Xem Nhiều 1/2023 #️ Tích Hợp Liên Môn Khoa Học Xã Hội Trong Dạy Học Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 10 # Top 10 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tích Hợp Liên Môn Khoa Học Xã Hội Trong Dạy Học Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 10 # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tích Hợp Liên Môn Khoa Học Xã Hội Trong Dạy Học Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 10 mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 1/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 2/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 3/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

– Đối với học sinh: Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng ” mở “nên cũng tạo điều kiên,cơ hội cũng như môi trường thuận lợi cho học sinh phat huy tư duy sáng tạo. III. CÁC GIẢI PHÁP III. 1- TÓM TẮT NỘI DUNG GIẢI PHÁP. 1.

Chương một: Những vấn đề chung về dạy học tích hợp.

2.

Chương hai: Tích hợp liên môn khoa học xã hội trong giảng dạy văn

học trung đại lớp 10. 2.1. Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy văn học trung đại. 2.2. Một số phương pháp tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy văn học trung đại. 3.

Chương ba: Thực nghiệm sư phạm. 3.1. Dạy học dự án. 3.2. Kết quả dạy học dự án.

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 4/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

III. 2- NỘI DUNG GIẢI PHÁP CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN 1.1. Cơ sở lý luận: Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tuợng. Các sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những mối quan hệ xác định. Như vậy, giữa các bộ môn khoa học xã hội có quan hệ với nhau, giữa các bộ môn khoa học tự nhiên có quan hệ với nhauvà giữa các bộ môn khoa học xã hội với các bộ môn khoa học tự nhiên cũng có quan hệ với nhau, kiến thức của các môn có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau … 1.2. Cơ sở thực tiễn Nhìn chung trên thế giới, nhiều nước có xu hướng tích hợp các môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: Sinh học, Hóa học,Vật lý hoặc các môn thuộc lĩnh vực xã hội như: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân…để tạo thành môn học mới , với hình thức tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn. Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong một số môn học của trường tiểu học.Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn Tự nhiên – xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5. Trong những năm gần đây, do yêu cầu của xã hội, nhiều nội dung mới đã được tích hợp vào môn học ở bậc THCS , đã được triển khai thí điểm và bước đầu đã thu được những thành công nhất định và đây cũng là nội dung của chương trình sách giáo khoa mới của Bộ GD-ĐT ban hành đồng bộ tới đây. 1.3. Định nghĩa dạy học tích hợp liên môn

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 5/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 6/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. 1.4. Các yêu cầu khi dạy học liên môn trong môn Văn Quan niệm trong thời trung đại là “Văn – Sử – Triết bất phân” cho đến nay vẫn là một chiếc “chìa khóa vạn năng” để khai mở những vấn đề trong văn học từ thời trung đại đến hiện đại. Văn học là trọng tâm, nhưng cần được đặt vào nền tảng lịch sử của thời đại đó, đặt vào quan niệm triết học và nhân sinh của thời đó thể truyền thụ cũng như tiếp nhận. Việc học văn vẫn theo quan niệm “lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học, tìm mọi cách để phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh. Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý đảm bảo giúp học sinh liên kết các kiến thức đã học, thông qua tổ chức hoạt động phù hợp. Cần thiết nhất là đặt HS vào trung tâm của quá trình dạy học, để HS trực tiếp tham gia vào tác phẩm, thức tỉnh ở các em khả năng nhận thức vấn đề, biến quá trình truyền dạy tri thức thành quá trình HS tự nhận thức. Muốn làm được vậy, phải chú trọng mối quan hệ giữa HS và SGK, buộc HS tự đọc, tự học, tự làm việc độc lập theo SGK và theo chỉ dẫn của GV. Một số yêu câu cụ thể đặt ra trong việc dạy học tích hợp liên môn trong môn Ngữ Văn là: – Biến giờ “giảng văn” thành giờ dạy kĩ năng đọc hiểu cho HS, hướng dẫn các em kĩ năng để đọc hiểu bất cứ văn bản nào tương tự. – Dạy học đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo quan điểm tích hợp: Yêu cầu GV phải có trình độ, hiểu biết để hướng dẫn HS đọc – hiểu bản chất sâu rộng của tác phẩm văn chương, nhưng cũng đồng thời không đi sâu vào khía cạnh triết học, tâm lí phức tạp. Với giờ học đọc hiểu, GV cần hướng học sinh thực sự cảm nhận được không khí thời đại của văn bản; cảm thụ cái hay, cái đẹp, sự tinh tế, độc đáo của tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng cho HS năng lực sử dụng tiếng Việt đúng và hay. Qua đó, GV còn phải giúp HS suy nghĩ đọc lập, có thái độ riêng trước những vấn đề văn học và đời sống, tránh lối nói, viết sáo rỗng, sao chép…

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 7/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 8/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

CHƯƠNG HAI: VẬN DỤNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN VÀO GIẢNG DẠY CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 10 2.1. Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong giảng dạy văn học trung đại (VHTĐ). a, Cơ sở tích hợp liên môn: – Khi giảng dạy các tác phẩm văn chương trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khí văn hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa, văn học. Từ điểm xuất phát là chân trời hiện tại, GV phải giúp cho học sinh trở lại chân trời đầu tiên để học tập cách cảm, cách nghĩ của người xưa. Tác phẩm phải được đặt trong hoàn cảnh sinh thành ra nó, bởi lẽ sáng tạo văn học thường bắt nguồn từ một yếu tố có thực nào đó trong lịch sử. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi phải đặt trong hoàn cảnh kháng chiến chống Minh, tiếp nhận Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu phải đặt trong hoàn cảnh chống Nguyên Mông xâm lược mới hiểu được giá trị của tác phẩm và đồng cảm với tác giả, hiểu được hào khí của thời đại, thế đứng của dân tộc. Cái bi, cái hùng trong Bình Ngô đại cáo, tiếng kêu đứt ruột trong Truyện Kiều, cái sâu lắng suy tư trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến… đều có nguồn gốc sâu xa từ bối cảnh văn hóa, lịch sử của thời đại. Vì thế Lịch sử là môn học không thể tách rời văn học, đặc biệt là Văn học trung đại. – Ngoài ra, kiến thức Địa lí cũng vô cùng cần thiết trong việc giảng dạy đọc – hiểu các văn bản văn học trung đại. Do khoảng cách thời gian nên các địa danh, đặc điểm lãnh thổ vốn được ghi lại trong các tác phẩm văn chương có thay đổi, điều này cho thấy sự cần thiết khi tích hợp địa lí trong trường THPT. Đặc biệt, địa lí vùng biển đảo Việt Nam hiện đại có thể tích hợp giảng dạy trong những tác phẩm văn chương về chống giặc ngoại xâm, về chủ quyền lãnh thổ của dân tộc (Ví dụ: Các tác phẩm thời Lí – Trần như Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt?); Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi); Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão)…) – Kiến thức liên môn Giáo dục công dân (GDCD) được sử dụng như một phần của giờ giảng văn, là công cụ đắc lực cho việc đọc hiểu của học sinh. Mỗi

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 9/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

tác phẩm văn học trung đại dù theo hệ quy chiếu văn hóa và lịch sử nào cũng sẽ để lại những bài học làm người có sức thuyết phục vượt thời gian. Chúng ta có thể thấy Bình Ngô đại cáo vẫn là bài học lớn về tinh thần ái quốc và trách nhiệm của công dân với đất nước, hay Truyện Kiều là minh chứng của tình thương, lòng nhân ái và sự sẻ chia. Chính vì thế, giảng dạy VHTĐ là đặt tác phẩm trong mối liên hệ thực tiễn cuộc sống hôm nay. Từ hiện tại, GV sẽ đưa HS về với chân trời đầu tiên để khám phá. Đơn cử cho việc tích hợp liên môn GDCD là chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt trong Bình Ngô đại cáo sẽ giúp HS học bài học GDCD về ý thức giữ gìn độc lập chủ quyền dân tộc trong thời điểm nhạy cảm hiện nay… Vấn đề đặt ra trong giảng dạy VHTĐ là đưa HS cùng với học văn thỏa mãn cả bài học GDCD, kĩ năng sống, tiếp cận với những vấn đề nhân sinh mà con người đang băn khoăn, trăn trở. – Tập trung hơn vào trách nhiệm của HS, thanh thiếu niên ngày nay với dân tộc, chúng ta thấy văn học trung đại có thể liên hệ với cả Giáo dục quốc phòng (GDQP). Những tác phẩm thuộc trào lưu yêu nước như Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung)… đều mang tâm sự của những người công dân yêu nước và khát khao cống hiến cho độc lập, cho sự bền vững của dân tộc. Chính vì thế, bài học GDQP có thể tích hợp trong văn học, vừa thu hút sự hứng thú của HS với việc đọc hiểu văn bản VHTĐ, bồi dưỡng sự hiểu biết của HS trong các vấn đề dân tộc trọng đại. – Tuy nhiên, nếu quá tập trung vào giảng dạy kiến thức liên môn, GV rất dễ mắc phải sai lầm là sa đà vào kiến thức các môn học khác, bỏ qua nhiệm vụ cơ bản nhất của việc đọc hiểu VHTĐ, đó là thi pháp văn chương trung đại. Kiến thức về thi pháp văn học trung đại sẽ là chiếc chìa khóa giúp học sinh có thể giải mã các tác phẩm văn chương. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại khác với văn học hiện đại. Việc tiếp nhận văn học trước đây thường chỉ quan tâm nội dung, ít quan tâm sự lựa chọn tổ chức không gian, thời gian. Vì vây, không khai thác được ý nghĩa thẩm mỹ của những yếu tố nghệ thuật này. Ngoài ra, tiếp nhận văn

