Xem Nhiều 2/2023 #️ Tổng Kết Phương Pháp Đọc # Top 10 Trend | Sachkhunglong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tổng Kết Phương Pháp Đọc # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Kết Phương Pháp Đọc mới nhất trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài: Các phương châm hội thoại I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết dựa vào ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóc để xác định ý nghĩa của văn bản. Ngữ cảnh văn bản là tổ chức văn bản quy định ý nghĩa và giá trị của các thành phần tạo nên văn bản. Ngữ cảnh tình huống là tình huống cụ thể khi văn bản và ngôn từ xuất hiện. Ngữ cảnh văn hoá là bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hoá mà người phát ngôn sống và sáng tác.

2. Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy tư tưởng chính của văn bản mà soi sáng mọi chi tiết của văn bản. Trong quá trình đọc, qua các chi tiết người đọc có thể dự đoán trước tư tưởng chính của văn bản và sau đó qua các chi tiết khác lại điều chỉnh dự đoán ban đầu, khi nào thấy có sự phù hợp giữa khái quát và tư tưởng chính với tất cả các chi tiết thì mới có thể coi là hiểu được tư tưởng của văn bản.

3. Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy kinh nghiệm sống của bản thân và những người xung quanh mà thể nghiệm ý nghĩa của văn bản. Muốn thể nghiệm, người đọc phải tưởng tượng, liên tưởng để “cụ thể hoá”, “hiện thực hoá” các chi tiết trong văn bản.

4. Đọc – hiểu văn bản văn học, cần tránh cắt xén văn bản, tránh suy diễn tuỳ tiện.

II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Hãy cho biết ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hoá của các tác phẩm: Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du).

Gợi ý:

– Ngữ cảnh tình huống của các bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) được thể hiện trong phần tiểu dẫn; ngữ cảnh tình huống của các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du) được nói đến trong bài Truyện Kiều.

– Đọc lại toàn bộ các văn bản để tìm hiểu ngữ cảnh văn bản:

+ Bố cục của các văn bản: Ý nghĩa của mỗi phần được thể hiện trong mối liên hệ ý nghĩa với các phần khác.

+ Từ ngữ, hình ảnh,… trong văn bản đều chứa đựng liên hệ ý nghĩa với các từ ngữ, hình ảnh trong câu, đoạn và toàn văn bản.

– Ngữ cảnh văn hoá: Các điển cố, điển tích, động thái hoài cổ, hình ảnh ước lệ,… thể hiện đặc thù của văn hoá thời trung đại.

Riêng các đoạn trích Truyện Kiều, việc xác định ngữ cảnh tình huống còn là xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm, trong mạch diễn biến cốt truyện.

2. Nêu mối liên hệ giữa tư tưởng chính và chi tiết trong các văn bản, đoạn trích: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Trao duyên (Nguyễn Du), Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên).

Gợi ý:

– Cảnh ngày hè: Cảm xúc về sức sống thiên nhiên và tấm lòng yêu cuộc sống được thể hiện ở các chi tiết miêu tả: hoè lục đùn đùn, hoa lựu phun thức đỏ, hương sen ngát, lao xao chợ cá,…

– Trao duyên: Mối giằng xé đau đớn giữa ý thức về nghĩa vụ với ý thức, khát vọng sống của cá nhân thể hiện ra ở ngôn ngữ nhân vật, độc thoại nội tâm, các hình ảnh,…

– Thái sư Trần Thủ Độ: Các sự kiện, chi tiết đều nhằm khẳng định nhân cách trung trực, cứng cỏi, bản lĩnh của nhân vật Trần Thủ Độ trong việc giữ gìn kỉ cương, phép nước.

(2) Ở bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), nhà thơ chỉ mượn hình ảnh Tiểu Thanh để biểu hiện chính mình.

(3) Đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ thể hiện cảnh sống không đẹp chốn lầu xanh.

Gợi ý: Đối chiếu các luận điểm với nội dung đọc – hiểu đã học. Nhận định (1) đúng, nếu hiểu công danh là lập công trạng trong sự nghiệp giữ nước. Nhận định (2) không đầy đủ, Nguyễn Du trong Đọc “Tiểu Thanh kí” không “chỉ mượn chuyện Tiểu Thanh để biểu hiện chính mình” mà còn bộc lộ niềm thương cảm chung cho những kiếp tài hoa mệnh bạc. Nhận định (3) sai hoàn toàn, đoạn trích Nỗi thương mình diễn tả thân phận đau đớn, tủi nhục của Kiều ở chốn lầu xanh và ý thức về nhân phẩm của nàng chứ không phải “chỉ thể hiện cảnh sống không đẹp chốn lầu xanh”.

