nghiên cứu, khi phân tích tác phẩm, nếu không có ý thức về tính chỉnh thể, không chú ý đến mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức của tác phẩm, thì dễ rơi vào võ đoán, máy móc, giản đơn.

Do tầm quan trọng đặc biệt của tính chỉnh thể của tác phẩm văn học, cho nên, nhiều nhà triết học, mỹ học và phê bình văn học lớn, từ xưa đến nay, đều quan tâm bàn luận về nó. Arixtot trong Nghệ thuật thi ca, khi nghiên cứu kịch và sử thi, đã xác định cơ sở của chỉnh thể tác phẩm là sự thống nhất hành động, là sự mô phỏng một hành động thống nhất. Đến thế kỉ XIX, từ quan niệm xem nghệ thuật là sự tự ý thức của ý niệm tuyệt đối, He ghen cho rằng tính cách là “hình thức chỉnh thể nội tại” của tác phẩm văn học, Belinxki khẳng định, tư tưởng mới là yếu tố quyết định của chỉnh thể tác phẩm. “Như một hạt giống vô hình – Belinxki viết – tư tưởng gieo vào tâm hồn nghệ sĩ, và từ mảnh đất màu mỡ ấy nó triển khai và phát triển thành một hình thức xác định, thành các hình tượng tràn đầy vẻ đẹp của sự đống, và cuối cùng nó là một thế giới hoàn toàn đặc thù, nhất quán… trong đó mọi bộ phận đều phù hợp với chỉnh thể, và mỗi bộ phận vừa tồn tại tự nó, vừa tạo thành một hình tượng khép kín, đồng thời vừa tồn tại như một bộ phận tất yếu đối với chỉnh thể, và thúc đẩy sự tạo thành chỉnh thể”. L.Tonxtoi lại đề cao thái độ đạo đức của nhà văn, coi đó là yếu tố then chốt của chỉnh thể tác phẩm: “Những người ít nhạy cảm về nghệ thuật thường nghĩ rằng tác phẩm nghệ thuật sở dĩ tạo thành một chỉnh thể là do trong đó có cùng một số nhân vật hoạt động, là do tất cả đều tạo nên một mối thắt nút hoặc miêu tả cuộc đời của một con người. Điều đó không đúng. Đó chỉ là cảm tưởng của người xem xét hời hợt. Chất xi măng kết dính tác phẩm nghệ thuật thành một khối và vì vậy mà sản sinh ra ảo giác về sự phản ánh sự sống, không phải là sự thống nhất của các nhân vật và tình huống, mà là sự thống nhất của một thái độ đạo đức độc đáo của tác giả đối với đối tượng.

Tác phẩm văn học là một hiện tượng phức tạp. Tính phức tạp của tác phẩm văn học không chỉ thể hiện ở cấu trúc nội tại mà còn thể hiện qua những mối quan hệ xã hội của nó, qua hệ giữa nó với tác giả, với hiện thực khách quan, với người đọc. Tác phẩm văn học là phát ngôn phức hợp của người sáng tác ra nó, là nơi kí thác nỗi niềm tâm sự, nơi khẳng định quan niệm nhân sinh, nơi thể hiện lí tưởng thẩm mỹ của nhà văn. Tác phẩm văn học còn là sự phản ánh, khúc xạ, vang hưởng của đời sống hiện thực, là tấm gương phản ánh diện mạo lịch sử của một thời kì; đồng thời cũng là nơi dự báo, dự cảm về tương lai. Tác phẩm văn học cũng là đối tượng tích cực của sự tiếp nhận, cảm thụ thẩm mĩ văn học. Trong thực tế thì những quan hệ phức tạp nói trên luôn luôn xuyên thấm lẫn nhau, không thể phân tách một cách giản đơn, máy móc.

Căn cứ vào chức năng giao tiếp và đời sống lịch sử, thì tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định, bất biến. Nó không phải là một đối tượng vật thể , tuy nó tồn tại thông qua những dạng vật chất như tiếng nói, chữ viết, trang sách in, quyển sách. “Tác phẩm văn học chủ yếu là một thực thể tinh thần, một tổng thể những hàm nghĩa phức hợp”, “tồn tại ở dạng khả biến”. Sự cảm thụ của độc giả, sự lí giải của giới nghiên cứu qua từng thời đại đều làm phát sinh những phán đoán, đánh giá ít nhiều khác nhau về nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn học. “Như vậy, có thể coi tác phẩm văn học như là sự thống nhất giữa các hàm nghĩa thẩm mỹ tư tưởng đã được mã hoá trong văn bản và những sự cảm thụ, lí giải bởi những thời đại và công chúng khác nhau; đây là sự thống nhất giữa cái tuyệt đối (mã hoá) và cái tương đối (sự giải mã bằng cách đọc, lí giải, cảm thụ).

Ý thức được tác phẩm văn học là một quá trình, có thể mở ra nhiều bình diện khảo sát, phân tích tác phẩm. Không chỉ là vấn đề sự tiếp nhận của độc giả, mà ngay cả quá trình hình thành, hoàn thiện tác phẩm, cũng cần phải chú ý, qua đó, thấy được sự vận động, phát triển trong ý thức nghệ thuật của nhà văn. Phân tích tác phẩm văn học, vì thế, có thể đối chiếu ý đồ sáng tác ban đầu và sự thực hiện, quá trình sửa chữa để hoàn thiện tác phẩm. Chẳng hạn, truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, lúc đầu, nhà văn đặt tên là Tiên sư thằng Tào Tháo! Trong nhật kí ngày 2-3-1948, Nam Cao viết: “Mấy ngày nghỉ tết, tôi viết một truyện cho đỡ nhớ. Truyện Tiên sư thằng Tào Tháo!. Sau tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn: Đôi mắt. Như vậy, Nam Cao đã có sự cân nhắc, lựa chọn để đặt nhan đề cho tác phẩm, với ý định, qua nhan đề, làm nổi bật nội dung tư tưởng của tác phẩm. Theo Đặng Minh Phương, bài thơ Xuân sớm của Tố Hữu, đăng trang trọng trên báo Nhân dân, số ra ngày 16-1-1966, có hai câu thơ: “Nghé con, mày đứng cho ngoan/ Chớ ăn mất lá hàng xoan mới trồng”. Có người góp ý, “e không đúng thực tế, vì trời sinh con nghé nó ngửi nó biết lá xoan đắng, nó không ăn”; “Phải chăng vì bí vần oan, cho nên bắt nghé ăn xoan mới trồng”. Mấy năm sau, bài thơ được in lại trong tập thơ Ra trận, câu thơ “Chớ ăn mất lá hàng xoan mới trồng” được sửa lại là: “Chớ xô bờ chuối bờ xoan mới trồng”. Nhà văn Anh Đức kể: ‘”Khi hoàn thành tiểu thuyết Hòn đất gửi ra Bắc, thì chỉ sau đó độ mươi ngày tôi nhận được một bức điện gửi vào nhận xét và góp ý để tôi chữa lại một số chỗ, mà về sau này tôi mới được biết trong đó có ý kiến của anh Tố Hữu, với một ý kiến quan trọng: “Không thể để cho bà Cà Sợi trực tiếp giết con mình tên là Xăm, dù đó là một tên ác ôn…”. Tôi đã chữa lại chi tiết này.”. Việc sửa chữa như vậy đã làm cho hình ảnh bà Cà Sợi không mất đi nhân tính của một bà mẹ, và cũng làm cho tư tưởng của tác phẩm sâu sắc hơn.

