Xem Nhiều 2/2023 #️ Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học Hoặc Văn Bản # Top 3 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học Hoặc Văn Bản # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học Hoặc Văn Bản mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hài kịch là “Thể loại kịch trong đó có tính cách, tình huống và hành động được thể hiện dưới dạng buồn cười hoặc ẩn chứa cái hài nhằm giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ ra khỏi đời sống xã hội”. Hài kịch cho đến thế kỉ XVII được coi như là thể loại đối lập với bi kịch, và tác phẩm của nó kết thúc nhất thiết phải có hậu.

Hài kịch, như trên đã nói, hướng vào sự cười nhạo cái xấu xa, lố bịch đối lập với lí tưởng xã hội hoặc chuẩn mực đạo đức. Nhân vật của hài kịch thường không có sự tương xứng giữa thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình nên đã trở thành lố bịch. Cái tính cách trong hài kịch thường được mô tả một cách đậm nét, cận cảnh và ở trạng thái tĩnh, nhất là những nét gây cười. Phạm vi phản ánh của hài kịch hết sức rộng lớn: từ những vấn đề chính trị xã hội đến những thói xấu trong sinh hoạt hàng ngày. Trong hài kịch cũng có thể mô tả nỗi đau khổ của con người, song chỉ có thể cho phép ở một mức độ nhất định cho nỗi đau không lấn át cái cười để từ đó hài kịch chuyển thành chính kịch.

Hài kịch ra đời rất sớm, gần như đồng thời với bi kịch. A-ri-xtô-phan (khoảng 445 – 385 trước Công nguyên) nhà viết kịch Hi Lạp cổ đại được coi là “cha đẻ” của hài kịch.

Do nội dung, tính chất, cung bậc của tiếng cười, hài kịch chia thành nhiều tiểu loại khác nhau như hài kịch tính cách, hài kịch tình huống, hài kịch sinh hoạt, hài kịch trào phúng, v.v.

Cho đến nay, những tác phẩm của nhà hài kịch vĩ đại người Pháp Mô-li-e (1622 – 1673) được coi là hình thức cổ điển của thể loại hài kịch.

Từ khóa tìm kiếm

thuyet minh ve mot the loai van hoc

Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Thuyết minh về một thể loại văn học là một loại thuyết minh khó. Bởi lẽ, muốn rút ra được những nhận thức quan trọng để thuyết minh, các em phải có một số hiểu biết nhất định về thơ: luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… Chỉ có như vây, việc thuyết minh của các em mới có kết quả. Luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… chính là những công cụ, phương tiện để các em khám phá, nhận thức thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.

Dùng công cụ trên, các em sẽ quan sát, khám phá và phát hiện đặc điểm của hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn. Các em sẽ phát hiện ra:

– Đây là thể thơ thất ngôn bát cú (mỗi dòng bảy tiếng, mỗi bài tám dòng thơ).

– Nhịp thơ thường là 4 / 3:

Bủa tay ôm chặt / bồ kinh tế, Mở miệng cười tan / cuộc oán thù. Thân ấy vẫn còn, / còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiếm / sợ gì đâu. (Vào nhà ngục Quảng Đỏng cảm tác) Tháng ngày bao quản / thân sành sỏi, Mưa nắng càng bền / dạ sắt son. Những kẻ vá trời / khi lỡ bước, Gian nan chi kể / việc con con. (Đập đá ở Côn Lôn)

Khi đọc một dòng thơ, sau một số tiếng nhất định, có nghĩa, các em dừng lại một chút trước khi đọc hết dòng thơ. Chỗ ngừng đó là những chỗ ngắt nhịp trong dòng thơ.

VÀO NHÀ NGỰC QUẢNG ĐÔNG CẢM TÁC

T – B – B – T / – T – B – B

T – T – B – B / – T – T – B

T – T – B – B / – B – T – T

T – B – T – T / – T – B – B

T – B – B – T / – B – B – T

T – T – B – B / – T – T – B

B – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T/ – T – B – B

ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN

B – B – T – T / – T – B – B

B – T – B – B / – T – B – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – B – T – T / – T – B – B

T – B – B – T / – B – B – T

B – T – B – B / – T – T – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T / – T – B – B

Dựa vào luân phiên B – T này các em có thể tìm ra niêm và đối trong bài thơ:

– Niêm (dính nhau): Tiếng dòng trên và tiếng tương ứng dòng dưới đều B. Ví dụ:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, Lừng lẫy làm cho lở núi non.