Soạn Bài Lớp 10: Tổng Kết Phương Pháp Đọc

Soạn bài lớp 10: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì II

Soạn bài: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học

là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm. Bài soạn sẽ giúp bạn củng cố lại kiến thức về phương pháp đọc hiểu văn bản văn học thông qua việc giải các bài tập trong SGK. Mời các bạn tham khảo.

Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn họcSoạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam

Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học

1. Kiến thức cơ bản

Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết dựa vào ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn học để xác định ý nghĩa của văn bản. Ngữ cảnh văn bản là tổ chức văn bản quy định ý nghĩa và giá trị của các thành phần tạo nên văn bản. Ngữ cảnh tình huống là tình huống cụ thể khi văn bản và ngôn từ xuất hiện. Ngữ cảnh văn hoá là bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hoá mà người phát ngôn sống và sáng tác.

Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy tư tưởng chính của văn bản mà soi sáng mọi chi tiết của văn bản. Trong quá trình đọc, qua các chi tiết người đọc có thể dự đoán trước tư tưởng chính của văn bản và sau đó qua các chi tiết khác lại điều chỉnh dự đoán ban đầu, khi nào thấy có sự phù hợp giữa khái quát và tư tưởng chính với tất cả các chi tiết thì mới có thể coi là hiểu được tư tưởng của văn bản.

Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy kinh nghiệm sống của bản thân và những người xung quanh mà thể nghiệm ý nghĩa của văn bản. Muốn thể nghiệm, người đọc phải tưởng tượng, liên tưởng để “cụ thể hoá”, “hiện thực hoá” các chi tiết trong văn bản.

Đọc – hiểu văn bản văn học, cần tránh cắt xén văn bản, tránh suy diễn tuỳ tiện.

2. Rèn luyện kỹ năng Câu 1. Hãy cho biết ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hoá của các tác phẩm: Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du). Gợi ý trả lời:

Ngữ cảnh tình huống của các bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) được thể hiện trong phần tiểu dẫn; ngữ cảnh tình huống của các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du) được nói đến trong bài Truyện Kiều.

Đọc lại toàn bộ các văn bản để tìm hiểu ngữ cảnh văn bản:

Bố cục của các văn bản: Ý nghĩa của mỗi phần được thể hiện trong mối liên hệ ý nghĩa với các phần khác.

Từ ngữ, hình ảnh,… trong văn bản đều chứa đựng liên hệ ý nghĩa với các từ ngữ, hình ảnh trong câu, đoạn và toàn văn bản.

Ngữ cảnh văn hoá: Các điển cố, điển tích, động thái hoài cổ, hình ảnh ước lệ,… thể hiện đặc thù của văn hoá thời trung đại. Riêng các đoạn trích Truyện Kiều, việc xác định ngữ cảnh tình huống còn là xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm, trong mạch diễn biến cốt truyện.

Câu 2. Nêu mối liên hệ giữa tư tưởng chính và chi tiết trong các văn bản, đoạn trích: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Trao duyên (Nguyễn Du), Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên). Gợi ý trả lời:

Cảnh ngày hè: Cảm xúc về sức sống thiên nhiên và tấm lòng yêu cuộc sống được thể hiện ở các chi tiết miêu tả: Hoè lục đùn đùn, hoa lựu phun thức đỏ, hương sen ngát, lao xao chợ cá,…

Trao duyên: Mối giằng xé đau đớn giữa ý thức về nghĩa vụ với ý thức, khát vọng sống của cá nhân thể hiện ra ở ngôn ngữ nhân vật, độc thoại nội tâm, các hình ảnh,…

Thái sư Trần Thủ Độ: Các sự kiện, chi tiết đều nhằm khẳng định nhân cách trung trực, cứng cỏi, bản lĩnh của nhân vật Trần Thủ Độ trong việc giữ gìn kỉ cương, phép nước.

Nhận định (1) đúng, nếu hiểu công danh là lập công trạng trong sự nghiệp giữ nước.

Nhận định (2) không đầy đủ, Nguyễn Du trong Đọc “Tiểu Thanh kí” không “chỉ mượn chuyện Tiểu Thanh để biểu hiện chính mình” mà còn bộc lộ niềm thương cảm chung cho những kiếp tài hoa mệnh bạc.