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 10/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

học trung đại cũng cần chú ý thi pháp về kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, xem xét từng bình diện để thấy những giá trị truyền thống bền vững và những cách tân sáng tạo của nhà văn, nhà thơ. Đồng thời, giảng dạy văn học trung đại phải bám sát đặc trưng thể loại. Trong chương trình văn THPT, học sinh được tiếp xúc với nhiều thể loại văn học trung đại khác nhau như: Thơ Đường luật, cáo, phú, văn tế, truyện thơ, ngâm khúc, tiểu thuyết chương hồi. Hơn nữa, mỗi thể loại có một kết cấu riêng mang những đặc trưng riêng. Do đó dạy học văn học trung đại cần phải nắm vững đặc trưng của từng thể loại. Tiếp nhận thơ Đường phải thấy được cái hay của nghệ thuật đối câu, đối chữ, đối ý, đối lời. Bên cạnh đó là tính chất chặt chẽ của niêm, luật, tính cô đọng hàm súc, ý tại ngôn ngoại. Tiếp nhận một bài phú phải thấy được đặc trưng của thể loại này là sự phô bày, không hạn định số câu chữ, là sự độc đáo trong các biện pháp khoa trương, sử dụng nhiều điển cố, điển tích… Vậy tích hợp liên môn có thể ở chính bộ môn Ngữ Văn nữa. HS có thể được giảng dạy nhiều tác phẩm trong một tiết học, hay một chuyên đề, để làm rõ nội dung của văn bản cần tìm hiểu, từ đó khái quát nên đặc trưng thể loại. Tóm lại, việc hình thành tích và thực hiện tích hợp liên môn các môn KHXH bao gồm: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng trong giờ học đọc hiểu văn bản VHTĐ là thiết thực, khả thi, nhiều triển vọng trong việc hướng dẫn HS khám phá tác phẩm theo hướng phát triển năng lực cảm thụ và tư duy. b, Một số nội dung tích hợp liên môn KHXH trong dạy học văn học trung đại lớp 10 Sở dĩ chúng tôi tiến hành các nội dung tích hợp liên môn KHXH trong văn học trung đại lớp 10 (Ban Cơ bản) bởi vì SGK Ngữ Văn 10 có một khối lượng lớn các tác phẩm nằm trong hệ thống văn học trung đại, có nhiều đặc điểm chung về nội dung, thi pháp thể loại và được sắp xếp khá logic theo trình tự thời gian. Vậy nên, để dễ dàng hình dung về hệ thống nội dung tích hợp liên

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 11/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

Tác giả – Tác phẩm

Mục tiêu cần đạt

Kiến thức liên môn – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ở các thế kỉ X – XV và Bài 20. Xây dựng và phát triển văn hoá

1

– Cảm nhận được “hào khí Đông A” và khí phách anh hùng của vị tướng giỏi thời Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên – Thấy được những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ các bài thơ.

trong các thế kỉ X – XV (Lớp 10) – GDCD: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Lớp 10). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với tổ quốc. – GDQP: Bài 1: Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc

2

Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) – Nguyễn Trãi

Việt Nam (lớp 10) – Cảm nhận được nét – Lịch sử: Bài 18. Công cuộc đặc sắc của cảnh ngày xây dựng và phát triển kinh tế hè và trong cách sử trong các thế kỉ X – XV và Bài dụng từ ngữ sinh động 20. Xây dựng và phát triển văn của tác giả. – Thấy được ý thức của Nguyễn Trãi trong việc tìm tòi, sáng tạo một thể thơ có bản sắc riêng cho thơ ca Việt Nam.

hoá trong các thế kỉ X – XV (nhấn mạnh chữ Nôm – dấu hiệu ngôn ngữ của dân tộc độc lập và tự chủ) (Lớp 10) – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng (Lớp 10) – GDQP: Bài 1: Truyền thống

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 12/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

đánh giặc giữ nước của dân tộc

3

– Bước đầu hiểu được lối sống thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm ; – Thấy được nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ : lời lẽ tự nhiên, giản dị mà ý vị.

Việt Nam (lớp 10) – Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII (lớp 10) – GDCD: Bài 10: Quan niệm về đạo đức (Lớp 10) – Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII;

4

– Cảm nhận được niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho tất cả những kiếp người tài hoa bạc mệnh và tâm sự khao khát tri âm ở hậu thế của nhà thơ ; – Thấy được nghệ thuật đặc sắc của thơ trữ tình Nguyễn Du.

Bài 24. Tình hình văn hoá ở các thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10) – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức(Lớp 10); Bài 6: Công dân với quyền tự do cơ bản (Lớp 12). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống, vấn đề bình đẳng giới

5

(Lớp 12) – Lịch sử: Bài 17. Quá trình

– Hiểu được quan niệm của một bậc đại sư hình thành và phát triển của nhà về vận nước, từ đó thấy nước phong kiến (từ thế kỉ X được tấm lòng đối với đến thế kỉ XV) (Lớp 10) đất nước của tác giả ; – Thấy được cách sử dụng từ ngữ và lối so sánh của bài thơ.

– GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng (Lớp 10); Tích hợp giáo dục kĩ năng sống (L12) – vô vi không chỉ là đường lối trị nước của các bậc quân vương, nó còn là một bài học về nhân cách. – GDQP: Bài 1: Truyền thống

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 13/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam (lớp 10) – Lịch sử: Bài 20. Xây dựng và

6

7

8

9

– Cảm nhận được sự nuối tiếc của kiếp người ngắn ngủi trước cõi đời. Từ đó ta thấy tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của con người thời đại, vượt qua quy luật của tạo hoá ;

phát triển văn hoá trong các thế

– Nắm được cách sử dụng từ ngữ, nghệ thuật xây dựng hình ảnh của bài thơ.

cộng đồng (Lớp 10)

– Cảm nhận được nỗi nhớ quê hương, xứ sở, lòng yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ ; – Thấy được hệ thống từ ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, quen thuộc. – Thấy được tình cảm thắm thiết của Lí Bạch.

kỉ X – XV (Lớp 10) – chú trọng sự phát triển của Phật giáo trong thời Lí, Trần – GDCD: Bài 10: Quan niệm về đạo đức; Bài 13: Công dân với Tích hợp giáo dục kĩ năng sống (L12) – sống lạc quan, biết vươn lên trong cuộc sống. – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. (Lớp 10) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: tình yêu quê hương, đất nước (Lớp 12)

Tích hợp giáo dục kĩ năng

– Nắm được đặc điểm tình và cảnh hoà quyện trong một bài thơ.

sống: Về tình bạn trong sáng,

– Cảm nhận được lòng yêu nước, thương nhà sâu lắng của Đỗ Phủ trước cảnh chiều thu buồn nơi đất khách ; – Thấy được kết cấu chặt chẽ và tính chất cô đọng, hàm súc của bài thơ.

– GDCD: Bài 13: Công dân với

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

sâu nặng của con người.

cộng đồng (Lớp 10) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: lòng yêu nước, trách nhiệm của công dân với đất nước (Lớp 12)

Trang 14/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

10

11

12

+ Khe chim kêu (Điểu minh giản)

– Cảm nhận những suy tư sâu lắng đầy triết lí trước cảnh lầu Hoàng Hạc thể hiện nỗi buồn và nỗi lòng nhớ quê hương của tác giả ; – Nắm được nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. – Thấy được diễn biến tâm trạng của người chinh phụ, qua đó lên án chiến tranh phi nghĩa, đề cao khát vọng sống của con người ; – Cảm nhận được tư tưởng nhân đạo hoà bình ; – Nhận ra được cấu tứ độc đáo của bài thơ – Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn tinh tế của nhà thơ trong đêm trăng thanh tĩnh ; – Thấy được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước tươi đẹp ; – Thấy được mối quan hệ giữa động và tĩnh trong cách thể hiện của tác giả.

– GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng (Lớp 10) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: lòng yêu nước, trách nhiệm của công dân với đất nước (Lớp 12) – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức (Lớp 10); Bài 6: Công dân với quyền tự do cơ bản (Lớp 12). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống, vấn đề bình đẳng giới và vai trò của người phụ nữ trong xã hội (Lớp 12)

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống (Lớp 12)

– Địa lí: Giới thiệu về Nhật Bản, tự nhiên và xã hội Nhật

13

– Thơ Hai – kư của Ba- sô

– Bước đầu làm quen với thơ hai-cư, thể loại thơ truyền thống của Nhật Bản ;

Bản.

– Hiểu được ý nghĩa và cảm nhận được vẻ đẹp của những bài thơ haicư.

với các phạm trù đạo đức (Lớp

– GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân 10); Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Cách ứng xử, quan niệm sống. (Lớp 12)

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 15/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

– Lịch sử: Bài 19. Những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ở các thế kỉ X – XV và Bài 20.