(làm / lừng: niêm với nhau)

– Đối: Tiếng dòng trên B và tiếng tương ứng dòng dưới T. Ví dụ, trong hai dòng thơ dẫn trên thì trai / lẫy đối với nhau.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

Tham khảo để viết bài thuyết minh về Thơ thất ngôn bát cú.

THƠ THẤT NGÔN

a) Thơ thất ngôn Đường luật có niêm luật (tức sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu, từng bài) rất chặt. Nếu tiếng thứ hai của câu đầu có thanh bằng thì thơ thuộc thể bằng, tiếng thứ hai thanh trắc là thể trắc.

Ví dụ:

– Thể bằng: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

– Thể trắc: Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Thể trắc được coi là chính thể, còn thể bằng là biến thể.

b) Các câu trong bài lại phải dính với nhau, người ta gọi là niêm. Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau:

Tiếng thứ hai câu I niêm với tiếng thứ hai câu VIII.

Tiếng thứ hai câu II niêm với tiếng thứ hai câu III.

Tiếng thứ hai câu IV niêm với tiếng thứ hai câu V.

Tiếng thứ hai câu VI niêm với tiếng thứ hai câu VII.

Tóm lại: nhất – bát, nhị – tam, tứ – ngũ, lục – thất.

c) Thơ thất ngôn Đường luật chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần (độc vận), thông thường thì bài bốn câu (tứ tuyệt) là ba vần, bài tám câu (bát cú) là năm vần, trừ biệt lệ.

– Biệt lệ về luật bằng trắc (gọi là lệ bất luận):

Nhất tam ngũ bất luận tức là tiếng đầu, tiếng thứ ba, tiếng thứ năm trong câu không kể bằng trắc, mà vẫn không coi là thất luật.

– Biệt lệ về cách trốn vần:

Muốn trốn vần thì hai câu trốn vần đó (tức hai câu đầu) phải đối nhau (gọi là song phong).

Ví dụ:

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn Lận đận đầu xanh tuổi đã già…

Một bài bát cú trốn vần phải có sáu câu đối nhau.

– Thể trắc thất ngôn bát cú.

Ví dụ: QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

(Bà Huyện Thanh Quan)

– Thể bằng thất ngôn bát cú:

Ví dụ: THU ĐIẾU

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Nguyền Khuyến)

Xét về mặt bố cục, bài thơ thất ngôn cách luật có bốn phần (đề, thực, luận, kết):

+ Đề gồm câu phá đề và thừa đề. Đây là phần mở bài, chuẩn bị không khí cho toàn bài.

+ Thực gồm hai câu III và IV đối nhau. Đây là phần triển khai ý từ câu thừa đề, như tả cảnh, tả việc, diễn ý, cắt nghĩa, chuẩn bị cho câu luận, hoặc đã ngầm có ý luận ở trong.

+ Kết gồm hai câu VII và VIII có chức năng khép bài, nhưng thông thường là gợi ý, mở ra một ý mới khiến người đọc bâng khuâng,…

Chú ý: Lối ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo dạng 4/3, hoặc 2/2/3, tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, mềm mại. Thể thơ bảy tiếng cổ truyền ngắt theo nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp cả bằng lẫn trắc, cả vần chân lẫn vần lưng, tạo nên nhịp điệu câu thơ khoẻ.

(Đinh Trọng Lạc, Tiếng Việt 11, SGV,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000)

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Lập dàn bài thuyết minh đặc điểm của truyện ngắn (Dựa vào một số truyện ngắn đã học như: Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng).

Nêu định nghĩa truyện ngắn:

Ví dụ: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ… tập trung mô tả một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội”.

Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn:

– Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

Chỉ ra đặc điểm này trong ba truyện ngắn Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường đó chỉ là một hoặc hai nhân vật với vài ba sự kiện nhỏ.

Phân tích Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng để thấy rõ hơn và cụ thể hơn về điều này.

– Đặc điểm về cốt truyện:

+ Diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian hẹp.