Một quan điểm đúng với bản chất, đặc trưng của văn học, cần chú ý cả hai phương diện nói trên. Văn học nằm trong nghệ thuật nói chung, là một hình thái ý thức xã hội đặc thù; đồng thời là nghệ thuật của ngôn từ. Nếu chỉ chú ý đến văn học là một ngành riêng, một lĩnh vực riêng của nghệ thuật – một hình tháu ý thức xã hội – thì quả là phiến diện, chưa chú ý đến chất liệu riêng của văn học. Văn học còn là nghệ thuật của ngôn từ nữa. Ngôn từ cũng tức là ngôn ngữ, đóng vai trò là phương tiện của ngành văn học. Tất cả các ngành, các lĩnh vực nghệ thuật, một sản phẩm đặc biệt của xã hội loài người, đều phải dùng đến một phương tiện nhất định. Chức năng của các ngành nghệ thuật gần gũi nhau, có thể giống nhau, thậm chí có thể là đồng nhất. Chẳng hạn, chức năng của các ngành văn học, hội hoạ, âm nhạc giống nhau: giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, giải trí,… Nhưng các ngành nghệ thuật, các lĩnh vực nghệ thuật đó lại khác nhau, phân biệt với nhau trước hết là ở các phương tiện mà ngành đó sử dụng và cách thức sử dụng, quan hệ xuất hiện trong khi sử dụng ngôn ngữ (phương tiện đó). Vì thế, trong nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học phải quan tâm, nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn đến vị trí, vai trò, cách thức sử dụng phương tiện đối với việc sử dụng chức năng của văn học. Phải chú ý đến phương diện ngôn ngữ trong việc thực hiện các chức năng của văn học.

Việc chú ý đến phương diện ngôn từ đã trở thành truyền thống trong việc thẩm bình văn chương ở Việt Nam. Ông cha ta, khi bình văn, bình thơ đều đặc biệt chú ý đến phương diện ngôn ngữ, đến “nhãn tự”, “thi nhãn”, đến “thần cú”, “cảnh cú”. Đến thời Pháp thuộc, do ảnh hưởng của khuynh hướng nghiên cứu phương Tây, trong nhà trường, nhiều giáo viên đã chú ý phân tích ngôn từ của tác phẩm, đem đến những cách lý giải hấp dẫn, giàu sức thuyết phục. Từ năm 1945 đến 1975, do hoàn cảnh đặc biệt của một đất nước có chiến tranh, giao lưu, tiếp xúc văn hoá chỉ thu hẹp ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc, truyền thống phân tích văn chương nói trên của ta có phần bị gián đoạn. Những nhà nghiên cứu, trong suốt thời gian dài, chỉ tập trung khám phá nội dung tư tưởng; vì quan niệm rằng, nếu đi sâu phân tích ngôn từ thì sẽ rơi vào chủ nghĩa hình thức. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã chỉ ra những hạn chế này của giới nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam trong một thời gian khá dài: “Phê bình của ta ngại nói đến hình thức. Người ta nói nhiều đến nhược điểm của thơ mới, còn khi nói đến ưu điểm, thì thường lẩn tránh hình thức, vì sợ xa vào chủ nghĩa hình thức… Nội dung tư tưởng Truyện Kiều hay đến đâu cũng là hay với thời đại, không thể so sánh với nội dung tư tưởng của thời đại chúng ta được. Cái còn lại ngày nay là tinh thần lao động nghệ thuật của ông và những thao tác mà ông đã làm”. Chỉ từ sau 1975, nhất là từ thời kì đổi mới (1986), giới nghiên cứu, phê bình văn học mới nhận thức lại, chú ý đến cả phương diện nội dung, cả phương diện nghệ thuật, trong đó có ngôn từ của tác phẩm. Theo GS Đỗ Hữu Châu, trong bài giảng chuyên đề Ngôn ngữ và văn học thì, ngôn ngữ tác phẩm, không chỉ là những âm, những từ, những câu, những biện pháp tu từ rời rạc riêng rẽ; và phân tích ngôn ngữ cũng không chỉ là việc đi tìm khám phá giá trị nội dung của từng yếu tố riêng rẽ đó. Nếu như, phân tích ngôn ngữ mà chỉ đi vào những yếu tố riêng rẽ, chỉ phân tích những phương diện nghệ thuật, thì thường gây ra cảm giác rời rạc. Mà nghệ thuật nào cũng có quy luật chung, có tính hệ thống, chứ không thể tủn mủn, rời rạc. Nói đến ngôn ngữ còn phải nói đến các quy tắc, các vận động điều khiển việc vận dụng ngôn ngữ. Với cách hiểu đó thì quá trình sáng tác của nhà văn cũng như cả cái quan hệ giữa tác giả và độc giả và những quá trình khác cũng là những quá trình ngôn ngữ . Văn học là một quá trình của ngôn ngữ, cho nên ngôn ngữ học chính là cơ sở cần thiết để phát hiện và lí giải các quy luật và hiện tượng văn học.

Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học

Việc làm Giáo dục – Đào tạo

Một tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Về nội dung, trong tác phẩm văn học mô phỏng lại cuộc sống, vẽ lên một bức tranh sống động về hoạt động của con người, con vật, đồ vật,… Thông qua bức tranh đó, người viết có thể gửi gắm, truyền đạt tới độc giả những tâm tư, tình cảm, tư tưởng và thể hiện được cả thái độ cá nhân trước những bất bình trong cuộc sống hiện thực. Nhân vật trong tác phẩm văn học không nhất thiết phải là người, nhà văn với trí sáng tạo của mình hoàn toàn có thể mượn hình ảnh con vật, đồ vật,… để phản ánh gián tiếp thực tại cuộc sống có thăng, có trầm, có vui vẻ, có hạnh phúc nhưng cũng có không ít bất hạnh, tủi nhục.

Cuộc sống hiện thực được phản ảnh trong tác phẩm văn học là cuộc sống đã thông qua tầm hồn nhân vật được phác họa lại bởi màu sắc văn học đặc sắc của người viết. Để rồi qua đó một thế giới đầy sống động được hé lộ, người đọc có thể cảm nhận, đôi khi còn bị cuốn vào vòng cảm xúc ấy. Chủ đề xuất hiện trong tác phẩm văn học đâu nhất thiết cứ phải là thực tế, không ai có thể ngăn cấm sự sáng tạo với những viễn tưởng thời Hy Lạp viết nên những câu chuyện khác thường về chúa trời, về bà tiên, ông bụt và cả những sự kiện lịch sử về lũ lụt thông qua câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh,…

Một tác phẩm văn học ra đời là đứa con tinh thần được thai nghén trong khoảng thời gian, trong đó đặt cả tâm huyết của nhà văn. Ở đó ta bắt gặp những cung bậc, tình cảm, trạng thái, cảm xúc mà thường vẫn gặp những đôi khi lại khó diễn tả được bằng lời,..

Về hình thức, tác phẩm văn học tồn tại có thể dưới nhiều phương diện ngôn ngữ: Là ngôn bản truyền miệng hoặc hình thức văn bản được ghi lại bằng văn tự cụ thể. Có thể được tạo thành bằng văn vần – những bài thơ hay văn xuôi với các thể loại nhất định như tự sự, trữ tình, kịch, nhật ký, tùy bút và ký hoặc một thể tài văn học nhất định như hài kịch, bi kịch, thơ trào phúng, thơ tự do, truyện tiếu lâm, truyện ngắn, tiểu thuyết,…

2. Đặc trưng của các tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học được phân biệt với những tác phẩm khác bởi nét đặc trưng nào?

Tác phẩm văn học là sự kết hợp giữa hiện thực đời sống và tâm tư, tình cảm người viết. Thông qua các ngôn từ trong tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ tái hiện lại được chi tiết đời sống mà mình cảm nhận được trực tiếp từ mắt thấy tai nghe mà qua đó còn truyền đạt tới xã hội một điều già đó mới mẻ, lớn lao hơn, có thể là một lời phê phán, một lời khuyên cho cách sống hiện đại, thay đổi những suy nghĩ lạc hậu cố thủ trong đầu của ai đó. Đặc trưng của một tác phẩm văn học được dùng để phân biệt với những nghệ thuật khác bằng những nét riêng biệt, nổi bật của nghệ thuật văn chương. Cái độc giả cần trong một tác phẩm văn học không phải là tường thuật lại cuộc sống hiện thực một cách khô khan, nhàm chán mà đã đi vào văn học thì tác phẩm đó phải có chất văn để họ không chỉ biết về cuộc sống lúc đó mà còn hiểu được cả bản chất của thời đại mà học chưa được trải qua hoặc đang được sống và cảm nhận.