14

Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú)

– Cảm nhận được niềm tự hào về truyền thống dân tộc và tư tưởng nhân văn của tác giả với việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử ;

Xây dựng và phát triển văn hoá

– Nắm được đặc điểm cơ bản của thể phú, đặc biệt là những nét đặc sắc của bài Phú sông Bạch Đằng.

Tổ quốc. (Lớp 10).

trong các thế kỉ X – XV (Lớp 10) – GDCD: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với tổ quốc. – GDQP: Bài 1: Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc

15

Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo) – Nguyễn Trãi

– Cảm nhận được lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc được thể hiện tập trung ở tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt bài cáo. Thấy rõ đây là yếu tố quyết định làm nên thắng lợi trong chiến tranh chống xâm lược ; – Nắm được những đặc trưng cơ bản của thể cáo và những sáng tạo đặc sắc của nghệ thuật trong áng văn ; – Nhận thức được vẻ đẹp của áng “thiên cổ hùng văn” với sự kết hợp hài hoà của sức mạnh lí lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật.

16

– Hiền tài là

– Thấy được quan niệm

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Việt Nam (lớp 10) – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ở các thế kỉ X – XV và Bài 20. Xây dựng và phát triển văn hoá trong các thế kỉ X – XV (Lớp 10) – Địa lý: Vùng biển Việt Nam (lớp 12). – GDCD: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Lớp 10). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với tổ quốc. – GDQP: Bài 1: Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam (lớp 10) – Lịch sử: Bài 20. Xây dựng và

Trang 16/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

17

đúng đắn về vai trò của người hiền tài đối với vận mệnh đất nước và ý nghĩa của việc khắc bia biểu dương họ ; – Cảm nhận được lòng yêu đất nước và tự hào dân tộc ; – Hiểu được cách viết văn chính luận sắc sảo, lập luận, kết cấu chặt chẽ, thuyết phục người đọc, người nghe.

phát triển văn hoá trong các thế

– Hiểu được niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của tác giả trong việc bảo tồn di sản văn học của dân tộc ; từ đó có thái độ trân trọng và yêu quý di sản văn hoá dân tộc ; – Nắm được nghệ

– GDCD: Bài 13: Công dân với

thuật lập luận của tác giả. 18

– Nhận thức được vẻ đẹp nhân cách của con người luôn trọng nghĩa nước hơn tình nhà qua ứng xử của các nhân vật lịch sử; – Thấy được đặc điểm của ngòi bút viết sử Ngô Sĩ Liên.

kỉ X – XV (Lớp 10) – GDCD: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Lớp 10); Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với tổ quốc; Định hướng tạo nên người tài cho đất nước.

cộng đồng (Lớp 10) Tích hợp: Niềm tự hào với văn hóa, văn học dân tộc. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: lòng yêu nước, trách nhiệm của công dân với đất nước (Lớp 12) – Lịch sử: Bài 19. Những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ở các thế kỉ X – XV và Bài 20. Xây dựng và phát triển văn hoá trong các thế kỉ X – XV (Lớp 10) – GDCD: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Lớp 10). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với tổ quốc. – GDQP: Bài 1: Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 17/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

Việt Nam (lớp 10) – Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII

19

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục – trích Truyền kì mạn lục)

– Thấy được tấm gương dũng cảm, trọng công lí, chống gian tà của Ngô Tử Văn và qua đó thấy được tinh thần yêu nước của người trí thức nước Việt ; – Thấy được nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn của tác giả.

(Lớp 10) – GDCD: Bài 10: Quan niệm về đạo đức; Bài 13: Công dân với cộng đồng. (Lớp 10); Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (Lớp 12) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: Trách nhiệm của người công dân với cộng đồng, Rèn luyện sự quyết tâm, cứng cỏi và tin tưởng vào công lí.

20

21

– Hiểu được tính cách, phẩm chất của Trương Phi và ý nghĩa của vấn đề “trung thành hay phản bội” mà tác giả muốn đặt ra trong đoạn trích ; – Thấy được nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật và không khí chiến trận của tiểu thuyết chương hồi Tam quốc diễn nghĩa. – Cảm nhận được nỗi đau khổ của người chinh phụ phải sống trong cảnh cô đơn, chia lìa và hiểu được ý nghĩa đề cao hạnh phúc lứa đôi qua đoạn trích ; – Thấy được sự tài hoa, tinh tế trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật.

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

– GDCD: Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức(Lớp 10) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống (Lớp 12)

– Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII; Bài 24. Tình hình văn hoá ở các thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10) – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức(Lớp

Trang 18/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

10); Bài 6: Công dân với quyền tự do cơ bản (Lớp 12). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống, vấn đề bình đẳng giới (Lớp 12) – Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII; Bài 24. Tình hình văn hoá ở các thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10)

22

– Trao duyên (trích Truyện Kiều)

– Cảm nhận được tình yêu sâu nặng và bi kịch của Thuý Kiều trong đoạn trích ; – Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tài tình của Nguyễn Du.

– GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức(Lớp 10); Bài 6: Công dân với quyền tự do cơ bản (Lớp 12); Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân (L10) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống, vấn đề bình đẳng giới (Lớp 12) – Lịch sử: Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII;

23

– Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều)

– Qua nhân vật Từ Hải hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du ;

Bài 24. Tình hình văn hoá ở các thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10) – GDCD: Bài 13: Công dân với

cộng đồng; Bài 10: Công dân – Thấy được những đặc sắc trong nghệ thuật với các phạm trù đạo đức(Lớp miêu tả nhân vật của tác 10); Bài 6: Công dân với quyền giả. tự do cơ bản (Lớp 12). Tích hợp giáo dục kĩ năng sống

24

– Hiểu được tình

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

(L12) – Lịch sử: Bài 21. Những biến

Trang 19/ 81

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015

đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII;

Nỗi thương mình (trích Truyện Kiều)

cảm, cảnh ngộ mà Thuý Kiều phải đương đầu và ý thức sâu sắc của nàng về phẩm giá ; – Thấy được đặc sắc

Bài 24. Tình hình văn hoá ở các

nghệ thuật của đoạn

với các phạm trù đạo đức(Lớp

trích : vai trò của các

10); Bài 6: Công dân với quyền

phép tu từ, hình thái đối

tự do cơ bản (Lớp 12).

xứng.

Tích hợp giáo dục kĩ năng

thế kỉ XVI – XVIII (Lớp 10) – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân

sống, vấn đề tình thương, bình đẳng giới (Lớp 12) – Lịch sử: Bài 21. Những biến – Cảm nhận được vẻ đẹp của mối tình Kim Kiều và khát vọng hạnh phúc của đôi trai tài gái sắc ; 25

Thề nguyền (trích Truyện Kiều);

– Thấy được tấm lòng đồng cảm của Nguyễn Du với con người ; – Thấy được nghệ thuật đặc sắc trong việc sử dụng từ ngữ, xây dựng hình ảnh.

đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII. – GDCD: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 10: Công dân với các phạm trù đạo đức(Lớp 10); Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân (L10); Bài 6: Công dân với quyền tự do cơ bản (Lớp 12) Tích hợp giáo dục kĩ năng sống, vấn đề bình đẳng giới (Lớp 12)

GV ĐẶng Hoàng Minh Trang – THPT A Hải Hậu

Trang 20/ 81

Ôn Luyện Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 9

PHẦN I: NỘI DUNG ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠIBảng hệ thống các tác giả, tác phẩm văn học trung đại đã học ở lớp 9

TTTên đoạn tríchTên tác giảNội dung chủ yếuNghệ thuật chủ yếu

1Chuyện người con gái Nam Xương16 trong 20 truyện truyền kỳ mạn lục. Mượn cốt truyện “Vợ chàng Trương”Nguyễn Dữ(TK16)– Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.– Niềm cảm thương số phận bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến.– Truyện truyền kỳ viết bằng chữ Hán.– Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kỳ ảo, hoang đường với cách kể chuyện, xây dựng nhân vật rất thành công.

2Chuyện cũ trong phủ chúa TrịnhViết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu TK XIX)Phạm Đình Hổ (TL 18)Đời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phogn kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tànTuỳ bút chữ Hán, ghi chép theo cảm hứng sự việc, câu chuyện con người đương thời một cách cụ thể, chân thực, sinh động.

3Hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống tríPhản ánh giai đoạn lịch sử đầy biến động của XHPKVN cuối TK XVIIINgô Gia Văn Phái (Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du TK 18)– Hình ảnh anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến công thần tốc vĩ đại đại phá quân Thanh mùa xuân 1789.– Sự thảm hại của quân tướng Tôn Sĩ Nghị và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước hại dân.– Tiểu thuyết lịch sử chương hồi viết bằng chữ Hán.– Cách kể chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự việc, khắc hoạ nhân vật chủ yếu qua hành động và lời nói.

