Top 21 # Cảm Nhận Văn Bản Cô Bé Bán Diêm / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Cảm Nhận Về Truyện Cô Bé Bán Diêm / 2023

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý 1. Mở bài:

– Khái quát nội dung tác phẩm: Truyện “Cô bé bán diêm” khắc họa lại hình ảnh đáng thương của cô bé bán diêm đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của tác giả thông qua nghệ thuật kể đặc sắc.

2. Thân bài: a. Cảm nhận về nội dung * Hình ảnh cô bé bán diêm đáng thương

+ nhà nghèo, mồ côi mẹ, bà mất khiến gia đình phá sản, sa sút

+ phải đi bán diêm kiếm tiền

+ thường xuyên bị bố đánh đập, hành hung nếu không bán được diêm

– Khung cảnh đêm giao thừa: một đêm trời rét mướt, khi mà nhà nhà sáng rực ánh đèn cùng mùi thơm của thức ăn tỏa ra khắp ngóc ngách.

– Trái ngược với khung cảnh ấy là hình ảnh cô bé bán diêm ngồi nép vào góc tường, hứng chịu từng đợt gió rét xé thịt mà không dám về nhà vì sợ cha đánh khiến người đọc xúc động, thương cảm, xót xa vô cùng.

+ Lần quẹt thứ nhất cô bé tưởng tượng ra chiếc lò sưởi.

+ Lần quẹt thứ hai cô bé nhìn thấy một bàn ăn thịnh soạn.

+ Lần quẹt thứ ba là cây thông Nô-en sặc sỡ của đêm giáng sinh.

+ Lần quẹt thứ tư, người bà hiện ra trước mặt cô bé

+ Mỗi lần quẹt diêm là một mộng tưởng, nhưng khi diêm tắt, hiện thực giá buốt lại hiện ra. Sự đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng trong ánh mắt trẻ thơ đã một lần nữa gợi ra hoàn cảnh đáng thương đến xúc động của cô bé và những khát khao, mơ ước giản dị, chân thành của em.

– Hình ảnh cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng đôi má vẫn hồng hào và đôi môi đang mỉm cười khiến người đọc không khỏi bang hoàng, xúc động và lặng người trước số phận đáng thương của con người.

b. Thông qua hình ảnh đáng thương của cô bé bán diêm, tác giả lên án sự thờ ơ, vô cảm của xã hội.

– Người đáng lên án đầu tiên đó chính là cha của cô bé, một người cha tàn ác, nhẫn tâm, không thể lo nổi cho con mình còn bóc lột, hành hung cô bé một cách tàn nhẫn. Đó chính là sự tha hóa, bang hoại về đạo đức con người.

– Không chỉ vậy, chính xã hội cũng thơ ơ, vô cảm với em. Họ không thể mua cho cô bé lấy nổi 1 bao diêm hay cho cô bé bất cứ một thứ gì mà chỉ quan tâm đến bản thân mình. Khi thấy xác cô bé bên đường, sự vô tâm lại càng khiến ta tức giận khi họ chỉ buông một câu xanh rờn “Chắc nó muốn sưởi ấm!”.

c. Tấm lòng nhân đạo của tác giả

– Đồng cảm, thương xót trước số phận bất hạnh của cô bé bán diêm

– Đồng cảm với những ước mơ, khát khao giản dị, chân thành của con người nhỏ bé.

– Lên án, tố cáo sự thơ ơ, vô tâm, vô cảm của một lớp người trong xã hội.

– Hướng đến sự giải thoát cho cô bé bằng cách cho cô đoàn tụ với bà của mình trên Thiên đường, dưới sự bảo vệ của Chúa.

d. Nghệ thuật

– Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen hài hòa giữa hiện thực và mộng tưởng.

– Diễn biến tâm lí nhân vật hợp lí.

3. Kết bài

– Khẳng định lại giá trị tác phẩm: “Cô bé bán diêm” là tác phẩm gây xúc động mạnh cho người đọc với hoàn cảnh đáng thương của con người nhỏ bé trước xã hội vô cảm.

– Liên hệ đến chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: Tác phẩm thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.

Bài mẫu

Bài tham khảo số 1

Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen…

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán.

Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”.

Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”.

Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu”.

Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.

Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người.