+ Không kể trọn vẹn quá trình diễn biến của đời người mà thường chỉ chọn một thời đoạn, thời điểm hay một khoảnh khắc nào đó để trình bày.

Tiếp tục phân tích ba tác phẩm trên.

– Ý nghĩa:

Truyện tuy ngắn, dung lượng tuy không nhiều nhưng không phái vì thế ý nghĩa xã hội của truyện ngắn không lớn. Có những truyện độ dài không lớn nhưng ý nghĩa xã hội lại hết sức sâu sắc.

Chỉ ra ý nghĩa xã hội lớn lao của ba tác phẩm Tôi đi học, Lão Hạc và Chiếc lá cuối cùng.

Nêu cảm nhân của bản thân:

– Về vẻ đẹp, về sức hấp dẫn của truyện ngắn.

– Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương trong giai đoạn hiện nay.

Mai Thu

Thuyết Minh Về Một Văn Bản, Một Thể Loại Văn Học Đơn Giản Lớp 8

Hướng dẫn thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học đơn giản ( như văn bản đề nghị, báo cáo, thể thơ lục bát…) lớp 8

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 THUYẾT MINH VỀ MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC (THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ)

Dấu ấn và phong cách của người nghệ sĩ in dấu ấn trong lòng độc giả không phải chỉ là những tư tưởng và bài học của anh để lại mà trước hết qua những hình thức, cách mà anh nói. Một trong những thể thơ thành công trong việc biểu đạt tâm ý của người viết chính là thơ thất ngôn bát cú. Thơ thất ngôn bát cú ở Việt Nam có một vị trí riêng.

Thể thơ thất ngôn bát cú xuất hiện từ thế kỉ VI đến thể kỉ VII thời Đường với những nhà thơ nổi tiếng như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, … Thơ du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ X và phát triển rực rỡ vào thế kỉ XII đến thế kỉ XIX. Ta biết đến những tác giả thành công ở thể loại này như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, …

Những đặc điểm của thơ thất ngôn bát cú dễ phân biệt với những thể thơ khác. Bài thơ gồm có 8 câu (bát cú), mỗi câu có 7 chữ (thất ngôn). Bố cục của một bài thơ thất ngôn bát cú thông thường có 4 phần: Đề- thực- luận- kết. Hai câu đề đầu tiên để nêu nội dung khái quát của bài thơ. Hai câu thực để giải thích, triển khai, làm rõ cho hai câu để. Hai câu luận đánh giá, bày tỏ cảm xúc của tác giả và hai câu kết sẽ khẳng định nội dung tư tưởng tác phẩm. Tuy nhiên, một số bài lại chia bố cục theo 2 phần hoặc 3 phần.

Bài thơ bát cú còn có quy định về luật bằng- trắc, niêm luật. Dựa vào tiếng thứ hai của câu thứ nhất để xác định bài thơ đó có luật bằng hay trắc. Câu thơ đầu của Hồ Xuân Hương trong “Đánh đu” là “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng”. Dựa vào chữ “cột”, bài thơ có luật trắc. Còn “niêm” là cách phối thanh hàng dọc để bài thơ có sự kết dính với nhau. Quy định bắt buộc: các tiếng 2,4,6 ở các cặp câu 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 bắt buộc phải giống nhau về thanh điệu. Các tiếng 1,3,5 thì không bắt buộc. Quy luật ấy có thể phát biểu ngắn gọn:

Chính cách sắp xếp và phối thanh như thế làm nên sự nhịp nhàng, tính nhạc cho bài thơ:

“Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.

T B T

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

T B T

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

B T B

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

B T B

Phép đối cũng là một trong những bút pháp trong thơ thất ngôn bát cú, gồm đối ý và đối lời. Đối ý gồm có đối tương đồng và đối tương hỗ. Về phép đối tương đồng như:

“Xách búa đánh tan năm bảy đống,

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

Mưa nắng càng bền dạ sắt son.”