4Truyện KiềuĐầu TK XIX. Mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Trung QuốcNguyễn Du (TK 18-19)Cuộc đời và tính cách Nguyễn Du, vai trò và vị trí của ông trong lịch sử văn học Việt Nam.– Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Truyện thơ Nôm, lục bát.– Tóm tắt nội dung cốt chuyện, sơ lược giá trị nội dung và nghệ thuật (SGK)

aChị em Thuý KiềuNguyễn Du (TK 18-19)Trân trọng ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều. Vẻ đẹp toàn bích của những thiếu nữ phong kiến. Qua đó dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh.– Thể hiện cảm hứng nhân văn văn Nguyễn DuNghệ thuật ước lệ cổ điển lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để tả vẻ đẹp con người. Khắc hoạ rõ nét chân dung chị em Thuý Kiều.

bCảnh ngày xuânNguyễn Du (TK 18-19)Bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng.Tả cảnh thiên nhiên bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu chất tạo hình.

cKiều ở lầu Ngưng BíchNguyễn Du (TK 18-19)Cảnh ngộ cô đơn buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo rất đáng thương, đáng trân trọng của Thuý Kiều– Miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất.– Bút pháp tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.

dMã Giám Sinh mua KiềuNguyễn Du (TK 18-19)– Bóc trần bản chất con buôn xấu xa, đê tiện của Mã Giám Sinh.– Hoàn cảnh đáng thương của Thuý Kiều trong cơn gia biến.– Tố cáo xã hội phong kiến, chà đạp lên sắc tài, nhân phẩm của người phụ nữ.Nghệ thuật kể chuyện kết hợp với miêu tả ngoại hình, cử chỉ và ngôn ngữ đối thoại để khắc hoạ tính cách nhân vật (Mã Giám Sinh).

5Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt NgaNguyễn Đình Chiểu (TK19)– Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp, vai trò của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học VN.– Tóm tắt cốt chuyện LVT.– Khát vọng hành đạo giúp đời sống của tác giả, khắc hoạ những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật : LVT tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài ; KNN hiền hậu, nết na, ân tình.– Là truyền thơ Nôm, một trong những tác phẩm xuất sắc của NĐC được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.– Nghệ thuật kể chuyện, miêu tả rất giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc Nam Bộ.

Lục Vân Tiên gặp nạnNguyễn Đình Chiểu (TK 19)– Sự đối lập giữa thiện và ác, giữa nhân cách cao cả và những toan tính thấp hèn.– Thái độ, tình cảm và lòng tin của tác giả đối với nhân dân lao động.– Nghệ thuật kể chuyện kết hợp với tả nhân

Một Số Hướng Tiếp Nhận Tác Phẩm Văn Học Trong Dạy Học Văn

       Đỗ Văn Hiểu

Tóm tắt. Hiện nay có rất nhiều lí thuyết nghiên cứu văn học được giới thiệu ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là hệ thống hóa chúng như thế nào để có thể vận dụng vào dạy học văn trong trường phổ thông. Bài viết này hướng tới giới thiệu, phân tích ưu điểm, hạn chế của ba hướng tiếp nhận văn học cơ bản có thể vận dụng trong dạy học văn, đó là hướng tiếp nhận văn học từ góc độ tác giả, tiếp nhận văn học từ góc độ văn bản và tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa.

Từ khóa: Tiếp nhận văn học, Nghiên cứu tác giả, Nghiên cứu văn bản, Nghiên cứu văn hóaA

​          K

1.       Mở đầu

          Tiếp nhận văn học trong trường phổ thông có những nét đặc thù so với tiếp nhận văn học nói chung, hoạt động này được diễn ra trong môi trường sư phạm có sự hướng dẫn của giáo viên, có sự tương tác giữa các học sinh với nhau, tiếp nhận văn bản đã được lựa chọn kĩ theo định hướng giáo dục. Vì thế, một số nhà nghiên cứu đã có ý thức sử dụng thành tựu lí thuyết nghiên cứu văn học mới nhằm định hướng cho hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường. GS Trần Đình Sử là người tâm huyết trong lĩnh vực này. Năm 1993 ông công bố Một số vấn đề thi pháp học[1] đề xướng vận dụng Thi pháp học vào dạy học văn trong trường phổ thông với những chỉ dẫn quan trọng về nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, cốt truyện, kết cấu, lời văn nghệ thuật. Năm 2006 trong Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay[2] ông đã sử dụng lí thuyết về văn bản văn học để khởi xướng hướng dạy học văn mới. Năm 2015 GS Trần Đình Sử lại chủ trương Đưa kí hiệu học vào môn đọc văn trung học phổ thông[3]. Năm 2013 Nguyễn Văn Tùng xuất bản cuốn Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác phẩm[4] giới thiệu và vận dụng một số phạm trù lí luận văn học vào nghiên cứu tác phẩm văn học trong trường phổ thông, nhưng về cơ bản vẫn là các phạm trù của thi pháp học. Bên cạnh Thi pháp học,  kí hiệu học, Mĩ học tiếp nhận cũng được chú ý vận dụng vào nghiên cứu dạy học văn trong trường phổ thông, tiêu biểu như bài Mĩ học tiếp nhận và dạy – học văn[5] của Hồ Ngọc Mân, Sự gợi ý của lí thuyết tiếp nhận văn học đối với việc dạy học đọc hiểu văn bản ở trường THPT[6] của Trần Hữu Phong. Tuy nhiên, Mĩ học tiếp nhận nghiêng sang nghiên cứu người đọc nên bài viết này sẽ không đi sâu trình bày ở phần nội dung. Như vậy có thể thấy, mặc dù đã chú ý vận dụng lí thuyết nghiên cứu văn học vào dạy học văn trong trường phổ thông, nhưng các công trình thường chỉ nhấn mạnh một lí thuyết nên ít nhiều còn phiến diện. Bên cạnh đó, suốt từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, Thi pháp học và sự mở rộng của thi pháp học vẫn là hướng chủ đạo trong nghiên cứu vận dụng lí thuyết văn học vào dạy học văn. Trước tình hình đó, người viết muốn hệ thống hóa lí thuyết nghiên cứu văn học vốn phong phú phức tạp thành một số hướng tiếp nhận cơ bản, trong đó đặc biệt lưu ý cần tăng cường vận dụng “tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa” vào dạy học văn trong trường phổ thông nhằm tăng cường tính kết nối giữa việc dạy học văn trong nhà trường với hiện thực đời sống xã hội, góp phần xóa bỏ định kiến “những thứ trong giờ dạy học văn xa lạ với đời thực” đang tồn tại trong học sinh hiện nay.

2.       Nội dung nghiên cứu                 

 2.1. Tiếp nhận văn học từ góc độ tác giả

            Tiếp nhận văn học từ góc độ tác giả là hướng tiếp nhận có lịch sử lâu đời,  cơ sở của hướng tiếp nhận này là quan niệm: khi sáng tác, nhà văn bao giờ cũng gửi gắm điều gì đó trong văn bản tác phẩm, cho nên, tiếp nhận văn học là nỗ lực đi tìm dụng ý của nhà văn. Trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc có quan niệm cho rằng sáng tác là giải tỏa những u uất trong lòng (Tư Mã Thiên), là thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội: “Văn chương nên vì thời thế mà viết, thơ ca nên vì hiện thực mà sáng tác” (Bạch Cư Dị). Ở phương Tây, mô hình lí luận tác giả là trung tâm về cơ bản bao gồm Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa tượng trưng, Chủ nghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa trực giác, Phân tâm học. Chủ nghĩa lãng mạn cho rằng thơ ca biểu đạt thế giới nội tâm chứ không mô phỏng thế giới bên ngoài. Theo Abrams, đối với Chủ nghĩa lãng mạn, thơ không phải là mô phỏng thế giới hiện thực mà là sáng tạo ra một tự nhiên khác. Nhà thơ không còn mô phỏng thế giới hiện thực như họa sĩ vẽ tranh phong cảnh hoặc tranh chân dung truyền thống nữa, mà giống như thượng đế sáng tạo ra một thế giới mới, một thế giới khác, bình đẳng với thế giới hiện thực. Thơ là sản phẩm của tưởng tượng và tình cảm, nó đến từ nội tâm nhà thơ chứ không phải từ kinh nghiệm sống bình thường. Là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa tượng trưng, Paul Valery (1871-1945) nhấn mạnh thơ ca phải miêu tả chân thực nội tâm, khoác lên khái niệm trừu tượng chiếc áo cảm tính. Đại diện của chủ nghĩa biểu hiện Bendetto Croce (1866-1952) cho rằng “Nghệ thuật là trực giác” và “trực giác là biểu hiện”[7]. Phân tâm học cho rằng hoạt động nghệ thuật chính là con đường chủ yếu để đạt được sự thăng hoa thông qua sự chuyển di libido hoặc bản năng tính dục, nhà nghệ thuật được an ủi trong thế giới hoang tưởng do họ sáng tạo ra. Loại lí luận này coi bản năng tính dục của con người là động lực của nghệ thuật, cho rằng nghệ thuật là sản phẩm của xung động bản năng của con người. Trong Nhà văn và giấc mơ ban ngày Freud nói: “một tác phẩm có tính sáng tạo giống như giấc mơ ban ngày, là vật thay thế và tiếp tục trò chơi mà thời ấu thơ đã từng chơi”[8]. Từ những quan niệm về sáng tác như vậy có thể thấy, tiếp nhận văn học từ góc độ tác giả có hạt nhân hợp lí.