Cảm Nhận Về Nhân Vật Cô Bé Bán Diêm / 2023

Nêu cảm nghĩ về nhân vật cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Andersen để đồng cảm với tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm nghèo khổ, qua đó hiểu được nỗi niềm của tác giả dành cho những con người bất hạnh.

Viết bài văn nêu lên cảm nghĩ về nhân vật cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Andersen

Dàn ý cảm nghĩ về nhận vật cô bé bán diêm chi tiết

A. Mở bài: Giới thiệu truyện Cô bé bán diêm và cảm nghĩ chung của em về cảnh ngộ và cái chết của cô bé.

Thương cảm, xót xa trước cảnh ngộ nghèo khổ, trước cái chết của cô bé.

Suy nghĩ về tình cảm giữa những lớp người, giữa những cá nhân với các số phận khác nhau trong xã hội: cần có sự thương cảm, có hành vi giúp đỡ, quan tâm đến nhau).

B. Thân bài

Thương cảm, ái ngại trước cảnh ngộ nghèo khổ, cơ cực của cô bé và sự phẫn nộ trước thái độ thờ ơ của mọi người trong truyện.

Lược thuật ngắn gọn cái chết của em (chú ý các chi tiết quan trọng: em chết nhưng đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười, em chết giữa những bao diêm, ở xó tường, bên ngoài là tuyết phủ mặt đất…)

Nêu và phân tích tình cảm của em trước cái chết đó: xót xa, nghẹn ngào vì em bé đã chết. Xúc động, thương em bé có những ước mơ bình thường mà không đạt được.

Từ cái chết của em bé bán diêm nghĩ đến cuộc sống của biết bao em bé nghèo khổ, bao gia đình không đủ miếng ăn, không có quần áo mặc. Từ đó nghĩ đến trách nhiệm của mọi người đối với những người nghèo khổ khác.

C. Kết bài

Khẳng định một lần nữa tình cảm nhân vật mà truyện gợi lên trong lòng người đọc.

Nêu rõ trách nhiệm và tình thương của mọi người đối với số phận và cuộc đời những em bé bán diêm, bán báo, nhặt vỏ chai… thời nay

Những bài văn mẫu cảm nhận về nhân vật cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên

Bài văn mẫu 1

Truyện ngắn Cô bé bán diêm của nhà văn An-đéc-xen đã để lại những dư âm, ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Không chỉ vậy đó còn là niềm cảm thương vô hạn cho số phận bất hạnh, đầy bi thương của nhà văn với cô bé bán diêm.

Hoàn cảnh của cô bé vô cùng thương cảm, ngay từ những lời đầu tiên giới thiệu về hoàn cảnh của cô bé đã khiến người đọc phải rơi nước mắt: bà và mẹ những người yêu thương em nhất đều đã qua đời, em sống chui rúc với bố trong một căn gác tối tăm, chật chội. Người bố có lẽ vì cuộc sống nghèo túng, khó khăn nên đâm ra khó tính, đối xử tệ bạc với em: hay mắng nhiếc, chửi rủa em. Trong đêm đông giá rét em phải mang những phong diêm đi bán để kiếm sống nuôi bản thân. Mặc dù có nhà song em không dám về vì nếu về mà không mang được đồng xu nào tất sẽ bị cha em mắng chửi. Người cha vô lương tâm, lời lẽ hành động thiếu tình thương đã khiến cô bé bất hạnh phải ở bên ngoài trong đêm đông giá lạnh, trong gió và mưa tuyết mỗi lúc một nhiều.

Xót thương biết bao trong ngày cuối cùng của năm ai ai cũng được quay quần bên gia đình còn cô bé thì đầu trần, chân đất lang thang ngoài trời đông giá rét, tuyết phủ trắng xóa. Xung quanh em đường phố, nhà cửa đã lên đèn, không gian thật ấm cúng, hạnh phúc, mùi ngỗng sực nức khắp nơi, còn em đã đi cả ngày mà không bán được bao diêm nào. Những hình ảnh tương phản không chỉ làm nổi bật thiếu thốn, khó khăn về vật chất của em mà còn nói đến những mất mát, thiếu thốn về mặt tinh thần.