Nhận định (3) sai hoàn toàn, đoạn trích Nỗi thương mình diễn tả thân phận đau đớn, tủi nhục của Kiều ở chốn lầu xanh và ý thức về nhân phẩm của nàng chứ không phải “chỉ thể hiện cảnh sống không đẹp chốn lầu xanh”

Phương Pháp Dạy Đọc Hiểu Văn Bản

GV cần hướng dẫn HS đọc chứ không phải là người đọc hộ. Trong ảnh là một tiết học văn tại Trường THPT Nguyễn Huệ (TP.HCM). Ảnh: N.Quang

Dạy đọc hiểu văn bản hoàn toàn khác với giảng văn, nhất là khi đối tượng của giảng văn lại chỉ là các văn bản (VB) văn học.

Về khái niệm, dạy đọc hiểu là việc giáo viên (GV) hướng dẫn học sinh (HS) sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu VB thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó. Đọc hiểu VB đề cao vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của HS trong hoạt động đọc. Song điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan điểm về việc sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) ngữ văn nói chung và PPDH đọc hiểu nói riêng, nghĩa là không có một PPDH đọc hiểu duy nhất nào cả. Tùy thuộc vào loại VB, mục đích đọc và đối tượng HS, người thầy được tự do lựa chọn bất kỳ phương tiện giảng dạy và cách hướng dẫn nào mà họ muốn.

Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp và phương tiện nào thì GV cũng cần thiết kế các hoạt động sao cho có thể giúp HS tự đọc VB và biết vận dụng các kỹ năng phân tích, suy luận để đưa ra được các dẫn chứng trong VB làm cơ sở cho các nhận định, phân tích của mình. Đồng thời có lúc phải để cho mỗi HS có quyền đọc hiểu theo kinh nghiệm cảm xúc của mình. Từ đó hình thành cho các em khả năng phân tích và tổng hợp VB. Ngoài ra, GV cũng nên tạo thật nhiều cơ hội cho HS nghiên cứu, thử sức mình qua các bài tập lớn về VB được đọc. Tuy nhiên, không phải HS nào cũng có khả năng làm được như vậy. Cụ thể, với những HS yếu hơn, GV có thể gợi ý hoặc đưa ra các yêu cầu đơn giản hơn. Và dù sử dụng phương pháp gì, dạy đọc hiểu VB nào trong môn ngữ văn cũng cần tổ chức các hoạt động hướng dẫn HS sử dụng các kỹ năng thao tác để đọc chính xác và đọc có tính đánh giá về các yếu tố hình thức, nội dung và ý nghĩa của VB. Từ đó ứng dụng kiến thức và kỹ năng đã đọc vào thực tiễn đời sống.

3. Đối với các môn học khác, người tiến hành đọc hiểu VB chính là GV của các môn học đó. Nhưng cần lưu ý, nhiệm vụ chính của GV là hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực môn học mà họ phụ trách chứ không phải hướng dẫn HS đọc hiểu như trong môn ngữ văn. Tuy nhiên, GV sẽ là người có vai trò quan trọng trong sự phát triển năng lực đọc của HS, giúp các em vận dụng những kỹ năng đã học vào thực tiễn.

Tùy thuộc vào loại văn bản, mục đích đọc và đối tượng học sinh, người thầy được tự do lựa chọn bất kỳ phương tiện giảng dạy và cách hướng dẫn nào mà họ muốn.

Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu

Quan niệm về đọc hiểu

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để lĩnh hội tri thức và bồi dưỡng tâm hồn.

Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe, và dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc.

Hiểu là trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?, tức là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát được nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.

Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt.

Khi đọc một văn bản, người đọc hiểu ở mức độ trưởng thành là phải thấy được:

Thể loại của văn bản, nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của cấu trúc văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng;

Thấy được tư tưởng, ý đồ, mục đích của tác giả gửi gắm trong tác phẩm;

Đối với văn bản là tác phẩm văn học: cảm nhận được giá trị đặc sắc của các hình tượng, yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản.

Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của người đọc. Đọc hiểu tác phẩm văn chương là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động.

Việc dạy năng lực đọc hiểu trong nhà trường

Cho tới nay, yêu cầu về đọc hiểu trong nhà trường tại Việt Nam chú trọng nhiều về đọc hiểu tác phẩm văn học, và thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:

Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản: Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản (từ ngữ, hình ảnh,chi tiết quan trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ…); hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.

Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể: Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình; vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội.

Ở các nước có nền giáo dục phát triển, năng lực đọc hiểu được đặc biệt quan tâm trong chương trình giáo dục của mọi khối lớp. Và năng lực đọc hiểu các văn bản phi hư cấu (non-fiction) cũng được được biệt quan tâm. Hãy đọc tiếp để tìm hiểu thêm về phương cách bồi đắp năng lực đọc hiểu.

Bạn đang xem bài viết Tổng Kết Phương Pháp Đọc trên website Sachkhunglong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!