Ngôn từ trong văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật đi vào lòng người, tồn tại dưới hai dạng là lời nói hoặc văn bản viết. Là ngôn ngữ quần chúng nhưng được cách điệu hóa nhằm tạo ra ý nghĩa thẩm mỹ chứ không giống ngôn từ ta thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày nhưng lại được bắt nguồn từ từ ngôn ngữ của quần chúng lao động. Từ lời nói thô mộc thông thường với mục đích giao tiếp để thông báo nhất thời bằng tâm hồn bay bổng, sức sáng tạo đa màu sắc, nhà văn đã nhào nặn và tái tạo lại nó trở thành ngôn ngữ nghệ thuật có tác dụng thể hiện cái vô cùng, vô tận của cuộc đời, của tâm hồn và của cả tâm tư con người một cách hình tượng.

Từ ngữ văn học không được lặp lại thường xuyên trong một tác phẩm văn học hoặc trong những tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả, chúng phải thường xuyên được làm mới nếu người viết văn không muốn độc giả của mình cảm thấy nhàm chán với lối viết “quanh năm chỉ có một”. Đó là lý do vì sao các tác phẩm của những nhà văn lớn tuy có cùng chung chủ để nhưng vẫn cho người đọc nhiều cảm nhận khác nhau bởi chúng tồn tại nhiều các viết, cách truyền đạt.

Đặc trưng của những tác phẩm văn học được thể hiện thông qua ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ văn học lại có tính khác biệt bởi những đặc điểm sau:

– Ngôn ngữ văn học có tính tự xác và tính luyện để diễn tả đúng chính xác cái hồn, cái thần của người chủ thể trong mỗi tác phẩm

– Ngôn ngữ văn học có tính hàm súc và đa nghĩa, điều này làm nên ý có tính cô đọc, không cần diễn đạt lan man những vẫn đảm bảo đủ ý truyền đạt.

– Ngôn ngữ văn học có tính biểu cảm. Thay lời muốn nói, trong tác phẩm văn học ngôn ngữ là thứ tiếng duy nhất mà nhà văn muôn liên kết nội dung câu chuyện với độc giả. Tính biểu cảm của ngôn ngữ văn học giúp người viết thể hiện được tâm trạng, tính cách suy nghĩ của nhân vật,… Sẽ là những đêm dài thao thức, nỗi băn khoăn hay đơn giản chỉ là một cử chỉ trên khuôn mặt như một nụ cười, giọt nước mắt,…

Việc làm Công chức – Viên chức

3. Thế nào là một tác phẩm văn học hay, theo các bạn?

Những tác phẩm văn học mang giá trị nhân văn sâu sắc của Việt Nam

Tác phẩm văn học nào được sinh ra đều hay đều ý nghĩa tùy vào cách mà độc giả cảm nhận mó và cách mà nhà văn truyền đạt nội dung, quan điểm về cuộc sống, về hiện thực,… cho đúng đối tượng độc giả. Vì vậy có thể rút ra quan điểm về tác phẩm văn học hay là tác phẩm đáp ứng được nhu cầu người đọc, giúp họ cảm nhận được nội dung chứ không phải chỉ người viết mới hiểu. Vậy quan điểm về một tác phẩm lớn có phải là tác phẩm văn học hay? Một tác phẩm văn học lớn được đánh giá là một tác phẩm không chỉ đem đến cho người đọc cái nhìn khái quát về thời cuộc mà còn cho ta hiểu thêm về lẽ đời, về con người về xã hội đang sống. Những tác phẩm ấy khiến độc giả phải suy ngẫm, thấu hiểu và thậm chí còn làm cho họ nhìn nhận lại bản thân thông qua những gì mà nhà văn viết, từ đó đọng lại trong tâm trí người đọc một cảm xúc nhất định. Rõ ràng tác phẩm văn học lớn đã hoàn toàn làm thỏa mãn được độc giả bởi vậy năm trong tác phẩm văn học hay có tác phẩm văn học lớn. Còn với tác phẩm khác thì sao?

Mỗi nhà văn khi sáng tác nghệ thuật, đặt bút từ những câu chữ đầu đầu tiên, đều tự đặt ra cho mình một trọng trách lớn lao, chịu trách nhiệm nuôi dưỡng nguồn sống cho những tác phẩm văn học sắp ra đời đồng thời tìm chỗ đứng cho mình trong lòng độc giả. Bằng những hình tượng văn học nhà văn dựng lên trong tác phẩm, độc giả đọc soi mình vào và tìm thấy những bài học có giá trị. Tức là cho họ thấy cái họ quan tâm, điều họ thắc mắc được lý giải đồng thời là những minh chứng thuyết phục họ. Chỉ cần tác phẩm văn học mang được thông điệp đẹp đẽ, cấp thiết mà nhiều người muốn nhận là nhà văn đã đem đến được cho đời một tác phẩm văn học hay để lại ấn tượng trong tâm trí người đọc.

Hình tượng văn học Việt Nam

– Văn bản học hay còn học là văn bản văn học là một loại hình sáng tác thể hiện dưới dạng văn bản nằm trong một hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ một bài viết nào được coi là có giá trị nghệ thuật hoặc trí tuệ. Văn học còn bao hầm cả các văn bản được nói ra hoặc được hát lên.

– Hình tượng văn học: là nét đặc trưng của các tác phẩm văn học kết hợp với ngôn ngữ nghệ thuật để mô phỏng lại hình ảnh của cuộc sống, của sự việc,… được thể hiện trong tác phẩm văn học. Một số ví dụ về hình tượng văn học mà nhà văn quan tâm lựa chọn trong tác phẩm văn học đã được ra đời như Chí Phèo, Nam Cao, Chị Dậu, Mị,… phân tích đặc điểm tính cách của những hình tượng này cho độ giả thấy được nét đặc trưng chung của một bộ phận con người thời bấy giờ, phản ánh bản chất cuộc sống lúc đó,…

Tóm Tắt Các Tác Phẩm Văn Học Lớp 12

Tài liệu ôn thi THPT quốc gia môn Văn

Tóm tắt các tác phẩm văn học lớp 12

Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông

I . Tác phẩm học chính khoá

Mẫu 1

Bản tuyên ngôn mở đầu bằng những câu trích dẫn từ “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ, ” Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Tiếp đó, bản tuyên ngôn lên án tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam trong đó hơn 80 năm chúng xâm lược chúng ta. Đó là tội ác về kinh tế , chính trị , văn hóa, tội bán nước hai lần cho Nhật. Bản tuyên ngôn nêu cao cuộc đấu tranh chính nghĩa và thắng lợi của nhân dân ta. Bản tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố quyền độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của toàn dân tộc.