            Trong hướng tiếp nhận văn học từ góc độ tác giả thì cách tiếp nhận của Sainte-Beuve, Taine, Gustave dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng thế kỉ XIX được thao tác khá cụ thể. Họ cho rằng, thông qua nghiên cứu hoàn cảnh của nhà văn (hoàn cảnh gia đình, xã hội, giáo dục, đời sống riêng) có thể lí giải được vì sao nhà văn lại viết như vậy. Sainte-Beuve cho rằng tác phẩm văn học chính là sự phản ánh tính cách, khí chất, và trạng thái tinh thần của cá nhân nhà văn và biểu hiện ý đồ của nhà văn. Ông nói, “đối đến tác phẩm của họ. Chẳng hạn họ quan niệm về tôn giáo như thế nào? Xử lí vấn đề phụ nữ như thế nào?  Ứng xử với tiền bạc họ như thế nào? Họ là người giàu hay người nghèo…”[9]. Như vậy, theo Sainte-Beuve  cuộc sống của nhà văn là chìa khóa mở vào bí mật của tác phẩm. Tiếp nhận văn học theo cách của Sainte-Beuve đến ngày nay vẫn là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu phê bình văn học. 

H.A. Taine cho rằng gia tộc, hoàn cảnh và thời đại có ảnh hưởng quyết định đến nhà văn. Cũng là kịch Pháp, kịch của thời đại Corneille khác với kịch thời đại Voltaire, cũng là kịch Hy Lạp, nhưng Aeschylus khác với Euripides. Chủng tộc là nguyên nhân bên trong, hoàn cảnh và thời đại là tác động bên ngoài, chỉ cần nghiên cứu cẩn thận ba phương diện này thì “không chỉ có thể làm rõ toàn bộ nguyên nhân trước mắt, mà còn làm rõ tất cả ngọn nguồn của động lực sâu xa”[10]. Như vậy, đặc sắc của nhà văn, nhà nghệ thuật không chỉ quy về thiên tài thần bí, mà còn thuộc về một phần trong kết cấu tổng thể của tự nhiên và xã hội. Theo Taine, sở dĩ Hy Lạp cổ đại xuất hiện những tác phẩm điêu khắc hoàn mĩ tuyệt vời là vì đặc tính của dân tộc Hy Lạp: thông minh, dễ gần, yêu khoa học, năng lực tư duy trừu tượng phát triển, địa hình Hy Lạp nhỏ hẹp, không khí trong sạch. Đây là một dân tộc vui vẻ, đa thần giáo, chính trị thành bang làm cho nhân tính được phát triển toàn diện. Tất cả những điều này biến người Hy Lạp thành những nhà nghệ thuật tốt nhất, họ giỏi về phân biệt quan hệ vi diệu, sáng tạo ra những bức điêu khắc tinh tế và những công trình kiến trúc thần miếu tỉ lệ hài hòa, trang nghiêm và trầm tĩnh.

Nhưng Taine lí giải quá máy móc về quan hệ giữa nhà văn và hoàn cảnh, vì dù sao con người cũng không phải là thực vật, đặc biệt là đối với những nhà thơ nhà văn vĩ đại, nếu chỉ dựa vào hoàn cảnh thì khó có thể lí giải được triệt để một số vấn đề. Ví dụ trong một quốc gia, một thời đại vì sao vẫn có nhà văn thuộc các loại hình khác nhau, phong cách khác nhau, thể hiện giá trị cao thấp khác nhau? Đối với vấn đề này, Gustave Lanson một mặt tiếp tục phương hướng chủ nghĩa thực chứng của Taine, mặc khác đã tiến hành điều chỉnh, vừa xem xét ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội, vừa thừa nhận phần thiên tài, cá tính của nhà văn. Ông nhấn mạnh nhân tố xã hội, vì đây là cơ sở hình thành trạng thái tinh thần của nhà văn, đồng thời cũng coi trọng khảo sát cuộc sống cá nhân của họ.

            Cũng cần lưu ý rằng, việc tìm hiểu nhà văn, gia tộc, thời đại có ý nghĩa quan trọng nhưng không nên tuyệt đối hóa cách đọc này, bởi vì “Cho dù giữa tác phẩm nghệ thuật và cuộc đời nhà văn có quan hệ mật thiết, nhưng tuyệt đối không có nghĩa là tác phẩm nghệ thuật chỉ là bản sao của đời sống nhà văn”[11], mặt khác, tư liệu về cuộc đời nhà văn và hoàn cảnh sáng tác nhiều khi không có hoặc khó xác định được mức độ chân thực của chúng, không những thế, bản thân văn bản văn học cũng có sự tồn tại tương đối độc lập, vượt ra khỏi sự khống chế của người sáng tác… Trong dạy học văn ở trường phổ thông, hướng tiếp cận này được thể hiện khá rõ trong phần giới thiệu khái lược về tiểu sử nhà văn, sự nghiệp sáng tác và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm. Dạy học theo hướng này giáo viên và học sinh chỉ nên tập trung vào những chi tiết ảnh hưởng đến sự xuất hiện của tác phẩm văn học, tức là những thông tin về tiểu sử, sự nghiệp, hoàn cảnh sáng tác để lại dấu ấn trong văn bản tác phẩm.

                2.2. Tiếp nhận văn học từ góc độ văn bản

            Sang thế kỉ XX, lí luận phê bình phương Tây có một bước chuyển ngoặt lớn, chuyển từ mô hình tác giả trung tâm luận sang văn bản trung tâm luận, đề xuất cách tiếp nhận từ văn bản tác phẩm. Bắt đầu với trường phái Phê bình mới Anh Mỹ (1920-1950), họ coi tác phẩm là vật tượng trưng khách quan độc lập, là thể hữu cơ tự đủ không có liên hệ gì với bên ngoài. Họ cho rằng về bản chất văn học là một hình thức ngôn ngữ đặc thù, nhiệm vụ của phê bình văn học là dùng phương thức đọc kĩ (close reading), phân tích các tầng khác nhau của thơ ca, nghiên cứu quan hệ ẩn kín và tác động qua lại giữa các bộ phận của tác phẩm. Phê bình mới nhấn mạnh tính độc lập của tác phẩm, cho rằng sau khi tác giả hoàn thành tác phẩm, tác phẩm không còn thuộc về tác giả nữa, nên cần tiếp nhận tác phẩm từ chính bản thân tác phẩm. Điều mà nhà phê bình cần nắm bắt chỉ là ý nghĩa của từ ngữ, bao gồm toàn bộ ý nghĩa lịch sử của ngôn ngữ tác phẩm, ý nghĩa liên tưởng của nó và ý nghĩa có thể gọi tên sự vật khách quan. Chủ nghĩa hình thức Nga lại chú ý đến phân tích các thủ pháp lạ hóa trong cấu tạo văn bản, phân biệt ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ hằng ngày, chú ý đến tính văn học của văn bản văn học. Chủ nghĩa cấu trúc coi tác phẩm là hệ thống kí hiệu, tồn tại khép kín, tự nó sinh thành ý nghĩa, đồng thời tìm ra kết cấu bên trong của văn bản. Phương pháp của chủ nghĩa cấu trúc nhấn mạnh tính hệ thống, chú trọng quan hệ giữa văn bản và văn bản, tìm ra kết cấu chung chi phối văn bản văn học cụ thể.

            Tiếp nhận văn học từ góc độ văn bản đánh dấu bước ngoặt trong lí luận phê bình văn học phương Tây, nó bao gồm nhiều trường phái nghiên cứu khác nhau, tương đối phức tạp. Ở Việt Nam, Thi pháp học thể hiện khá rõ đặc điểm của hướng tiếp nhận này. Thi pháp học do Trần Đình Sử giới thiệu và phát triển đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi cách tiếp nhận văn học ở Việt Nam đương thời. Theo Trần Đình Sử, “điểm làm cho thi pháp học có vị trí độc lập, phân biệt với các bộ môn khác trong khoa văn học là nó chỉ nghiên cứu cấu trúc và thuộc tính nghệ thuật của văn học từ góc độ nghệ thuật”[12]. Theo Trần Đình Sử, khi tiếp nhận văn học theo hướng thi pháp, chúng ta cần chú ý tiếp cận các vấn đề sau:

