Top 21 # Báo Cáo Nghị Quyết 29 Về Đổi Mới Giáo Dục / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 29 Về Đổi Mới Giáo Dục Đầy Đủ Nhất / 2023

Sau khi được học tập, tiếp thu và nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhiệm kỳ 20… – 20…, tôi đã nhận thức được các nội dung cơ bản về giáo dục đề cập đến trong NQ thể hiện qua câu hỏi sau:

Câu hỏi: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo” Theo anh (hay chị) làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ đó? Liên hệ địa phương, cơ sở ?

Trả lời:

1/ Thực hiện nhiệm vụ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”

Như ta đã biết phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Vì vậy để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo, chúng ta cần phải thực hiện tốt 5 vấn đề sau:

Một là, đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề.

Hai là, thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức.

Ba là, phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.

Bốn là, mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng ngày càng cao. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng và dạy nghề trong cả nước. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tập trung đầu tư xây dựng một số trường, khoa, chuyên ngành mũi nhọn, chất lượng cao.

Năm là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục.

2/ Liên hệ địa phương (……..), đơn vị cơ sở (Trường THCS, THPT) về cách thức, giải pháp thực hiện “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”

a/ Những giải pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương

Để nâng cao chất lượng giáo dục TH, các giải pháp cần được ngành giáo dục …………….. triển khai đồng bộ, đó là: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Đổi mới kiểm tra đánh giá và tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.Cụ thể:

Sở giáo dục rà soát, kiểm tra và phân loại học sinh đầu năm học, qua đó chỉ đạo bồi dưỡng phù đạo học sinh yếu kém ngoài giờ lên lớp. Xác định các nguyên nhân học sinh bỏ học và áp dụng các biện pháp vận động tạo điều kiện về hỗ trợ kinh tế để giảm tỉ lệ học sinh bỏ học.

Tổ chức chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên các môn học thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình GDPT. Chỉ đạo dạy học hiệu quả, đổi mới phương pháp dạy học: Chỉ đạo các Phòng GDĐT tổ chức các hội thảo về đổi mới PPDH, KTĐG ở từng địa phương, cơ sở giáo dục. Chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông. Chỉ đạo vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, sáng tạo khuyến khích khả năng tự học của học sinh. Tăng cường ứng dụng CNTT hợp lý; tổ chức dạy học sát đối tượng; sử dụng hợp lý SGK khắc phục dạy học theo lối đọc- chép. Qua đó sẽ từng bước làm thay đổi cách dạy của GV tạo ra không khí phấn khởi trong các nhà trường trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai.

Trong kiểm tra đánh giá cũng cần thực hiện đổi mới. Căn cứ vào yêu cầu của Bộ về đổi mới KTĐG, Sở GDĐT Gia Lai, phòng GDĐT thành phố Pleiku cần kịp thời tổ chức hướng dẫn các trường quy trình ra đề kiểm tra đánh giá các môn học đảm bảo tỉ lệ: Nhận biết 50%, thông hiểu và vận dụng 50%. Chỉ đạo việc đảm bảo đánh giá sát, đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình; thực hiện đúng quy định của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ đã ban hành.

Bộ GDĐT cần tổ chức xây dựng và duy trì nguồn học liệu mở với các dữ liệu bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của CTGDPT đưa trên Website của Bộ và cặp nhật thường xuyên để phục vụ dạy học, kiểm tra đánh giá. Sở GDĐT, Phòng GDĐT, Trường THCS, GV sẽ tiếp cận và chủ động triển khai chủ trương này.

Xây dựng kế hoạch và triển khai chuẩn bị đánh giá định kỳ kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần điều chỉnh việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tạo cơ sở thực tiễn cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tiếp theo.

Phối hợp với các Dự án mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên: Bồi dưỡng giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; bồi dưỡng hướng dẫn ra đề kiểm tra đánh giá cho các Phòng GD ĐT huyện, thị xã, thành phố, đôn đốc chỉ đạo việc bồi dưỡng cho giáo viên ở địa phương.

b/ Xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm học (20…- 20….) và năm học tiếp theo

Sang năm học mới, giáo dục TH ở Địa phương cần tiếp tục duy trì và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” cùng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phát huy kết quả 5 năm thực hiện cuộc vận động “Hai không”, đưa hoạt động này trở thành hoạt động thường xuyên trong các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục trung học của địa phương.

Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục. Cụ thể:

Bồi dưỡng giáo viên nâng cao năng lực nghề nghiệp theo chương trình bồi dưỡng hè, bồi dưỡng thường xuyên; tăng cường NCKH sư phạm ứng dụng; quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học ở trường TH; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.

Tăng cường xây dựng CSVC trường học, tạo chuyển biến rõ rệt của các trường TH trong việc xây dựng, cải tạo cảnh quan nhà trường; tăng cường xây dựng CSVC nhà trường theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, đẩy nhanh xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia phấn đấu năm 20…. có …..% số trường THCS và 20% số trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

Thực hiện phổ cập giáo dục: Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Hội nghị tổng kết …………. năm thực hiện phổ cập giáo dục THCS; tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng tỉ lệ đạt chuẩn PCGDTHCS, thực hiện phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện) giai đoạn ………….; chỉ đạo các địa phương phấn đấu 100% số xã trên phạm vi toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS vào năm 20…

c/ Liên hệ bản thân và giải pháp đề xuất

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục địa phương bản thân tôi có những đề xuất và giải pháp cụ thể sau :

Mỗi cán bộ GV phải không ngừng phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết của đảng uỷ các cấp về giáo dục từ trung ương đến địa phương. Mỗi cá nhân cần xác định được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh”, tự học và trau dồi kiến thức, kĩ năng, nghiệp vụ chuyên môn.

Thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới toàn diện Giáo dục và Đào tạo, ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Tập trung quy hoạch Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức lối sống đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh; thực hiện tốt việc luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại…cán bộ quản lý trường học gắn với giải quyết chính sách theo Nghị định 132 của chính phủ. Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong trường học; nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo; thực hiện tốt quy chế dân chủ thường xuyên thanh tra theo chuyên ngành nhằm phát hiện, khắc phục những yếu kém trong Giáo dục, đồng thời biểu dương khen thưởng xứng đáng và kịp thời những điển hình tiên tiến.

Đối với Chính quyền cấp huyện, xã cần quan tâm hơn nữa công tác xã hội, giáo dục địa phương.

Nghị Quyết 29 Về Đổi Mới Giáo Dục: Chúng Ta Đã Làm Được Những Gì? / 2023

Trong ngày 31/10 và 1/11 tại TP.Vinh, tỉnh Nghệ An, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An tiến hành đánh giá kết quả đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29 cho giáo viên các trường tiểu học tại 8 huyện của địa phương này . Qua các buổi đánh giá này, quan điểm của các giáo viên trực tiếp giảng dạy tại địa bàn và cán bộ Bộ Giáo dục đã được đưa ra để đánh giá những thuận lợi và vướng mắc từ chương trình đổi mới giáo dục.

Ngày 4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW đã được ban hành. Nghị quyết này ra đời với mục đích về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Trao đổi về vấn đề này, thầy Nguyễn Minh Tuấn – Hiệu trưởng trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An cho rằng: Nghị quyết 29 ra đời đã giúp đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ giảng dạy, thân thiện hơn với học sinh qua các đợt bồi dưỡng nghiệp vụ và tập huấn. Các em học sinh cũng đã đưa được các bài giảng trên trường lớp đến với cuộc sống thực tiễn qua sinh hoạt ngoại khóa hay áp dụng qua sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ như giảng dạy cho các em về luật giao thông để các em có thể áp dụng ngay hàng ngày khi các em tham gia giao thông.

Về vấn đề này, cô giáo Nguyễn Thị Thu – Hiệu trưởng trường tiểu học Nghi Thiết, Nghi Lộc, Nghệ An cho rằng: Việc đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29 đã giúp nhà trường và phụ huynh có những sự phối hợp, gắn bó mật thiết để định hướng cho học sinh có được hiệu quả học tập tốt nhất. Cùng với đó việc phối hợp và gắn bó chặt chẽ giữa lãnh đạo cấp trên đến tận các cơ sở cũng đã giúp đội ngũ giáo viên cơ sở sớm nắm được các định hướng mới trong chính sách và phương pháp giảng dạy.

Những khó khăn tồn tại cần khắc phục

Tuy nhiên, ngoài những lợi ích từ việc đổi mới cách dạy và học áp dụng theo Nghị quyết 29 đã đạt được thì nhiều giáo viên cũng đã nêu lên nhiều bất cập trong quá trình đổi mới này.