Mẫu 2

Tuyên ngôn độc lập-văn kiện có ý nghĩa lịch sử sống còn với vận mệnh dân tộc. Nếu ở Mỹ có Tuyên ngôn độc lập năm 1776, ở Pháp có bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 thì Việt Nam có bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được tuyên bố ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình để xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định quyền tự chủ và vị thế của dân tộc ta trên thế giới, đó là mốc son chói lọi đánh dấu kỉ nguyên mới-kỉ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Tuyên ngôn độc lập được Bác triển khai theo ba nội dung rõ ràng. Phần mở đầu: Bác có đưa ra cơ sở cho bản Tuyên ngôn nói về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc dựa vào hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp-hai nước tư bản lớn trên thế giới-hai quốc gia xâm lược Việt Nam. Bác dùng những lí lẽ đó để làm bản lề vạch ra cho ta thấy những việc làm trái với tuyên ngôn của chúng. Phần nội dung: Những cơ sở thực tế đã được chỉ ra, đó là những tội ác của Pháp, chúng đã thi hành ở nước ta hơn 80 năm nay trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-giáo dục. Tất cả những điều đó đập tan luận điệu xảo trá của kẻ thù đã, đang và sẽ nô dịch nước ta trở lại. Phần kết luận: Lời tuyên bố đanh thép và khẳng định quyết tâm sắt đá giữ vững nền độc lập dân tộc. Tuyên ngôn độc lập đã hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh đồng thời cho thấy khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

2. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng):

Phần 1 : Đặt vấn đề cho bài viết. Tác giả nêu luận điển xuất phát: Phải có cái nhìn đúng về văn chương Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông. Cách nhìn đó là: ” Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường , nhưng con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thấy càng sáng.thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”

Phần 2 : Giải quyết vấn đề : Tác giả nêu các luận điểm bổ sung để chứng minh cho luận điểm xuất phát: cách nhìn đúng đắn đó được cụ thể hoá qua cách đánh giá (của tác giả) về:

+ Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu ( chủ yếu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

+ Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên – Tác phẩm phổ biến , đặc sắc của NĐC ( cả nội dung và nghệ thụât).

Phần 3 : Kết thúc vấn đề: (Luận điểm kết luận, cái đích của bài viết)

Đánh giá đúng vị trí của NĐC trong nền văn học dân tộc theo cách nhìn mới mẻ đã nêu ở phần đầu: ” NĐC là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao đại vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trân mặt trận văn hoá và tư tưởng”.

3. Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 (Cô-phi-an-nan)

1) Mở đầu :

Nhắc lại việc cam kết của các quốc gia trên thế giới để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS vào năm 2001 và Tuyên bố về cam kết phòng chống HIV/AIDS của quốc gia đó.

2) Nhìn lại tình hình thực hiện phòng chống HIV/AIDS:

Đã có một số dấu hiệu của chúng ta về nguồn lực, ngân sách, chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS.

Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành gay tử vong trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, cứ mỗi phút trôi qua có 10 người nhiễm HIV, và đại dịch này đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ , đang lan rông nhanh nhất ở chính khu vực mà trước nay hình như vẫn còn an toàn- đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ Châu Á, từ dãy núi U-ran đến Thái Bình Dương.

Không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra trong Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS và với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào năm 2005.

3) Nhiệm vụ cấp bách , quan trong hàng đầu là tích cực phòng chống AIDS

Phải nỗ lực thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết.

Phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động .

Phải công khai lên tiếng về AIDS

Không được kì thị và phân biệt đối xử đối với những người sống chung với HIV/AIDS.

Đừng một ai ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên cách bức tường rào ngăn cách ” giữa chúng ta và họ”.

Trong thế giới khốc liệt này không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giớio đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết. Có nghĩa là phải hành động để chống lại đại dịch AIDS đang đe doạ mọi người trên hành tinh này, không trừ một ai.

4) Kết thúc: Lời kêu gọi phòng chống HIV/AIDS:

Hãy sát cách cùng chúng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt nguồn từ chính các bạn.

4. Người lái đò sông Đà ( Nguyễn Tuân )

Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông đà vừa hung bạo trữ tình. Sông Đà có lúc dịu dàng như người phụ nữ kiều diễm.Nước sông Đà thay đổi theo mùa phản chiếu trời xuân nắng thu ” Mùa xuân dòn xanh ngọc bích,mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa ” .Dọc theo sông Đà,có lắm thác nhiều ghềnh,có đá dựng vách thành,có đá tảng,đá hòn bày thế thạch trận,tạo nên cửa sinh cửa tử.Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hình ảnh ông lái đò sông Đà. Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùng sông nước với thân hình cao to,nước da rám nắng. Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bó với dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó. Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từng vách đá, luồng nước, từng cửa sinh cửa tử do thế thạch trận tạo nên .Ông đã dùng kinh nghiệm nghề nghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm.Ông đã đưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống.

Sau khi vượt sông Đà, ông lái đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình,ông neo thuyền chỗ khúc sông bình lặng và nấu ống cơm lam, bàn tán về cá Anh Vũ cá dầm xanh.

5. Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Bài bút kí đã ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương gắn liền với xứ Huế mơ mộng đã đi vào lòng người và với truyền thống lịch sử xứ Huế. Lúc ở thượng nguồn, sông Hương có vẻ đẹp mãnh liệt và hoang dại , có nhiều ghềnh thác đáy vực bí ẩn. Có thể xem sông Hương như bản trường ca của rừng già Lúc về đồng bằng ,sông Hương thơ mộng làm say đắm lòng người.Hai bên bờ sông Hương chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên.Dòng sông mềm như tấm lùa uốn cong ,cảnh đẹp như bức tranh có đường nét,hình khối ” trôi đi giũa hai dãy đồi sừng sửng như thành quách “, ” cao đột ngột như VỌNG CẢNH, TAM THAI,LƯU BẢO “.Sông hương có vẻ đẹp da màu biến ảo : ” sớm xanh,trưa vàng ,chiều tím “

Lúc qua thành phố Huế, sông Hương ” trôi đi thực chậm “,chảy lặng lờ như điệu slow. Sông Hương ” đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya “.Trên sông vọng lại tiếng hát trong một khoang thuyền nào đó. Sông Hương mang vẻ đẹp vừa trữ tình, vừa trầm mặc gắn liền với lịch sử bi tráng của dân tộc mà trên thế giới không có dòng sông nào như thế. Và trước về với biển sông hương lưu luyến tình cảm với thành phố Huế ví như nỗi vấn vương của nàng Kiều với Kim Trọng.

6. Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài

Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già mà món nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô vẫn còn. Năm đó, ở Hồng Ngài tết đến, A Sử con trai thống lí Pá Tra lừa bắt cóc được Mị về làm vợ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ. Khổ hơn con trâu con ngựa, lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Mị toan ăn lá ngón tự tử. Thương cha già, Mị chết không đành. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Một cái tết nữa lại đến. Mị thấy lòng phơi phới. Cô uống rượu ực từng bát, rồi chuẩn bị lấy váy áo đi chơi. A Sử đã trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay.

A Phủ vì tội đánh con quan nên bị làng phạt vạ một trăm bạc trắng. A Phủ trở thành người ở nợ cho Pá Tra. Một năm rừng động, A Phủ để hổ bắt mất một con bò. Pá Tra đã trói đứng anh vào một cái cọc bằng một cuộn mây. Mấy ngày đêm trôi qua, A Phủ sắp chết đau, chết đói, chết rét thì được Mị cắt dây trói cứu thoát. Hai người trốn đến Phiềng Sa nên vợ nên chồng. A Phủ gặp cán bộ A Châu kết nghĩa làm anh em được giác ngộ trở thành chiến sĩ du kích đánh Pháp.