Tiếp nhận văn học từ góc độ thi pháp trước hết cần tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người. Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu “sự lí giải, cắt nghĩa sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[13]. Để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người, người đọc tìm hiểu cách nhà văn gọi tên nhân vật như thế nào, miêu tả nhân vật như thế nào, chú ý lặp đi lặp lại các hành động gì của nhân vật, miêu tả tâm lí nhân vật như thế nào, thậm chí chi tiết, ngôn ngữ cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người. Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người sẽ thấy được chiều sâu bên trong chi phối cách xây dựng nhân vật của nhà văn, sẽ có được tiêu chuẩn đánh giá giá trị nhân văn trong các hiện tượng văn học. Chẳng hạn, con người trong thần thoại thường mang chức năng của một vài hiện tượng tự nhiên, giỏi biến hóa, họ là tổ tiên của nhân loại; con người trong sử thi thường mang vẻ đẹp đại diện cho cả cộng đồng vì thế họ tồn tại trong sự ngưỡng mộ, tôn kính của người đời sau; con người trong cổ tích lại là con người xuất hiện để thực hiện một chức năng nào đó, như chức năng đại diện cho cái thiện, cái ác, chức năng phù trợ…, con người trong văn học trung đại Việt Nam được quan niệm là một tiểu vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, được khắc họa theo nguyên tắc tỏ lòng, ngoại hiện hóa những biểu hiện bên trong, con người bổn phận; tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thể hiện quan niệm về con người cá nhân xung đột với gia đình truyền thống; văn học hiện thực phê phán thể hiện quan niệm về con người là sản phẩm của hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối… Trong sáng tác của mỗi nhà văn cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người. Chẳng hạn, thơ Xuân Diệu thể hiện con người ham yêu khát sống, sáng tác của Nam Cao thể hiện quan niệm con người luôn cố gắng chống lại sự tha hóa của hoàn cảnh…

Tiếp nhận văn học theo kiểu Thi pháp học quan tâm đến vấn đề thời gian nghệ thuật. Văn học là nghệ thuật của thời gian, khi đọc một văn bản, chúng ta mất một lượng thời gian nhất định, thế giới nghệ thuật trong tác phẩm cũng dần dần được hoàn thiện trong dòng thời gian. Thời gian không chỉ là đối tượng được thể hiện trong văn bản văn học, mà còn là một nhân tố cấu thành văn bản văn học. Khi khảo sát thời gian trong văn bản văn học, thi pháp học đặc biệt quan tâm đến vấn đề thời gian trần thuật, tức là “thời gian biểu diễn bằng phương tiện ngôn từ”[14] . Khi khảo sát thời gian trần thuật, thi pháp học chú ý đến mở đầu và kết thúc của trần thuật; tốc độ, nhịp độ của trần thuật; chiều hướng của thời gian có thể là phát triển theo chiều tuyến tính của sự kiện được trần thuật, cũng có thể trần thuật đảo ngược từ hiện tại về quá khứ… Thời gian trần thuật là một phương thức biểu hiện nghệ thuật, do đó, nó góp phần thể hiện tiết tấu của bức tranh cuộc sống được tái hiện, tư tưởng tình cảm của người trần thuật… Bên cạnh thời gian trần thuật, Thi pháp học cũng quan tâm đến thời gian được trần thuật với các bình diện thời gian hiện tại, thời gian quá khứ, thời gian tương lai, và đi kèm với nó là quan niệm về thời gian, ý thức về thời gian. Chẳng hạn câu thơ: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” (Truyện Kiều, Nguyễn Du) thể hiện rất rõ quan niệm về thời gian tâm trạng. Khi người ta buồn, thời gian dường như dài lê thê. Hoặc trong thơ Xuân Diệu, “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già” (Vội vàng) thể hiện quan niệm về thời gian hiện tại ngắn ngủi. Thời gian trong thần thoại thường là thời gian gắn với sự sáng tạo, sự khởi nguồn, thời gian nằm ngoài lịch sử, không liên hệ trực tiếp với thời gian lịch sử. Thời gian trong sử thi là thời gian thuộc về “quá khứ tuyệt đối”, cách biệt hẳn với người kể, gắn với kí ức cộng đồng, khoảng cách thời gian đó khiến cho những đối tượng cao đẹp càng trở nên cao đẹp hơn, nó tạo ra sự thành kính trong cách kể….

Tiếp nhận văn học từ góc độ Thi pháp học cũng quan tâm đến vấn đề không gian nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật đều là phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Với tư cách là phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, không gian có thể biểu hiện ở các phạm trù như cao – thấp, rộng – hẹp, trong – ngoài, thoáng đãng – tù túng hoặc gắn với các địa điểm cụ thể như núi non, sông biển, nhà cửa, con đường, bầu trời… Khi tìm hiểu không gian nghệ thuật, bên cạnh việc chỉ ra đặc điểm của thế giới nghệ thuật được tái hiện, còn cần chỉ ra quan niệm của nhà văn về không gian. Chẳng hạn, trong sáng tác của Nam Cao có hai phạm trù không gian rất đáng quan tâm, đó là không gian trong nhà, và không gian ngoài đường. Đối với Nam Cao, không gian trong nhà là không gian của sự hoàn lương, còn không gian ngoài đường thường gắn với sự tha hóa. Chính vì thế, mà ở ngoài đường thì “Hắn vừa đi vừa chửi” (Chí Phèo), hoặc khi ra khỏi nhà, Hộ quên cả ý định mang tiền nhuận bút về cho vợ con, lại ngồi uống rượu tán chuyện với bạn bè, và nửa say nửa tỉnh về quát tháo vợ con. Nhưng khi về tới căn lều của mình, Chí Phèo lại trở nên rất hiền; ở trong nhà sau một đêm, sáng hôm sau tỉnh dậy, Hộ lại thấy hối hận và tự lên án mình “chỉ là… một thằng… khốn nạn” (Đời thừa). Chỉ ra được quan niệm của nhà văn về không gian cũng chính là chỉ ra được cảm nhận của nhà văn về cuộc sống, thấy được chiều sâu trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.

            Ngoài ra, tiếp nhận văn học từ góc độ Thi pháp học còn chú ý đến vấn đề thi pháp thể loại, kết cấu hình tượng, kết cấu văn bản trần thuật và ngôn từ nghệ thuật… Có thể nói, tiếp nhận văn học từ góc độ văn bản là hướng tiếp nhận quan trọng, trong trường hợp không có những tư liệu về cuộc đời nhà văn, thời đại, hoàn cảnh sáng tác, chỉ cần có văn bản trong tay là có cơ sở để tiến hành hoạt động tiếp nhận. Hoạt động dạy học văn cũng không thể xa rời văn bản, giáo viên và học sinh cùng tiếp cận văn bản, giải mã các kí hiệu của văn bản ngôn từ, thông qua văn bản khám phá thế giới nghệ thuật, tư tưởng quan niệm của nhà văn, tìm ra các ý nghĩa ẩn tàng trong văn bản ngôn từ. Khi dạy học văn theo hướng này cần thiết phải chú ý đến tính chỉnh thể của văn bản để tránh suy diễn, đồng thời cũng cần tránh sơ đồ hóa, tránh gây cảm giác nặng nề cho học sinh.

2.3. Tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa

Tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa là hướng tiếp nhận đang được quan tâm hiện nay. Hướng tiếp nhận này được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và văn hóa. Văn học là một thành phần của văn hóa, phản ánh diện mạo, bản chất của văn hóa và chịu sự tác động của văn hóa. Nghiên cứu văn hóa trong văn học có hai xu hướng tạm gọi là cách nghiên cứu truyền thống và cách nghiên cứu hiện đại. Cách nghiên cứu văn hóa trong văn học theo kiểu truyền thống thường là đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện trong văn bản văn học; cách nghiên cứu văn hóa trong văn học hiện đại chủ yếu đi tìm các nhân tố chi phối sự hình thành các giá trị, các quan niệm văn học, các biểu hiện hình thức của văn bản văn học từ trong đời sống xã hội, văn hóa.