Trong cái giá rét của mùa đông, cô bé liều mình quẹt từng que diêm để sưởi ấm cơ thể. Hình ảnh ngọn lửa diêm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trước hết ngọn lửa diêm xua tan cái lạnh lẽo, tăm tối để em bé có thể quên đi những bất hạnh, cay đắng của cuộc đời. Ngọn lửa diêm đã thắp sáng những mơ ước đẹp đẽ, những khao khát mãnh liệt, đem đến thế giới mộng tưởng với niềm vui, hạnh phúc. Đó còn là ngọn lửa của mơ ước về cuộc sống gia đình hạnh phúc, được sống trong tình yêu thương của cha mẹ, ông bà. Hình ảnh ngọn lửa diêm như con thuyền đầy tinh thần nhân văn của tác giả, thể hiện sự cảm thông, trân trọng những ước mơ giản dị, diệu kì của trẻ nhỏ.

Mỗi lần quẹt diêm, cô bé tội nghiệp lại được sống trong giây phút hạnh phúc, chìm đắm trong thế giới cổ tích, thoát khỏi thực tại tăm tối. Lần quẹt diêm thứ nhất, em thấy lò sưởi, vì trong đêm đông giá lạnh em cần được sưởi ấm. Khi que diêm vụt tắt, lò sưởi biến mất, nỗi sợ hãi mơ hồ lại xâm chiếm em “đêm nay về nhà thế nào cũng bị cha mắng”. Em lại lấy can đảm quẹt diêm lần thứ 2, lần này em thấy một bàn ăn thịnh soạn,… sự tưởng tượng của em thật ngộ nghĩnh, cho thấy mơ ước lớn nhất lúc này của em là được ăn no. Trong đêm giao thừa gia đình nào cũng quây quần bên mâm cơm, còn em lại đói lả đi trong cái giá lạnh. Chi tiết gây xúc động sâu sắc đến người đọc, nó gợi lên những ám ảnh day dứt khôn nguôi. Lần thứ ba, trong không khí đêm giáng sinh, em thấy hình ảnh của cây thông. Đó chính là biểu tượng của mái ấm gia đình hạnh phúc, là những ước mơ trong sáng của tuổi thơ. Lần thứ 4, giữa cái đói rét và cô độc, em khao khát có tình yêu thương và chỉ có bà là người yêu thương em nhất. Trong giây phút đó bà hiện lên thật ấm áp, đẹp đẽ. Cô bé khẩn thiết van xin bà cho đi cùng, bởi cô bé hiểu khi ngọn lửa diêm tắt đi bà cũng biến mất. Ước nguyện của cô bé thật đáng thương, cô bé muốn được che chở, được yêu thương biết nhường nào. Lần cuối cùng em quẹt hết số diêm còn lại để nhìn thấy bà và thật kì lạ ước nguyện cuối cùng của em đã trở thành hiện thực.

Em không còn phải đối mặt với đòn roi, những lời mắng nhiếc, sự đói rét, nỗi buồn nữa, em đã được đến một thế giới khác, thế giới có bà ở bên. Qua những lần mộng tưởng của cô bé ta thấy cô bé là người có tâm hồn trong sáng, ngây thơ. Trong đói rét em không hề oán trách một ai vì đã thờ ơ trước cảnh ngộ của mình. Tâm hồn em thật trong sáng và nhân hậu biết chừng nào. Đó là một cô bé giàu mơ ước, vượt lên hoàn cảnh thực tại đói rét, cô đơn. Những mơ ước ấy giản dị mà cũng thật lãng mạn, diệu kì.

Em bé đã chết mà đôi mắt vẫn hồng, đôi môi vẫn đang mỉm cười, Cái chết thể hiện sự thanh thản, toại nguyện vì em đã được về với người bà kính yêu, thoát khỏi mọi khổ đau, bất hạnh. Cái chết còn thể hiện tấm lòng nhân đạo của nhà văn với trẻ thơ, đó là sự cảm thông, yêu thương, trân trọng những mơ ước bé nhỏ của chúng.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của tác phẩm. Truyện có kết cấu hợp lí, diễn biến phù hợp với hoàn cảnh đáng thương của em bé bán diêm. Vận dụng nghệ thuật đối lập tương phản tài tình càng làm nổi bật hơn số phận bất hạnh của cô bé.