7. Vợ nhặt – Kim Lân

Anh Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò chở thuê. Đã nhiều tuổi, thô kệch, có tính vừa đi vừa nói lảm nhảm. Hai mẹ con ở trong một mái nhà tranh vắng teo, rúm ró bên ảnh vườn . Trận đói kinh khủng đang diễn ra, người chết đói như ngả rạ. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, hắn hò một câu vượt dốc rất tình. Một cô gái ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mắt cười tít. Lần thứ hai, Tràng gặp lại thị, trông khác hẳn, thị gầy sọp hẳn đi, áo quần tả tơi như tổ đỉa. Một vài câu trách móc, mời chào, thị ăn một chập 4 bát bánh đúc do Tráng đãi. Mua một cái thúng và 2 hào dầu, Tràng dẫn thị về nhà ra mắt mẹ. Xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà xa lạ đi theo Tráng họ bàn tán, có phần lo ngại. Trong nhá nhem tối, bà cụ Tứ gặp và nói chuyện với nàng dâu mới. Lần đầu nhà Tràng có dầu thắp đèn… Tiếng ai hờ khóc người chết đói ngoài xóm lọt vào. Sáng hôm sau, bà mẹ chồng và nàng dâu mới quét dọn trong nhà ngoài sân. Bữa cơm – cháo cám – đón nàng dâu mới. Bà cụ Tứ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu, nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này. Lại một buổi sáng. Tiếng trống thúc thuế dồn dập. Quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật. Tràng nhớ lại lá cờ đỏ bay phấp phới hôm nào…

8. Rừng Xà nu – Nguyễn Trung Thành

Sau 3 năm đi “lực lượng”, Tnú về thăm làng. Bé Heng gặp anh ở con nước lớn dẫn anh về. Con đường cũ, hai cái dốc, rừng lách chằng chịt hố chông, hầm chông, giàn thò sắc lạnh. Mặt trời chưa tắt thì anh về đến làng. Cụ Mết già làng và bà con dân làng reo lên mừng rỡ. Cụ Mết đưa anh về nhà ăn cơm. Từ nhà ưng vang lên một hồi, ba tiếng mõ dài, cả lũ làng cầm đuốc kéo tới nhà cụ Mết gặp Tnú. Có ông bà già. Nhiều trai tráng và lũ con gái. Đông nhất là lũ trẻ con. Có cả cô Dít, em gái Mai, nay là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã hội. Ai cũng muốn ngồi gần anh Tnú. Dít thay mặt lũ làng xem giấy có chữ ký chỉ huy cho phép Tnú về thăm làng một đêm. Quanh bếp lửa rộn lên: “Tốt lắm rồi!” “Một đêm thôi, mai lại đi rồi, ít quá, tiếc quá!”. Rồi cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cho lũ làng nghe. Tiếng nói rất trầm. “Anh Tnú đó, nó đi Giải phóng quân đánh giặc… Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị giặc chặt đầu, nó và em Mai đi vào rừng nuôi anh Quyết cán bộ. Anh dạy nó học chữ. Nó học chữ thì hay quên nhưng đi rừng làm liên lạc thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó vượt thác, xé rừng mà đi, lọt tất cả vòng vây của giặc. Một lần Tnú vượt thác Đắc nông thì bị giặc bắt, bị tra tấn, bị đầy đi Kông Tum. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trốn về, lưng đầy thương tích. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi cho dân làng Xô Man trước khi anh tử thương. Tnú đi bộ lên núi Ngọc Linh đem về một gùi đá mài. Đêm đêm làng Xô Man thức mài vũ khí. Thằng Dục chỉ huy đồn Đắc Hà đưa lũ ác ôn về vây ráp làng. Tiếng kêu khóc vang dậy. Cụ Mết và trai tráng lánh vào rừng, bí mật bám theo giặc. Bọn giặc đã giết chết mẹ con Mai. Tay không ra cứu vợ con, Tnú bị giặc bắt. Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy 10 ngón tay anh. Cụ Mết và lũ thanh niên từ rừng xông ra, dùng mác, và rựa chém chết tất cả 10 tên ác ôn. Thằng Dục ác ôn và xác lũ lính ngổn ngang quanh đống lửa trên nhà ưng. Từ đó, làng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng. Sau đó, Tnú ra đi tìm cách mạng…”

Cụ Mết ngừng kể, rồi hỏi Tnú đã giết được mấy thằng Diệm, mấy thằng Mĩ rồi? Anh kể chuyện đánh đồn, xông xuống hầm ngầm dùng tay bóp chết thằng chỉ huy… thằng Dục, “đúng chớ… chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục!”. Mưa rơi nặng hạt. Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Sáng hôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường. Ba người đứng nhìn những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời…

9. Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

Việt quê ở Bến Tre. Chị gái là Quyết Chiến, hai chị em cùng đi bộ đội một ngày. Trong một trận đánh lớn trong rừng cao su, Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép Mĩ. Nhưng Việt đã bị thương nặng, ngất đi trên chiến trường, bị lạc đơn vị ba ngày đêm. Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỷ niệm vui, buồn tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị em, nhớ chú Năm. Cả ba lẫn má đều hy sinh trong chiến tranh. Việt và chị Chiến ra đi đánh giặc để báo thù cho ba má, để giải phóng quê hương, tiếp tục trang sử anh hùng của gia đình. Anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm Việt suốt 3 ngày, mấy lần đụng địch, lục suốt mặt trận dài dặc mới gặp được Việt và đưa về bệnh viện quân y. Lúc vết thương sắp lành, anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến.

10. Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

Nhiếp ảnh Phùng đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ. Anh được trưởng phòng phân công xuống vùng biển để chụp một bức ảnh cảnh biển buổi sáng. Anh quan sát và giơ máy bấm máy. Đó là một cảnh “đắt” trời cho. ” Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và rất đẹp. Nó đẹp như ” bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ” . Phùng rất xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình. Anh liên tưởng đến câu nói của ai đó ” bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.

Ngay lúc ấy Phùng thấy mũi thuyền tiến thẳng vào bờ. Một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền. Tiếng quát của người đàn ông :” Cứ ngồi yên nay. Động nay tao giết cả mày đi bây giờ”. Người đàn bà cao lớn, đường nét thô kệch mệt mỏi sau một đêm kéo lưới. Người đàn ông có tấm long rộng và cong như một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ, lão đi chân chữ bát. Hai con mắt dữ tợn. Cả hai đến chỗ chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ bỏ lại. Người đàn ông trở nên hùng hổ, rút chiếc thắt long trongngười quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : ” Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Giưã lúc ấy thằng Phác ( con của cặp vợ chồng) lao ra như một mũi tên. Phùng cũng lao tới. Khi anh tới nơi thì chiếc dây da nằm trong tay thằng Phác. Nó đánh vào ngực bố nó. Lão đàn ông giằng lại chiếc dây thắt lưng không được liền dang thẳng cách tay cho thằng bé 2 cái tát . Lão bỏ về thuyền , hai mẹ con ôm nhau khóc.

Ba hôm sau Phùng lại chứng kiến một cảnh tương tự. Chỉ có khác là chị thằng Phác giằng được con dao mà thằng em trai địng dùng làm vũ khí để bảo vệ bà mẹ. Không thể chịu được, Phùng xông ra buộc lão đàn ông chấm dứt hành động độc ác. Lão đánh trả, Phùng bị thương phải đưa vào bệnh xá của toà án huyện.Tại đây anh biết được cảnh ngộ qua lời tâm sự của người đàn bà hàng chài. Anh ngạc nhiên và thực sự thông cảm. Anh và chánh án Đẩu vỡ ra một điều nghịch lí , không có trong sách sở nhưng phải chấp nhận. Sau đó anh trở về phòng văn hoá , suy nghĩ về tấm ảnh chụp được trong lốc lịch.

11. Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ ): Gồm 7 cảnh

Trương Ba giỏi đánh cờ, bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai, Nam Tào và Đế Thích cho hồn TB nhập vào xác anh hàng thịt rồi chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác anh hàng thịt, TB gặp nhiều điều phiền toái: Lí trưởng sách nhiễu khiến con trai TB phải đưa hối lộ cho lí trưởng , để đến nửa đêm TB mới được rời nhà anh hành thịt về nhà mình; chi hàng thịt đòi chồng lại. Trong con mắt người thân, từ vợ, con dâu đến cháu gái, TB trở thành kẻ xa lạ…

TB đau khổ vi phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Hồn TB bi thể xác hồn thịt xui khiến, dần dần bi nhiễm một số thói xấu, những cái tầm thường của anh đồ tể. Ý thức được điều đó, linh hồn TB giằn vặt đau khổ và đi đến quyết định chống lại bằng cách tách linh hồn ra khỏi thể xác anh hàng thịt. Xác hàng thịt chế giễu, ve van hồn TB thỏa hiệp.