(Đập đá ở Côn Lôn”- Phan Trâu Trinh)

Về phép đối tương hỗ, có thể thấy trong bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”

Một bài thơ thất ngôn bát cú cũng cần đảm bảo yêu cầu về cách gieo vần, thường là vần chân ở câu 1,2,4,6,8. Nhịp câu thơ thường được ngắt theo nhịp chắn 4/3, 2/2/3 hay 2/5. Như câu thơ:

“Bước tới đèo Ngang/ bóng xế tà”

Thất ngôn bát cú là một trong những thế thơ chính và thịnh hành của thơ trung đại thời Đường cũng như ở Việt Nam. Những câu thơ ngắn gọn tạo sự hàm súc, lời ít mà ý nhiều, gợi nhiều liên tưởng và suy ngẫm sâu sắc. Ý thơ cân đối hài hòa, nhịp thơ du dương, lời thơ trang trọng, mực thước. Vì vậy mà nhân dân ta yêu mến gọi là thể thơ bác học. Đọc thơ Đường luật gây thích thú bởi những khoảng trống của câu thơ, “ý tại ngôn ngoại” mà lời thơ mang lại. Nhưng chính sự niêm luật chặt chẽ đôi khi lại mang lại sự khó khăn trong quá trình sáng tác, về số câu và cách gieo vần, ngắt nhịp. Những câu thơ hàm súc, sử dụng nhiều từ Hán Việt gây khó khăn trong việc hiểu và tiếp nhận với một bộ phận người đọc.

Nhìn vào lịch sử văn học Trung Quốc cũng như Việt Nam, tự thời gian đã chứng minh những giá trị của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Những câu thơ được xếp vào hàng tuyệt cú sẽ còn mãi lưu danh tới muôn đời sau:

“Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”

(“Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”- Lý Bạch)

“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.”

(“Hoàng Hạc Lâu”- Thôi Hiệu)

BÀI LÀM VĂN SỐ 2THUYẾT MINH VỀ MỘT VĂN BẢN, MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC ĐƠN GIẢN ( THƠ LỤC BÁT)

Thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chúng ta không còn xa lạ gì với thể lục bát vì nó là những bài ca dao hàng ngày ta vẫn nghe ông bà ngâm nga, là những lời ru, câu hát mà bà hay mẹ ru ta vào giấc ngủ.

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta. Thơ lục bát có từ hai câu trở lên. Trong đó cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ở câu tám chữ. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, thanh và vần. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ. Ở câu lục theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) – Trắc (T) – Bằng, câu bát theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

“Vườn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.

“Có xáo thì sáo nước trong

Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con”

Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát kế nó. Và tiếng thứ tám câu bát đó lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp.

“Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3. Nhịp thơ giúp người đọc và người nghe cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”

Thơ lục bát nhẹ nhàng có khả năng diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Trong xax hội xưa, người bình dân hay mượn thể loại văn vần này đê bày tỏ tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của bản thân mình. Dân tộc nào cũng có một thể thơ, một điệu nhạc phù hợp với cách điệu cuộc sống của dân tộc đó. Lục bát là thể thơ hài hoà với nhịp đập của con tim, nếp nghĩ, cách sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ca dao là thể thơ đặc trưng của dân tộc Việt Nam, đi đi về về trong các sáng tác bất hủ của dân tộc. Sau này các nhà thơ hiện đại cũng đã rất thành công khi học tập và vận dụng sáng tạo thể lục bát trong các sáng tác của mình để bày tỏ nỗi lòng của mình.

Thơ lục bát dịu dàng, chân phương như đóa hoa hàm tiếu hé nở mang hương sắc cho đời. Hôm nay và mai sau, thể thơ lục bát mãi luôn tự hào là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Dàn Ý Thuyết Minh Về Một Văn Bản, Một Thể Loại Văn Học Đơn Giản Chi Tiết Đầy Đủ

DÀN Ý CHI TIẾT HƯỚNG DẪN BÀI VIẾT SỐ 5 LỚP 8 ĐỀ 3: THUYẾT MINH VỀ MỘT VĂN BẢN, MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC ĐƠN GIẢN – DÀN Ý THUYẾT MINH THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ

Giới thiệu thể thơ thất ngôn bát cú

Tiếp thu những thành tựu, tinh hoa của văn học thế giới là một xu hướng tất yếu của bất cứ nền văn học nào. Nền văn học Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển, không chỉ kế thừa những truyền thống của cha ông ngàn đời mà còn khéo léo góp nhặt, học hỏi những tiến bộ của những nền văn học khác như thơ tượng trưng siêu thực Pháp hay thơ Đường của Trung Quốc. Trong đó, thể thơ thất ngôn bát cú là một trong những thể loại văn học được tiếp thu và đón nhận bởi rất nhiều thi nhân Việt.