Thầy Nguyễn Xuân Đường – Hiệu trưởng trường tiểu học Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An bày tỏ quan điểm: Ngoài những điểm thuận lợi của Nghị quyết 29 trong công tác đổi mới trong giáo dục thì còn có những khó khăn nhất định. Điển hình như các trường ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học thì việc áp dụng kết hợp giữa dạy bằng bảng viết bình thường và áp dụng dạy bằng trình chiếu rất khó thực hiện được.

Đơn giản các trường này không có kinh phí đủ để đầu tư mua trang thiết bị để thực hiện giảng dạy bằng cách trình chiếu. Cùng với đó thì việc thay đổi cách dạy và học theo phương thức này còn dẫn đến sự bỡ ngỡ cho cả giáo viên và học sinh.

Ngoài ra cơ sở vật chất trường lớp tại các vùng này vẫn còn nhiều thiếu thốn vì vậy để áp dụng cho học sinh các buổi học ngoại khóa cũng đang hạn chế vì thiếu kinh phí thực hiện. Trong khi đó, người dân tại các vùng này kinh tế cũng đang rất khó khăn vì vậy việc kêu gọi nguồn lực từ dân cũng rất hạn chế.

Bên cạnh đó cũng cần mở thêm các đợt tập huấn cho giáo viên tại các vùng này vì họ ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ mới hơn ở vùng đồng bằng và thành thị.

Cô Nguyễn Thị Bình – Hiệu phó trường Tiểu học Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ An cho rằng: Việc xã hội hóa giáo dục tại các trường học miền núi còn nhiều bất cập. Bởi người dân nơi này còn có cuộc sống khó khăn nên việc vận động các phụ huynh đưa con đến trường đã là một thành công. Vì vậy không thể trông đợi sự đóng góp vào giáo dục lớn từ các phụ huynh.

Về vấn đề này ông Thái Huy Vinh – Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An cho biết: Cấp ngành địa phương luôn quan tâm chú trọng vào đầu tư giáo dục. Ngoài những thuận lợi cụ thể đã thấy rõ làm giảm gánh nặng cho cả giáo viên và học sinh thì còn những bất cập trên.

Để khắc phục những khó khăn đó ngành giáo dục và chính quyền địa phương cũng có những áp dụng linh hoạt phù hợp cho từng trường tại các khu vực khác nhau.

Bên cạnh đó tại các trường miền núi, vùng sâu vùng xa cũng đang tập trung đầu tư xây dựng các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú để các em học sinh xa trường có nơi ăn nghỉ tại chỗ không làm giảm đến chất lượng học.

Cùng với đó chính quyền địa phương cũng hướng đầu tư ngân sách số một cho giáo dục để ngày càng nâng cao chất lượng dạy và học. Ngoài ra cũng kêu gọi các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức … đóng góp đầu tư xã hội hóa vào việc xây dựng các công trình giáo dục và trang thiết bị dạy học.

Trao đổi về vấn đề trên Tiến sĩ Trần Đình Châu – Vụ trưởng, Chánh văn phòng Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng: Những gì đã đạt được nên kết thừa và phát huy, nhất là trong cách cải cách dạy học và phương pháp học đã thay đổi hợp lý giảm áp lực, gánh nặng.

Bên cạnh việc kế thừa, phát huy những điểm mạnh từ việc cải cách thì cũng cố gắng uốn nắn thay đổi để phù hợp của tình hình từng địa phương, từng trường học cụ thể. Làm sao để hướng nền giáo dục nước ta vươn ra biển lớn hòa nhập với nền giáo dục của quốc tế. Sớm đưa giáo dục Việt Nam sớm sánh bằng giáo dục của các cường quốc trên thế giới.

Sau 5 Năm Thực Hiện Đổi Mới Giáo Dục Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 29 / 2023

Sau 5 năm thực hiện đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW

Trường Mầm non Ngọc Hoa, phường Tân Dân, TP Việt Trì đầu tư khá đồng bộ cơ sở vật chất, phục vụ tốt cho việc dạy và học của khối mầm non.