Đế Thích đ̣ịnh giúp hồn TB nhập vào xác cu Tị, TB kiên quyết từ chối, xin cho cu Tị được sống, đồng thời trả xác lại cho anh hàng thịt và chấp nhận cái chết.

12. Thuốc – Lỗ Tấn

13. Ông già và biển cả – Ernest Hemingway

Sau khi kéo được con cá kiếm vào mạn thuyền lão Xanchiagô đã mệt lả, những vết máu ở con cá kiếm lan ra đã làm cho bầy cá mập kéo đến. Lão Xanchiagô lại một lần nữa chiến đấu với đàn cá mập nhưng đàn cá mập, vẫn lao vào tấn công con cá kiếm và chiếc thuyền của lão Xanchiagô. Ông đã chiến đấu với chúng một cách quyết liệt đến vô vọng. Cuối cùng khi lão kéo được con cá kiếm lên thì chỉ còn trơ lại bộ xương, ông kéo thuyền vào bờ và trở về lều của mình.

14. Số phận con người – SôLôKhốp

Chiến tranh kết thúc, Xôcôlốp giải ngũ. Anh không trở về quê hương, sống trơ trọi tại nhà một người bạn làm nghề lái xe. Tình cờ anh gặp bé Vania và nhận bé làm con nuôi, vì Vania có hoàn cảnh giống anh: Không gia đình, không nơi nương tựa. Tình cảm đứa bé làm anh ấm lại. Hai tâm hồn sưởi ấm cho nhau. Sau đó, Xôcôlốp rủi ro gây ra một tai nạn lái xe và bị mất bằng lái. Anh phải đổi chỗ ở để kiếm việc làm và để quên người thân. Những đêm đêm trong những giấc mơ Xôcôlốp vẫn thấy người thân hiện về và anh đã khóc trong giấc mơ. Mặc dù cuộc sống còn nhiều nỗi đau, nhiều khó khăn, anh vẫn còn niềm tin hướng về tương lai và nhất là sự trưởng thành của đứa trẻ.

1. Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp ):

4 đoạn :

Đoạn 1 : Từ đầu đến “ập vào miền Bắc” : Tư thế đứng vững mạnh, hiên ngang của dân tộc thời chống Mĩ, tác giả hồi tưởng về “giờ phút hiểm nghèo” của nước Việt Nam mới.

Đoạn 2 : Tiếp theo đến “thêm trầm trọng” : Những khó khăn mọi mặt của đất nước tưởng khó có thể vượt qua.

Đoạn 3 : Tiếp theo đến “Ba trăm bảy mươi ki-lô-gam vàng : Những biện pháp tích cực của chính quyền mới và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách của toàn Đảng, toàn dân ta.

Đoạn 4 : Còn lại : Hình ảnh Bác Hồ như sự tượng trưng cho một chính thể mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân.

2. Bắt sấu ở rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)

Truyện kể về tài bắt sấu của ông năn Hên, người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang. Nghe tin ngọn rạch Cái Tàu có cái ao sấu ” nhiều như trái mù u chin rụng ” , ông năm Hên tìm đến để bắt sấu cho dân làng ở đó. Và ông đã bắt sấu bằng… tay không ! Chỉ can một người dẫn đường đến cái ao cá sấu. Trên xuồng đi bắt cá sấu cũng chỉ có một loin nhang trần và một hũ rượu. Vậy mà , chỉ một giờ đồng hồ sau, Tư Hoạch (người dẫn đường) đã bơi xuồng về như dạo mát , kéo theo sau chiếc bè quái dị được kết bằng 45 con cá sấu còn sống nhăn, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như một khúc cây khô dài. Bà con chưa heat ngạc nhiên , khâm phục thì ở mé rừng , ông năm Hên đã xuất hiện như tướng ông thầy pháp, ” áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua, quơ lại trên tay”. Có một vẻ gì như thần bí, nhưng thực chất đây cũng là một ” nghệ sĩ tay không bắt sấu” ở rừng U Minh Hạ.

3. Mùa lá rụng trong vườn: (Ma Văn Kháng)

Chuyện xảy ra ngay trong gia đình ông Bằng , một gia đình được coi là nền nếp, luôn giữ gia pháp, gia phong nay trở nên chao đảo trước những thay đổi lớn của XH. Những con người hôm qua chấp nhận hy sinh nay lại rơi vào quyền lực của tiền tài (Lí), có người hôm qua là anh hùng nay trở nên lạc lõng ( Đông). Có người xưa là bộ đội nay trốn sang nước ngoài ( Cừ)…Nhưng cũng có những người trong gia đình giữ vững được truyền thống gia đình như ông Bằng ,chị Hoài . Chị Hoài – người con dâu trưởng gia đình ông Bằng, vợ anh cả Tường liệt sĩ- nay có gia đình riêng, nhưng vẫn gắn bó sâu sắc với gia đình nhà chồng trước. Ơ nông thôn, công việc bận rộn quanh năm , lại là chủ nhiệm hợp tác xã , mẹ của 4 đứa con , nhưng đúng chiều 30 tết , chị vẫn lên Hà Nội thăm gia đình ông Bằng và cúng tất niên cùng với bố chồng và các em. Mọi người trong gia đình đều ngạc nhiên và mừng rỡ. Ông Bằng và chị Hoài không nén được xúc động trước cuộc gặp gỡ cuối năm. Rồi cảnh cúng gia tiên nghiêm trang , thiêng liêng , sau đó là bữa cơm sum hợp gia đình chiều 30 tết đầm ấm , vui vẻ…Tất cả đã nói lên nét đẹp tình người gắn bó với nhau- dù trong hoàn cảnh nào- và cả nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc trong ngày Tết Nguyên đán.

4. Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

Nhân vật trung tâm trung truyện ngắn là cô Hiền , một người Hà Nội bình thường. Cũng như những người Hà Nội bình thường khác, cô đã cùng HN , cùng đất nước trải qua những biến động, thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách HN, cái bản lĩnh văn hoá của người HN. Cô sống thằng thắn, chân thành, không giấu giếm quan điểm,thái độ riêng của mình với mọi hiện tượng xung quanh.Thời trẻ, cô Hiền là một người tài hoa, yêu thích văn chương, giao du với đủ loại thanh niên con nhà giàu, nghệ sĩ văn nhân, nhưng khi chọ chồng cô không hề lãng main mà chọn ông anh giáo dạy cấp Tiểu học hiền lành , chăm chỉ . Cô tính toán kĩ lưỡng khi quản lí gia đình, dạy dỗ con cái từ cách ăn nói , đi đứng… sao cho thể hiện được nét văn hoá của người HN

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về niềm vui và cả những cái có phần máy móc, cực đoan của cuộc sống xung quanh: vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, theo cô chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá …. Cô tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo và đã tính là làm, đã làm là không để ý đến những đàm tiếu của thiên hạ…

Miền Bắc bước vào thời kì đương đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ. Cô Hiền dạy con cách sống “biết tự trọng, biết xấu hổ”, biết sống đúng với bản chất người Hà Nội. Đó cũng là lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra trận: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó giám đi cũng là biết tự trọng”…

+ Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ của thời kinh tế thị trường, cô Hiền vẫn là “một người Hà nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Từ chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, cô Hiền nói về niềm tin vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Hướng Dẫn Cách Viết Đoạn Văn Và Bài Văn Thuyết Minh Về Tác Giả, Tác Phẩm Văn Học Cho Học Sinh Lớp 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc MÔ TẢ SÁNG KIẾN Mã số: 1. Tên sáng kiến: "Hướng dẫn cách viết đoạn văn và bài văn thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn - Ngữ văn. 3. Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: - Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS), phân môn tập làm văn (TLV), học sinh (HS) được làm quen với tất cả các kiểu bài trong đó có văn thuyết minh. Trong từng dạng bài, thì HS được GV hướng dẫn cụ thể cách viết đoạn văn, cách xây dựng dàn ý và tạo lập văn bản hoàn chỉnh. Tuy nhiên, do thời gian trong chương trình không cho phép nên việc hướng dẫn HS làm bài văn thuyết minh chỉ dừng lại ở một số dạng bài nhất định như thuyết minh về một thứ đồ dùng, thuyết minh về một thể loại văn học hay thuyết minh về một phương pháp (cách làm) và thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (trong chương trình Ngữ văn 8). Đến khối lớp 9, văn thuyết minh được nâng cao hơn đó là thuyết minh có vận dụng các yếu tố nghệ thuật, miêu tả nhưng chưa có tiết học nào để Hs tìm hiểu thuyết minh về tác giả, tác phẩm cụ thể. - Thực tế, trong những năm qua, khi kiểm tra học kỳ và thi tuyển sinh, đôi khi đề thi lại cho dạng thuyết minh về tác giả hoặc giới thiệu về một tác phẩm cụ thể. Và khi gặp dạng đề này, nhiều HS còn lúng túng và chưa định hướng được cách làm bài. Chính những thực trạng trên, những giáo viên dạy học môn Ngữ văn nói chung, những giáo viên dạy ngữ văn 9 nói riêng luôn tìm tòi, sáng tạo để tìm ra những phương pháp mới nhằm cải thiện tình hình hình học và làm văn của học sinh THCS, trong đó phải tìm ra cách hướng dẫn học sinh khối 9 làm tốt một bài văn thuyết minh, mà trước hết là cách viết và trình bày một văn bản thuyết minh có sử dụng yếu tố nghệ thuật, miêu tả, và đặc biệt phải viết được bài văn thuyết minh về tác giả, tác phẩm- phần mà trong chương trình hiện hành chưa có. Thực hiện điều này, bản thân tôi hướng tới mục đích tăng khả năng thực hành, phát triển năng lực, kĩ năng tạo lập văn bản, giúp học sinh tự tin trình bày hiểu biết của mình về đối tượng thuyết minh, đồng thời cải thiện tốt hơn chất lượng bài làm trong các đợt kiểm tra học kỳ, thi tuyển. 3.2 Nội dung giải pháp: 3.2.1. Mục đích của giải pháp: Giải pháp giúp HS biết cách viết, trình bày một đoạn văn, một văn bản thuyết minh về một tác giả, tác phẩm cụ thể hoàn chỉnh. Đồng thời phần nào đáp ứng với đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS hiện nay. Từ giải pháp này, GV có điều kiện tìm hiểu thêm về phương pháp, kỹ thuật dạy học ở dạng bài Thuyết minh nói chung. GV có thể bổ sung, đưa dạng bài này vào chương trình khối lớp phù hợp hơn để giảng dạy cho HS đầy đủ các dạng bài để các em không còn bỡ ngỡ khi gặp ở các đề thi. 3.2.2. Nội dung của giải pháp: a)Tính mới, sự khác biệt của giải pháp: - Giải pháp có yếu tố mới hoàn toàn và được áp dụng đầu tiên vào đầu năm học 2015-2016 và học kỳ I năm học 2016-2017 là hướng dẫn học sinh xoáy sâu vào cách viết hoàn chỉnh một bài văn thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học. Từ đó học sinh biết cách viết từng đoạn văn theo từng dạng đề cụ thể. Trên cơ sở đó hình thành một văn bản thuyết minh hoàn chỉnh về tác giả, tác phẩm. Đó là điều mà các giải pháp trước đây và hiện nay chương trình sách giáo khoa chưa có và giáo viên giảng dạy chưa quan tâm. - Cách thức thực hiện của giải pháp: Tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp để phát huy mặt tích cực, khắc phục những mặt còn hạn chế của các giải pháp cũ. b) Cách thực hiện của giải pháp: Bước 1: Củng cố lại kiến thức về phương pháp thuyết minh và kiến thức về đoạn văn (ôn lại lý thuyết): * Về phương pháp thuyết minh: Để làm tốt bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích; liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại, . Ôn tập lại một số phương pháp cụ thể mà có thể vận dụng trong thuyết minh về tác giả, tác phẩm: + Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích: Có vai trò giới thiệu giúp người đọc hiểu rõ bản chất của đối tượng thuyết minh bằng lời văn rõ ràng, ngắn gọn, chính xác. + Phương pháp liệt kê: lần lượt chỉ ra các đặc điểm, tính chất của đối tượng thuyết minh theo một trình tự nhất định, giúp người đọc thuyết minh ra đối tượng thuyết minh. + Phương pháp phân loại, phân tích: chia đối tượng ra từng loại , từng mặt để thuyết minh làm cho đối tượng trở nên cụ thể, rõ ràng giúp người đọc hiểu từng mặt của đối tượng một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện. + Phương pháp nêu ví dụ: Giúp người đọc hiểu một cách cụ thể, đầy đủ về đối tượng. Ví dụ cụ thể, số liệu chính xác để có độ tin cậy cao. * Về đoạn văn: - Khái niệm: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản. Về hình thức: bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Về nội dung: thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. - Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn. Đó là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ lớp 8. Tôi đã củng cố ngay cho học sinh sau khi vào đầu năm học lớp 9 qua việc thực hiện kế hoạch tăng tiết của trường. Bước 2: Hướng dẫn HS nắm chắc kiến thức về đối tượng thuyết minh - tác giả, tác phẩm: Do đặc điểm, tính chất của văn bản thuyết minh là cung cấp tri thức về đối tượng thuyết minh một cách khách quan, rõ ràng, chính xác cho nên HS cần có kiến thức về tác giả, tác phẩm. Muốn vậy thì đòi hỏi GV phải hướng dẫn kỹ cho HS khi dạy- học phần văn bản kết hợp với kiểm tra, đánh giá. Thời gian qua, bản thân tôi đã giúp HS nắm kiến thức về tác giả, tác phẩm bằng các cách như sau: - Quy định những việc cần làm ngay từ đầu năm: HS phải xem và chuẩn bị kỹ phần tác giả, tác phẩm để khi vào lớp phải thực hiện giới thiệu cho được trước khi vào bài mới. GV sẽ kiểm tra chuẩn bị bài mới lồng vào quá trình kiểm tra bài cũ. - Nhắc nhở, kiểm tra HS thường xuyên từng bài học về kiến thức đã học về tác giả, tác phẩm. - Trong hoạt động ngoài giờ, GV phối hợp lồng ghép, tổ chức thi đua giới thiệu tác giả, tác phẩm văn học trong chương trình. Bước 3: Định hướng cách viết bài văn thuyết minh : - Trước hết HS phải xem đề bài thuyết minh ở dạng nào, đối tượng thuyết minh là gì. Tức là phải nắm chắc dạng đề thuyết minh. - Tùy vào đối tượng thuyết minh (tác giả hay tác phẩm) mà hướng dẫn HS chọn cách viết cho phù hợp. Có đoạn thì phải viết theo cách song hành, cũng có đoạn phải viết theo cách diễn dịch, quy nạp hay tổng - phân - hợp. - Sau đó, hướng dẫn HS lựa chọn phương pháp thuyết minh cho phù hợp. Như vậy, GV giúp HS hiểu rằng khi gặp đề bài, cần đọc kỹ, xác định xem đề ở dạng nào để có cách viết, cách thuyết minh cho phù hợp. Bước 4: Hướng dẫn HS cách viết cụ thể: * Giới