Gấp trang sách lại, người đọc vẫn thổn thức về cái chết của cô bé bán diêm tội nghiệp, đáng thương. Không chỉ vậy, qua tác phẩm ta càng thêm trân trọng tấm lòng của tác giả dành cho trẻ thơ với thông điệp về lòng yêu thương con người đầy ý nghĩa: hãy yêu thương con trẻ, hãy dành cho chúng một cuộc sống bình yên trong một gia đình hạnh phúc.

Bài văn mẫu 2 cảm nhận về nhân vật cô bé bán diêm

An-đéc-xen được mệnh danh là ông già kể chuyện cổ tích, nhà văn lớn của Đan Mạch. Truyện ông viết không chỉ dành cho thiếu nhi mà ở mỗi câu chuyện viết cho thiếu nhi là những bài học nhân đạo cho người lớn. Ông có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số đó phải kể đến truyện ngắn: “Cô bé bán diêm”. Hiện lên nổi bật trong tác phẩm là hình ảnh cô bé bán diêm đáng thương.

Trước hết cô bé bán diêm được khắc tả với một gia cảnh nghèo khó, khổ cực. Mồ côi mẹ từ sớm, em sống với cha và bà. Nhưng rồi người bà yêu thương em nhất cũng để em ở lại mà bay về thiên đường. Em sống với người cha nghiện ngập, hàng ngày bắt em làm việc kiếm tiền cho mình. Một cô bé còn quá nhỏ để làm lụng vất vả như vậy. Một cô bé thiếu thốn tình yêu thương của gia đình.

Cô bé bán diêm nhỏ bé mà phải chịu đựng bao đau khổ, khó khăn ngay cả trong ngày Lễ Giáng sinh – ngày gia đình đoàn tụ ấm áp. Trong bão tuyết lạnh lẽo trắng xoá, mọi người mặc những bộ quần áo ấm áp, rực rỡ thì em lại đi đôi chân trần trên mặt đất trắng xoá đầy tuyết. Đôi chân vì lạnh mà đỏ ửng. Trên người em là bộ quần áo rách, đầu trần không đội mũ để tuyết phủ kín đầu. Nhìn bề ngoài ấy thật đáng thương đến tội nghiệp.

Em luôn miệng mời mọi người xung quanh mua diêm, nhưng không ai quan tâm đến cô bé đáng thương. Đến đây ta thấy sự trách móc ẩn sâu trong câu văn của An-đec-xen về những con người sống quá vội, thiếu đi tình yêu thương nhân loại, bỏ qua những sinh linh nhỏ bé. Em lạnh, đói và rét nhưng không dám về nhà vì lo sợ cha sẽ đánh đập vì không bán được hộp diêm nào.

Em nhìn phố lên đèn, nhìn những ngôi nhà trang hoàng ấm cúng khiến người đọc thật xót xa. Tác giả phác hoạ những đường nét đối lập để nhấn mạnh sự đáng thương, thiếu thốn của cô bé bán diêm. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Kí ức hiện lên ngắn ngủi nhưng cũng đủ khiến em mỉm cười trong cái lạnh. Nhưng quá khứ càng đẹp thì hiện tạo càng đáng thương, càng chua xót.

Những mong ước của cô bé bán diêm được cảm nhận sâu sắc nhất trong những lần quẹt diêm. Lần quẹt diêm thứ nhất “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Giấc mơ giản dị, đơn giản là được ngồi trước lò sưởi ấm em không thể có. Hiện thực trước mắt em là tuyết trắng dày đặc, tiết trời mùa đông lạnh cắt da cắt thịt. Ánh sáng tắt đi, bóng tối lại bao quanh

Em quẹt que diêm thứ hai ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy: “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Không chỉ phải chịu lạnh, em còn phải chịu đói. Bởi vậy ước muốn ấy thiết thực bao nhiêu thì càng khía sâu nỗi đáng thương đói rét của em bấy nhiêu. Nhưng chưa được bao lâu hiện thực lại bủa vây em. Em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và em quẹt tiếp một que diêm. Que diêm cháy sáng, vùng ánh sáng lại hiện lên. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Que diêm lại vụt tắt mang đi niềm vui vừa mới mở ra. Em vội quẹt thêm que diêm vào tường, một ánh sáng xanh toả ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em “- Bà ơi! Em bé reo lên, cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia khi bà chưa về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”

Em quẹt hết số diêm còn lại. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế.