            Khi tiến hành tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa, người đọc sẽ tìm kiếm những biểu hiện của văn hóa trong các cấp độ của loại… Đề tài là một phạm vi đời sống được thể hiện trong tác phẩm văn học, nó thể hiện khá rõ những dấu ấn của văn hóa, chẳng hạn đề tài về phong tục tập quán dân tộc, đề tài về cuộc sống ở nông thôn, cuộc sống ở thành thị… Trong những đề tài như vậy thể hiện những nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc. Chủ đề là vấn đề nổi cộm trong một phạm vi đời sống, nó cũng là yếu tố thể hiện rõ nét các mâu thuẫn, các vấn đề chủ yếu trong quá trình phát triển văn hóa dân tộc. con người và hoàn cảnh, giữa dân tộc này với dân tộc khác… thể hiện khá rõ dấu ấn văn hóa dân tộc. Xung đột giữa cá nhân và gia đình truyền thống trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã thể hiện rõ truyền thống văn hóa gia đình ở Việt Nam trong thời trung đại, và sự hình thành, sự va đập với quan niệm mới xuất hiện khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Sự xung đột giữa cá nhân và gia đình hay sự va chạm giữa gia đình hiện đại và gia đình truyền thống là một nét nổi bật trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX. Nhân vật trong tác phẩm văn học thể hiện rất rõ dấu ấn văn hóa khi nó được khắc họa như một nhân cách văn hóa. Nhân vật văn học thể hiện được vấn đề đạo đức luân lí trong ứng xử giữa con người và con người, con người và môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, con người với những vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, hứng thú thẩm mĩ… Chẳng hạn, trong thơ Nguyễn Trãi, chúng ta luôn bắt gặp một con người sống hòa với tự nhiên và mang nỗi lo nước thương đời. Điều này thể hiện rất rõ quan niệm con người là một tiểu vũ trụ, vạn vật nhất thể, tư tưởng tốt đẹp trong văn hóa truyền thống. Cũng như vậy, chúng ta thấy được truyền thống yêu nước, sẵn sàng hi sinh cho độc lập dân tộc trong các hình tượng nhân vật như chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thi), anh hùng Núp (Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc); thấy được sự gắn bó với làng quê trong nhân vật ông Hai (Làng, Kim Lân)… Ngôn từ trong văn bản văn học cũng là yếu tố thể hiện khá đậm nét văn hóa dân tộc, bởi vì ngôn từ là sản phẩm của văn hóa xã hội. Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng, có thói quen sử dụng ngôn ngữ riêng. Mỗi nhà văn có cách sử dụng ngôn từ riêng nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của thói quen sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng. Người đọc có thể khảo sát tác dụng của ngôn ngữ tiếng Việt đa thanh điệu trong việc tạo lập văn bản thơ ca, tìm kiếm nội hàm văn hóa ẩn sau hệ thống từ ngữ được nhà văn sử dụng, cách sử dụng ngôn ngữ địa phương. Chẳng hạn cách nói rất đặc trưng của các chàng trai nông thôn trong thơ Nguyễn Bính “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Một người chín nhớ mười mong một người” (Tương tư) rất gần gũi với cách nói trong ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. Các phương pháp tu từ, các môtip trong tác phẩm văn học cũng thể hiện dấu ấn văn hóa. Chẳng hạn, trong văn học Việt Nam thường xuất hiện các hình thức so sánh, ẩn dụ gắn với những sự vật gần gũi quen thuộc trong đời sống xã hội người Việt. Thể loại văn học cũng là một yếu tố thể hiện văn hóa dân tộc. Mỗi dân tộc thường có thể loại văn học riêng. Thơ lục bát của Việt Nam là sản phẩm riêng của dân tộc Việt Nam gắn liền với ngôn ngữ giàu thanh điệu và gắn với điệu hồn dân tộc. Trong những thể loại xuất hiện ở các nước trên thế giới, thì khi được sáng tác ở mỗi dân tộc, đều mang những sắc thái riêng. Chẳng hạn cũng là tiểu thuyết, nhưng ở Việt Nam thường không phát triển tiểu thuyết phiêu lưu như phương Tây, tiểu thuyết võ hiệp như Trung Quốc, mà thiên sang tiểu thuyết về nhân tình thế thái…

            Như vậy, cách tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa sẽ giúp cho người đọc khám phá được nội hàm văn hóa trong văn bản văn học, đồng thời hạn chế được cách tiếp nhận khép kín chỉ khám phá nội tại văn bản, tách rời văn bản văn học với đời sống xã hội. Bên cạnh hướng tìm kiếm nội hàm văn hóa trong văn bản văn học, thì hướng lí giải nguyên nhân hình thành các yếu tố nội dung, các yếu tố hình thức của văn bản từ cơ sở văn hóa xã hội cũng giúp cho cách đọc văn học từ góc độ văn hóa trở nên phong phú đa dạng hơn, đồng thời giúp người đọc cảm thấy đọc văn không phải là đọc một thứ xa lạ với cuộc sống xung quanh. Văn chương cũng góp phần giải quyết những vấn đề của cuộc sống hiện thực. Chẳng hạn, người đọc có thể lí giải sự xuất hiện của cái tôi cá nhân tìm cách phô bày cảm xúc riêng tư của mình trong văn học lãng mạn đầu thế kỉ XX ở Việt Nam từ những biến động trong đời sống văn hóa xã hội; lí giải hiện tượng văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng từ hoàn cảnh đất nước đang đương đầu với giặc ngoại xâm; lí giải hiện tượng văn học sau 1975 lại quay về với những suy tư trăn trở của cuộc sống đời thường, nhìn lại mặt trái của chiến tranh từ góc độ hoàn cảnh Việt Nam sau khi bước ra khỏi cuộc chiến, bước vào thời kì kinh tế thị trường… Bên cạnh đó, nghiên cứu văn hóa còn chú ý đến các vấn đề như văn học đại chúng, vấn đề nữ quyền hay vấn đề quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên… Tất cả những biểu hiện đó làm cho văn học xích lại gần hơn với thực tế cuộc sống, tiếp nhận văn học giúp độc giả suy tư, nhìn nhận, lí giải về các vấn đề của hiện thực.

3. Kết luận

Mặc dù nghiên cứu văn học nói chung luôn biến động, nhưng tiếp nhận văn học trong trường phổ thông vẫn duy trì đồng bộ các hướng tiếp nhận nhằm tập dượt cho học sinh nhiều cách tiếp nhận tác phẩm văn học khác nhau. Tuy nhiên dạy học văn trong trường phổ thông cũng không hoàn toàn tách biệt với tình hình nghiên cứu văn học. Những năm gần đây, chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sự xuất hiện của phê bình sinh thái, thì dạy học văn trong trường phổ thông cũng cần mở rộng sang hướng tiếp cận này. Tiếp nhận văn học từ góc độ tiểu sử hay từ góc độ văn bản đều cần thiết và vẫn nên duy trì trong dạy học văn, nhưng đã đến lúc cần phải chú ý nhiều hơn đến vận dụng hướng tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa trong dạy học văn ở trường phổ thông.

(Bài đã đăng trên Tạp chí khoa học, đại học Sư phạm Hà Nội, 8-2018)

[[1]]Trần Đình Sử, 1993. Một số vấn đề thi pháp học hiện đại. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên văn cấp 2 phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ giáo viên.

[[2]] Trần Đình Sử, 2006. Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên.

[[3]] Trần Đình Sử, 2015. Đưa kí hiệu học vào môn đọc văn trung học phổ thông. http//trandinhsu.wordpress.com

[[4]]Nguyễn Văn Tùng, 2013. Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác phẩm. Nhà xuất bản: Giáo dục Việt Nam.

[[5]] Hồ Ngọc Mân, 2004.  Mĩ học tiếp nhận và dạy – học văn. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tr11-16

[[6]] Trần Hữu Phong, 2012. Sự gợi ý của lí thuyết tiếp nhận văn học đối với việc dạy học đọc hiểu văn bản ở trường THPT. (NAFOSTED). Mã đề tài: VII.1.2 – 2012.07). http://www.khoanguvandhsphue.org.

[[7]]Bendetto Croce, 1983. Nguyên lí mĩ học – Mĩ học cương yếu. Chu Quang Tiềm… dịch sang tiếng Trung, Nhà xuất bản Văn học nước ngoài,  tr. 18, 209.

[[8]]  Sigmund Freud,1987. Freud luận mĩ văn tuyển. Trương Hoán Dân… dịch sang tiếng Trung, Nhà xuất bản  Tri thức, tr.29.

[[9]]Ngũ Lãi Phủ, 1979. Tây phương văn luận tuyển, Nhà xuất bản  Dịch văn Thượng Hải, tr.195.

[[10]] Trương Trung Tải…., 2000. Tây phương cổ điển văn luận tuyển độc.  Nhà xuất bản  Nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ, tr 544-550.

[[11]]  Warren, Welleck, 1984. Lí luận văn học. Lưu Tượng Ngu dịch sang tiếng Trung, Tam liên thư quán xuất bản,  tr. 79.

[[12]]  Trần Đình Sử, 2007. Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.9.

[[13]]  Trần Đình Sử, 2007. Giáo trình Dẫn luận thi pháp học. Nhà xuất bản Giáo dục, tr.55.

[[14]] Trần Đình Sử, 2007. Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.82.

Học Văn Lớp 9: Ôn Tập Văn Học Trung Đại

ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 9

II. Một số nội dung đoạn: 1. Đoạn văn giới thiệu tác giả: * Yêu cầu chung: Giới thiệu chính xác tên tác giả, năm sinh, năm mất, quê quán, gia đình, cuộc đời, sự nghiệp.

Đề bài: Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 10 – 15 câu ) theo cách qui nạp, giới thiệu đại thi hào Nguyễn Du. Có một nhà thơ không ai là không yêu mến và kính phục đúng như lời ca ngợi của Tố Hữu: “Tiếng thơ ai động đất trời – Nghe như non nước vọng lời ngàn thu – Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du – Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”. Đó là Nguyễn Du – người con của miền đất sông Lam, núi Hồng ở Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Thời đại Nguyễn Du sống là thời đại khổ đau, bế tắc và đầy những biến động dữ dội. Khổ đau, bế tắc bởi xã hội phong kiến Việt nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân thì vô cùng cực khổ, điêu đứng. Trong bầu không khí xã hội ấy, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã làm “Một phen thay đổi sơn hà”, đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê,Trịnh,Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh xâm lược. Cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy Nguyễn Du vào cuộc sống lay lắt, gian truân, vất vả. Cuộc đời phiêu bạt, từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều ( khi lưu lạc ở quê vợ, rồi quê mẹ, quê cha; khi làm quan dưới triều Nguyễn, được cử đi xứ sang Trung Quốc) đã tạo cho Nguyễn Du một kiến thức sâu rộng, một vốn sống phong phú, và niềm cảm thông sâu sắc với mọi kiếp người bị đày đọa, chịu khổ đau, thiệt thòi. Điều này, đã ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm ,nhận thức của Nguyễn Du, để ông hướng ngòi bút vào hiện thực trong hầu hết các sáng tác của mình. Bởi thế, mà Mộng Liên Đường chủ nhân từng có lời nhận xét: “…Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời, thì tài nào có bút lực ấy…”. Nguyễn Du đã để lại cho dân tộc một sự nghiệp văn thơ quý giá, phong phú và đồ sộ: ba tập thơ chữ Hán với 243 bài, sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là “Truyện Kiều”. Có thể nói, với những thành công về sự nghiệp, với cái tài và cái tâm, Nguyễn Du đã trở thành một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, đời đời ghi nhớ.