thiệu tác giả: Ở dạng này GV hướng dẫn HS viết theo trình tự như sau: - Tên tác giả, ngày, tháng năm sinh, quê quán, tên thật, bút danh, tên hiệu, tên chữ (nếu có). - Sau đó giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp: quá trình hoạt động văn học, những tác phẩm chính, nội dung chủ đạo, phong cách nghệ thuật; các giải thưởng văn học (nếu có). Đặc biệt cần làm rõ những đóng góp văn học của nhà văn. Khi xác định được nội dung cần thuyết minh, GV hướng dẫn HS trình bày từng đoạn văn hoàn chỉnh: thường là viết theo cách song hành khi đề bài yêu cầu viết giới thiệu ngắn gọn, phương pháp chủ yếu là nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê. Ví dụ đề bài yêu cầu: Viết đoạn văn ngắn giới thiệu những nét cơ bản về tác giả Ngô Tất Tố. Với đề bài này HS có thể viết ngắn gọn như sau: Ngô Tất Tố (1893-1954) quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơ tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, ngoại thành Hà Nội); xuất thân là một nhà nho gốc nông dân. Ông là một học giả có nhiều công trình khảo cứu về triết học, văn học cổ có giá trị; một nhà báo nổi tiếng với rất nhiều bài báo mang khuynhn hướng dân chủ tiến bộ và giàu tính chiến đấu; một nhà văn hiện thực xuất sắc chuyên viết về nông thôn trước Cách mạng. Sau Cách mạng, nhà văn tận tụy trong công tác tuyên truyền văn nghệ phục vụ kháng chiến chống Pháp. Ngô Tất Tố được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996). Tác phẩm chính của ông: các tiểu thuyết Tắt đèn (1939), Lều chõng (1940); các phóng sự Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940), *Giới thiệu tác phẩm văn học: - Dạng đề là giới thiệu về tác phẩm truyện: Với dạng bài này, GV hướng dẫn HS viết theo trình tự - dàn ý như sau: + Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng thuyết minh (tên tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, ) + Thân bài: . Tóm tắt tác phẩm. . Giới thiệu giá trị nghệ thuật (nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ nhân vật, ngôi kể, ...). Đây là phần trọng tâm, nên khi giới thiệu, GV hướng dẫn HS đưa dẫn chứng cụ thể cho từng phần. + Kết bài: Vai trò, sự đóng góp của tác giả, ý nghĩa của tác phẩm trong nền văn học. Khi hướng dẫn HS xác định được nội dung cần thuyết minh, mỗi ý có thể được trình bày bằng một đoạn văn. Ở mỗi đoạn văn, GV hướng dẫn HS chọn cách trình bày cho phù hợp (có thể viết theo cách diễn dịch, quy nạp hoặc tổng phân hợp). - Dạng đề là giới thiệu về tác phẩm thơ: Với dạng đề này, GV hướng dẫn HS thực hiện theo trình tự sau: + Mở bài: Giới thiệu chung về tác phẩm( tên tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, ) + Thân bài: . Giới thiệu giá trị nội dung: Bài thơ có bố cục gồm những phần nào, nội dung của từng phần . Nếu là những tác phẩm trong chương trình, đã học thì thì nội dung từng phần cần bám vào đề mục và ý chốt cuối phần phân tích của đề mục đó. Mỗi phần cần được trình bày bằng một đoạn văn. . Giới thiệu giá trị nghệ thuật: đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm thông qua các phương diện: hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu, nhịp, vần, âm thanh, màu sắc, các biện pháp tu từ, (có thể là một đoạn văn - giới thiệu nghệ thuật chung của cả bài thơ hoặc nhiều đoạn văn lồng giới thiệu nội dung và nghệ thuật của từng phần, có nêu ví dụ cụ thể) + Kết bài: Vai trò, sự đóng góp của tác giả, ý nghĩa của tác phẩm trong nền văn học. Với 2 dạng đề này HS nắm kiến thức, dàn bài đã được định hướng thì GV hướng dẫn HS chọn cách trình bày từng đoạn văn ứng với từng ý phối hợp các phương pháp thuyết minh như phân tích, phân loại và nêu ví dụ. Bước 5: Hướng dẫn học sinh tự rèn luyện viết bài văn thuyết minh thông qua viết những đoạn văn thuyết minh theo từng dạng đề cụ thể: Để viết được đoạn văn với bất kỳ là ở dạng đề bài nào thì cũng đòi hỏi Hs phải nắm chắc kiến thức. Điều khó nhất hiện nay là đa số HS ít khi chịu khó để có kiến thức cơ bản. Chính vì thế, GV thường xuyên kiểm tra bài cũ cho các em không chỉ ở những tiết chính khóa mà còn kiểm tra ở các giờ trái buổi (phụ đạo, tăng tiết). Quá trình kiểm tra gắn liền với việc luyện tập cho HS thực hành viết đoạn văn.Và để hướng dẫn HS tự rèn luyện viết đoạn văn theo từng dạng đề cụ thể, GV đưa ra nhiều dạng bài tập đi từ cấp độ nhận biết đến vận dụng với mục đích vừa ôn tập kiến thức vừa tăng khả năng thực hành cho HS. Cụ thể: Viết đoạn văn ngắn giới thiệu những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Đình Chiểu. Với đề bài này HS có thể viết ngắn gọn như sau: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) sinh ở làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ. Ông học giỏi, giàu lòng hiếu thảo, cả cuộc đời sáng ngời nhân nghĩa, tình yêu nước thương dân.Cuộc đời riêng đầy bi kịch: bị mù, công danh dở dang ... Tình chung đau xót: đất nước ta bị giặc Pháp xâm lăng, đất Nam Bộ mất dần vào tay giặc. Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta nửa sau thế kỉ XIX.Tác phẩm gồm có: Các truyện thơ: "Truyện Lục Vân Tiên", "Dương Từ Hà Mậu", "Ngư Tiểu y thuật vấn đáp". Nhiều bài thơ, bài văn tế tuyệt tác: "Chạy giặc", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Văn tế Trương Định", "Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh", v.v ...Tất cả văn thơ Nguyễn Đình Chiểu đều viết bằng chữ Nôm thấm đẫm tư tưởng nhân nghĩa, giàu lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc sôi sục Đây là một trong các dạng bài tập nhận biết. Ví dụ các dạng bài tập sau: Bài tập 3: Viết đoạn văn giới thiệu giá trị hiện thực của tác phẩm "Chuyện người con gái nam Xương" của Nguyễn Dữ. Trong từng thời điểm, GV cho HS thực hành rèn luyện viết đoạn văn theo đề cụ thể với từng dạng đề gắn với chương trình bài học. 3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp: Các giải pháp mới của sáng kiến trên được áp dụng ngay trong kiểu bài Thuyết minh vào đối tượng học sinh lớp 9 cũng như học sinh khối 8 (khi hướng dẫn HS làm bài văn thuyết minh về một thể loại văn học). Và với sáng kiến này tất cả giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn THCS đều có thể áp dụng để giảng dạy. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp: Sau khi áp dụng sáng kiến trên vào thực tế giảng dạy phân môn Tập làm văn - các kiểu bài Thuyết minh, điều đầu tiên gặt hái được là hầu hết các em đều nắm chắc kiến thức về tác giả, tác phẩm. Từ kiến thức này không những giúp HS làm tốt bài văn thuyết minh về tác giả, tác phẩm mà còn phục vụ tốt cho phần văn Nghị luận văn học trong chương trình. Khi áp áp dụng sáng kiến này, đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề. Điều đáng mừng là chất lượng trong bài kiểm tra định kì về kiểu bài này rất khả quan, có tiến bộ hơn so với cùng kì năm học qua, cụ thể như sau: Năm học 8,0 - 10,0 6,5 - 7,8 5,0 - 6,3 3,5 - 4,8 00 - 3,3 2015 - 2016 25,5% 27,5% 34,3% 8,8% 5,9% 2016 - 2017 26,1% 28,3% 36,8% 5,3% 3,5% 3.5. Tài liệu kèm theo: không. Bến Tre, ngày 28 tháng 12 năm 2017

Bạn đang xem bài viết Tác Phẩm Văn Học Và Quan Niệm Về Tác Phẩm Văn Học trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!