II. Thân bài: 1. Nguồn gốc thể thơ:

Thơ thất ngôn bát cú là loại cổ thi xuất hiện rất sớm bên Trung Quốc

Vào đời Đường mới được các nhà thơ đặt lại các quy tắc cho cụ thể, rõ ràng và từ đó phát triển mạnh mẽ, trở thành thể thơ tiêu biểu của thơ Đường

Nhắc đến những thi nhân nổi tiếng với thể thơ này, không thể không kể đến Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Thôi Hiệu,…

Sau này, khi phát triển ở các quốc gia khác, đặc biệt là ở Việt Nam, đây được gọi là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, với các tác giả tiêu biểu như Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Hồ Xuân Hương,…

2. Các quy tắc trong thơ thất ngôn bát cú:

Thất – 7, ngôn – tiếng, bát – 8, cú – câu

Một bài thơ có 8 câu

Trong mỗi câu thơ có 7 chữ

Thông thường, hầu hết các bài thơ thất ngôn bát cú được chia làm 4 phần:

Hai câu đề (câu 1 – 2): Câu thứ nhất được gọi là là câu phá đề (có tác dụng mở ý cho bài thơ), câu thứ hai là câu thừa đề (tiếp ý của phá đề để chuyển vào nội dung của bài thơ)

Hai câu thực (câu 3 – 4) (hay còn gọi là cặp trạng): có nhiệm vụ giải thích rõ ý chính của bài thơ

Hai câu luận (câu 5 – 6): Phát triển rộng ý chính của bài thơ.

Qua đó các câu 3, 4, 5, 6 thể hiện những tư tưởng, quan điểm, tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ

Hai câu kết (hai câu cuối): Kết thúc ý toàn bài thơ, ở hai câu thơ này, những tư tưởng, tình cảm ở tầng sâu của người nghệ sĩ được bộc lộ một cách rõ ràng nhất

Vần thường được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

Ví dụ: Trong bài thơ ” Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, vần “a” được gieo ở các tiếng “tà”, “hoa”, “nhà”, “gia”, “ta”

d.Nhịp thơ:

Có 2 cách ngắt nhịp thông thường: nhịp 2/2/3 và nhịp 4/3.

e. Niêm luật:

Câu 1 niêm với câu 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7, tạo âm điệu và sự gắn kết giữa các câu thơ với nhau.

Có 2 cặp đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6, đối ở 3 mặt: đối thanh, đối từ loại và đối nghĩa. Nghĩa có thể đối một trong hai ý: đối tương hổ hay đối tương phản

Thường căn cứ vào tiếng thứ hai trong câu một. Nếu tiếng thứ hai là thanh bằng ta nói bài thơ ấy viết theo luật bằng; nếu tiếng thứ hai là thanh trắc ta nói bài thơ viết theo luật trắc.

Sự kết hợp hài hoà giữa các thành bằng trắc tạo nên âm điệu giàu nhạc tính cho thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Thi liệu trong thơ thất ngôn bát cú là những hình ảnh gần gũi trong đời sống như cảnh thiên nhiên, nước non, hoạ cỏ,…

Ví dụ : “Bước tới đèo ngang bóng xế tà/Cỏ cây chèn đá lá chen hoa” (Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

Hình ảnh trong thơ thường mang tính ước lệ tượng trưng cao

Bút pháp thường thấy: chấm phá, lấy điểm tả diện, hoạ mây nảy trăng,…

Những đặc điểm này có sự tương đồng với một số thể thơ Đường khác như thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt,…

Nhận xét chung về thể thơ :

Thơ thất ngôn bát cú là một trong những thể thơ tiêu biểu và đặc sắc, giữ một giá trị nhất định trong không chỉ nền thơ ca Trung Quốc mà trong cả nền văn học Việt Nam và có lẽ là nhiều quốc gia khác trên thế giới, không chỉ một thời mà cả nhiều thời.

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học Hoặc Văn Bản trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!