– Các cháu học sinh trong giờ ra chơi. Ảnh: Quốc Hội

PTĐT – Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế”, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 44-CTr/TU ngày 3/1/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (gọi tắt là Nghị quyết số 29); Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 808/KH-UBND ngày 11/3/2014 về thực hiện chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW; Quyết định số 1770/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 về việc thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ; Kế hoạch 1670-KH/UBND ngày 16/5/2016 về Đề án “Phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2015-2020” trên địa bàn tỉnh… Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với những nội dung cụ thể; tính khả thi cao và phù hợp với từng địa phương, đơn vị.

Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW; Quyết định số 1770/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 về việc thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ; Kế hoạch 1670-KH/UBND ngày 16/5/2016 về Đề án “Phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2015-2020” trên địa bàn tỉnh… Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với những nội dung cụ thể; tính khả thi cao và phù hợp với từng địa phương, đơn vị.Từ đổi mới phương pháp dạy học, thầy và trò Trường THCS thị trấn Sông Thao có nhiều tiết học hứng thú, bổ ích. Ảnh: Đại Nguyễn

Qua 5 năm thực hiện, Phú Thọ cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết số 29: Chất lượng công tác giáo dục – đào tạo, dạy nghề có chuyển biến tích cực; hệ thống mạng lưới trường lớp và các loại hình giáo dục ở tất cả các cấp học được củng cố và có bước phát triển; cơ sở vật chất trường học được đầu tư nâng cấp; đội ngũ giáo viên được tăng cường và chuẩn hóa từng bước để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

Đối với giáo dục mầm non, 100% cấp huyện và đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; thực hiện chính sách miễn học phí cho trẻ em 5 tuổi ở vùng đặc biệt khó khăn; phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Với giáo dục phổ thông, chất lượng phổ cập giáo dục luôn được giữ vững và nâng cao, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. So với năm 2013, các mục tiêu về giáo dục phổ thông đều tăng và dự kiến đến năm 2020 sẽ hoàn thành và vượt các chỉ tiêu đề ra. Giáo dục nghề nghiệp được mở rộng về quy mô, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo. Bước đầu thực hiện đổi mới về đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực người học. Công tác giáo dục đại học được củng cố, mở rộng về quy mô, ngành nghề và hình thức đào tạo, chất lượng đào tạo ngày càng nâng cao. Hiện nay, toàn tỉnh có 3 trường (2 trường đại học và 1 trường dự bị đại học). Nhìn chung hệ thống các trường chuyên nghiệp được bố trí khá hợp lý, số lượng trường và ngành nghề đào tạo cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các tỉnh lân cận. Cùng với đó, công tác giáo dục thường xuyên tiếp tục được duy trì, giữ vững.

Trong công tác xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân, tỉnh luôn chỉ đạo rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể theo hướng mở. Đến nay, toàn tỉnh có 922 trường, trong đó có: 319 trường mầm non; 299 trường tiểu học; 260 trường THCS; 44 trường THPT. Bên cạnh đó, các trường thuộc hệ thống ngoài công lập cũng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh. Phú Thọ hiện có 9 trường THPT ngoài công lập, 21 trường mầm non tư thục, 24 nhóm độc lập, tư thục.

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý các cấp được đảm bảo ổn định cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn đào tạo, tỷ lệ trên chuẩn dần được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.

Cùng với những kết quả đạt được, công tác Giáo dục, Đào tạo và dạy nghề của tỉnh vẫn còn một số khó khăn hạn chế cần được khắc phục. Đó là, một số trường mầm non, tiểu học khu vực thành phố có tỷ lệ trẻ/lớp, số lớp/trường cao hơn so với quy định; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của một số trường còn thiếu và xuống cấp; tỷ lệ huy động trẻ dưới 3 tuổi ra lớp chưa đạt mục tiêu; đội ngũ giáo viên mầm non còn thiếu. Chất lượng giáo dục còn có sự chênh lệch giữa các địa bàn trong tỉnh. Chất lượng dạy và học ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, triển khai dạy học Tiếng Anh chương trình mới còn nhiều bất cập do thiếu giáo viên đạt chuẩn theo quy định; tỷ lệ học sinh được học Tin học còn thấp. Chất lượng đào tạo một số trường dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS, THPT còn hạn chế. Một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa thực sự vào cuộc, thiếu quyết liệt; một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên ngại thay đổi, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29, tỉnh đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp sau: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp đối với việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 29, Chương trình hành động số 44-CTr/TU của Tỉnh ủy Phú Thọ, nhất là tập trung vào các mục tiêu phấn đấu đến năm 2020. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, về tính tất yếu phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020”, Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”, Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chuẩn hoá, đảm bảo đồng bộ về cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất về đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa và các nhiệm vụ khác về đổi mới giáo dục và đào tạo.