2. Đoạn văn tóm tắt tác phẩm:

Đề bài: Viết đoạn văn ngắn, tóm tắt “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. “Chuyện người con gái Nam Xương” xoay quanh về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương – người con gái nhan sắc, đức hạnh. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, con nhà hào phú nhưng ít học, có tính đa nghi và hay ghen. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì Trương Sinh phải đầu quân đi lính. Chàng đi đầy tuần,Vũ Nương sinh con trai, hết lòng nuôi dạy con, chăm sóc, lo ma chay cho mẹ già chu đáo và thủy chung đợi chồng. Đêm đêm, nàng thường trỏ bóng mình trên vách và nói với con đó là cha của bé. Giặc tan, Trương Sinh trở về, tin lời con nhỏ, nghi ngờ vợ thất tiết, nhục mạ, đánh đuổi nàng đi. Đau đớn, phẫn uất, Vũ Nương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, sống dưới thủy cung. Sau, biết được sự thực về vợ mình, Trương Sinh lập đàn giải oan cho Vũ Nương, nàng trở về trên kiệu hoa,cờ tán vãn lọng, thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện với lời nói vọng rồi biến mất.

Đề bài: Viết đoạn văn ngắn. tóm tắt tác phẩm “Truyện Kiêu” của Nguyễn Du. ” Truyện Kiều” hay còn gọi là “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du kể về người con gái tài sắc mà gặp nhiều bất hạnh – Vương Thúy Kiều. Gia đình Thúy Kiều có ba chị em: Thúy Kiều,Thúy Vân và Vương Quan. Trong tiết thanh minh, Kiều gặp Kim Trọng,hai người đã chớm nở một tình yêu đẹp và cùng nhau hẹn ước. Kim Trọng phải về quê chịu tang chú, gia đình Kiều gặp nạn, bị vu oan. Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, còn nàng thì bán mình chuộc cha và em. Mã Giám Sinh đến mua Kiều, rồi nàng rơi vào lầu xanh của Tú Bà. Ở đây, Kiều gặp Thúc Sinh và được chàng cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Hoạn Thư, vợ cả Thúc Sinh ghen, hành hạ, đày đọa nàng. Kiều phải trốn đến nương nhờ của Phật nhưng sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà,kẻ buôn người như Tú Bà, Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ hai. Kiều gặp Từ Hải, Từ Hải chuộc Kiều cưới làm vợ, giúp nàng báo ân, báo oán. Do bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Thúy Kiều phải hầu đàn, hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn nhưng được sư Giác Duyên cứu. Kim Trọng kết duyên cùng Thúy Vân nhưng vẫn tìm Kiều. Đến sông Tiên Đường, biết Kiều còn sống, Kim Trọng đón Kiều về, gia đình đoàn tụ.

3. Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, đắc sắc trong tác phẩm:

Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 15) theo cách diễn dịch, nêu cảm nhận của em về chi tiết “cái bóng” trên tường trong “Chuyện người con gái Nam Xương”( Nguyễn Dữ). Trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, chi tiết cái bóng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cách kể chuyện(1). “Cái bóng” có ý nghĩa thắt nút và mở nút câu chuyện(2). Trong những ngày chồng đi xa, vì thương nhớ chồng, vì không muốn con nhỏ thiếu vắng tình cảm của người cha, nên hàng đêm Vũ Nương chỉ bóng mình trên tường, nói dối con đó là cha nó(3). “Cái bóng” đã nói lên tình yêu sâu nặng mà nàng dành chồng, bởi nàng coi mình là hình còn chồng là bóng, gắn bó không rời dù xa vời cách trở!(4). “Cái bóng” còn là tấm lòng của người mẹ, nhắc nhở con về người cha nó chưa từng gặp mặt(5). Ngờ đâu, lòng thủy chung và sự hi sinh âm thầm của nàng lại phải trả giá bằng cái chết bi thảm(6). Bé Đản mới ba tuổi, còn ngây thơ, chưa hiểu hết những điều phức tạp nên đã tin là có một người cha đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, nhưng nín thít và không bao giờ bế nó nên khi Trương Sinh hỏi đã trả lời: “Thế ông cũng là cha tôi ư?”(7). Lời nói của bé Đản về người cha khác ( chính là cái bóng ) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ không chung thủy, nảy sinh thái độ ghen tuông của Trương Sinh và chàng lấy đó làm bằng chứng để về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi, đẩy nàng đến cái chết đầy oan ức(8). Ngòi bút nhà văn xót xa đau đớn, thể hiện sâu sắc trái tim nhân đạo của ông(9). Chung với tấm lòng dân gian, Nguyễn Dữ đau cùng nàng Vũ Nương tội nghiệp, bất hạnh: “Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”….”(10). Bao nhiêu là đau đớn trong lời kêu than của Vũ Nương!(11).”Cái bóng” cũng là chi tiết mở nút câu chuyện(12). Chàng Trương sau này hiểu ra nỗi oan của vợ cũng chính là nhờ cái bóng của mình trên tường(13). Bao nhiêu nhiêu nghi ngờ, oan ức của Vũ Nương đều được hóa giải nhờ “cái bóng”(14). Chính cách thắt, mở nút câu chuyện bằng chi tiết “cái bóng” đã làm cho cái chết của Vũ Nương thêm oan ức; giá trị tố cáo xã hội bất công đương thời, cái xã hội mà ở đó người phụ nữ không thể có hạnh phúc, càng thêm sâu sắc hơn(15).

4. Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một nhân vật trong tác phẩm:

5. Đoạn văn phân tích, cảm nhận đoạn thơ:

Đề bài 1: Viết đoạn văn ( 10 – 15 câu ), phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”. Tám câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) là bức tranh tâm trạng đau buồn, lo âu, sợ hãi của Thúy Kiều: “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại bốn lần tạo âm hưởng trầm buồn cho các câu thơ, diễn tả nỗi đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Nỗi buồn ấy cứ trào dâng và lan tỏa vào thiên nhiên, thấm đẫm vào cảnh vật. Nhìn cánh buồm thấp thoáng nơi “cửa bề chiều hôm”, Kiều cảm thấy bơ vơ, cô lẻ giữa biển đời mênh mông, nàng khao khát được trở về quê hương, được gặp gỡ và sum họp với gia đình. Nhìn cánh hoa trôi man mác trên “ngọn nước mới sa”, Kiều nghĩ đến thân phận mong manh, trôi dạt của mình trước sóng gió cuộc đời. Không biết cuộc đời sẽ trôi nổi đến đâu, tương lai rồi sẽ thế nào, hay lại tan tác, bị dập vùi như cánh hoa kia, đang lênh đênh trên dòng đời vô định? Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” héo úa với màu xanh nhạt nhòa, trải rộng nơi chân mây mặt đất là hình ảnh của thiên nhiên úa tàn, buồn bã. Nó gợi ở Kiều nỗi chán chường, vô vọng vì cuộc sống tẻ nhạt, cô quạnh này không biết bao giờ mới kết thúc. Tiếng sóng vỗ cùng những đợt “gió cuốn mặt duềnh” khiến Kiều vô cùng sợ hãi. Nàng dự cảm về cuộc sống bấp bênh với bao nhiêu tai ương đang bủa vây nàng. Nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”,”xa xa”,”man mác”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng của Kiều. Tác giả đã lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh: cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi lòng từ man mác, mông lung đến lo âu, sợ hãi. Chỉ với tám câu thơ, đã thể hiện được cái tâm, cái tài của Nguyễn Du.

III. Bài tập: 1. Viết đoạn văn ngắn, tóm tắt hồi thứ 14 trong tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái. 2. Viết đoạn văn ngắn, cảm nhận vẻ đẹp của Thúy Kiều ( hoặc Thúy Vân ) qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du ). 3. Cho đoạn thơ: “Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” ( “Truyện Kiều”, Nguyễn Du) Hãy viết một đoạn văn khoảng 10 câu có sử dụng câu ghép.Nội dung trình bày cảm nhận của em về cảnh ngày xuân trong đoạn thơ trên. 4. Cho đoạn thơ: “Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dang tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.” (“Truyện Kiều”, Nguyễn Du) Viết đoạn văn theo cách tổng – phân – hợp trình bày cảm nhận của em về cảnh vật thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ trên. 5. Cho hai câu thơ sau: “Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du). a. Tìm biện pháp tu từ trong hai câu thơ trên. b. Viết một đoạn văn ( từ 5-7 câu ) nêu ý nghĩa, hiệu quả của một trong số biện pháp tu từ đã tìm được, trong đó có câu cuối là câu ghép đẳng lập.

Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

Bạn đang xem bài viết Tích Hợp Liên Môn Khoa Học Xã Hội Trong Dạy Học Các Tác Phẩm Văn Học Trung Đại Lớp 10 trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!