Bộ Gtvt Với Nghị Quyết Tw 8 Về Đổi Mới Giáo Dục / 2023

Sự chăm lo của các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cá nhân cho sự nghiệp giáo dục, truyền thống hiếu học của dân tộc và sự nỗ lực, ý thức trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, đòi hỏi phải xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là yêu cầu cấp thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.

Trong bối cảnh đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 8).

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Nghị quyết Trung ương 8 đối với sự phát triển nguồn nhân lực của cả nước nói chung và đối với ngành GTVT nói riêng, chỉ chưa đầy nửa tháng sau khi có Nghị quyết Trung ương 8, ngày 18/11/2013, Ban cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ).

Mục đích của Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải nhằm quỏn triệt, thực hiện quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đó đề ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW đối với ngành Giao thông vận tải. Chương trình hành động cũng đặt ra các yêu cầu đối với các hệ đao tạo ngành GTVT; cụ thể là:

– Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hỡnh thành hệ thống giỏo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trỡnh độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ đối với ngành Giao thông vận tải, góp phần cung cấp nhân lực cho thị trường lao động trong nước và quốc tế.

– Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trỡnh độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Củng cố các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc, cơ cấu ngành nghề và trỡnh độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giao thông vận tải.

– Đối với các nội dung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng do Bộ Giao thụng vận tải thực hiện quản lý nhà nước (đào tạo lái xe cơ giới đường bộ, điều khiển phương tiện thủy nội địa, huấn luyện thuyền viên…), bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trỡnh độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống.

Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải đã đề ra 9 nhiệm vụ nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8, bao gồm:

1. Tăng cường sự lónh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo trong ngành Giao thông vận tải.

2. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

3. Đổi mới căn bản hỡnh thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan.

4. Thực hiện các nhiệm vụ góp phần hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xó hội học tập.

5. Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xó hội của cỏc cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng.

6. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

7. Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xó hội; nõng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

8. Nõng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý

9. Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.

Kèm theo các nhiệm vụ nêu trên, Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải cũng đề ra các giải pháp hết sức cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả từng nhiệm cụ của Chương trình.

Căn cứ nhiệm vụ và giải pháp nêu ra trong Chương trình, các quan, đơn vị trong ngành chủ động triển khai Chương trỡnh hành động phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị mỡnh; Trong đó, đặc biệt quan tâm thực hiện:

– Phối hợp với các cấp ủy đảng tổ chức việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện Nghị quyết, Chương trỡnh hành động của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế tại cơ quan, đơn vị.

– Căn cứ Chương trỡnh hành động của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện phù hợp với tỡnh hỡnh thực tế tại cơ quan, đơn vị mỡnh trước ngày 15/12/2013 và tổ chức triển khai thực hiện tại cơ quan, đơn vị.

Riêng đối với các trường, học viện thuộc Bộ Giao thông vận tải, ngoài việc triển khai những công việc nêu trên, căn cứ các quy hoạch, chiến lược phát triển của ngành GTVT và tình hình thực tế tại đơn vị, các trường, học viện xây dựng Chiến lược phát triển của trường, học viện đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; theo đó, cập nhật các quan điểm, mục tiêu, giải pháp chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 8, phù hợp với Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải. Các đề án chiến lược phát triển của các trường, học viện phảI được hoàn thiện trước ngày 31/01/2014 và trình cấp trên trực tiếp quản lý phê duyệt.

Ngay sau khi được quyết định thành lập, ngày 27/12/2013, Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thụng vận tải đã họp phiên toàn thể đầu tiên nhằm thống nhất hành động và đề ra phương hướng, kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể của Ban trong năm 2014 và những năm tiếp theo.

Với sự khẩn trương, quyết liệt chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ GTVT và sự thực hiện đồng bộ, quyết tâm của các cấp ủy Đảng, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ GTVT, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, Ngành GTVT sẽ thực hiện thắng lới Nghị quyết Nghị quyết Trung ương 8, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế./.