Cái chết của em vừa đáng thương lại vừa kì ảo. Bởi nó nhẹ nhàng hệt như một giấc ngủ, giấc mơ. Ước mơ của em thật đẹp. Nhưng càng đẹp thì càng đau xót. Em bé bán diêm sống cuộc đời bé nhỏ nghèo khổ thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ và thiếu cả tình thương của cộng đồng.

Qua nhân vật cô bé bán diêm, An-đec-xen nói lên tiếng nói yêu thương với những đứa trẻ đáng thương, tội nghiệp. Đồng thời cũng là lời phê phán những con người thờ ơ, thiếu tình yêu thương với những con người khó khăn.

Bài văn cảm nhận về cô bé bán diêm mẫu 3

Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây thường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy: “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Cảm Nhận Về Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm / 2023

Để làm được bài văn cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm này, Đọc tài liệu xin gợi ý tới các em dàn ý kèm một số bài văn mẫu như sau:

Dàn ý cảm nhận truyện ngắn Cô bé bán diêm

– Giới thiệu một vài nét về tác giả tác phẩm: ” Cô bé bán diêm “, nhà văn An-đéc-xen.

– Nội dung chính của tác phẩm: Truyện “Cô bé bán diêm” khắc họa lại hình ảnh đáng thương của cô bé bán diêm đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của tác giả thông qua nghệ thuật kể đặc sắc.

Luận điểm 1: Cảm nhận về nội dung

* Hình ảnh cô bé bán diêm đáng thương

– Hoàn cảnh đáng thương:

+ nhà nghèo, mồ côi mẹ, bà mất, gia đình sa sút

+ thường xuyên bị bố đánh đập, hành hung nếu không bán được diêm

+ phải đi bán diêm kiếm tiền

– Khung cảnh đêm giao thừa: một đêm trời rét mướt, khi mà nhà nhà sáng rực ánh đèn cùng mùi thơm của thức ăn tỏa ra khắp ngóc ngách.

– Trái ngược với khung cảnh ấy là hình ảnh cô bé bán diêm nhỏ bé ngồi nép vào góc tường, hứng chịu từng đợt gió rét xé thịt mà, vì không bán được ít diêm nào và cũng chẳng ai cho lấy một đồng khiến cô bé không dám về nhà, sợ cha đánh.

– Giữa hoàn cảnh thực đáng thương, 4 lần quẹt diêm để sưởi ấm chính là 4 giấc mộng của cô bé, là ước mơ, mong ước về cả quá khứ và cả tương lai.

+ Lần quẹt thứ nhất cô bé tưởng tượng ra chiếc lò sưởi.

+ Lần quẹt thứ hai cô bé nhìn thấy một bàn ăn thịnh soạn.

+ Lần quẹt thứ ba là cây thông Nô-en sặc sỡ của đêm giáng sinh.

+ Lần quẹt thứ tư, người bà hiện ra trước mặt cô bé

– Hình ảnh cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng đôi má vẫn hồng hào và đôi môi đang mỉm cười khiến người đọc không khỏi bàng hoàng, xúc động, lặng người trước số phận đáng thương của con người.

Luận điểm 2: Thông qua hình ảnh đáng thương của cô bé bán diêm, tác giả lên án sự thờ ơ, vô cảm của xã hội.

– Người đáng lên án đầu tiên đó chính là cha của cô bé, một người cha tàn ác, nhẫn tâm, không thể lo nổi cho con mình còn bóc lột sức lao động, hành hung cô bé một cách tàn nhẫn. Đó chính là sự tha hóa, băng hoại về đạo đức con người.

– Không chỉ vậy, chính xã hội cũng thờ ơ, vô cảm với em. Họ không thể mua cho cô bé lấy nổi 1 bao diêm hay cho cô bé bất cứ một thứ gì mà chỉ quan tâm đến bản thân mình. Khi thấy xác cô bé bên đường, sự vô tâm lại càng khiến ta tức giận khi họ chỉ buông một câu xanh rờn “Chắc nó muốn sưởi ấm!”.

Luận điểm 3: Tấm lòng nhân đạo của tác giả

– Đồng cảm, thương xót trước số phận bất hạnh của cô bé bán diêm

– Đồng cảm với những ước mơ, khát khao giản dị, chân thành của con người nhỏ bé.

– Lên án, tố cáo sự thờ ơ, vô tâm, vô cảm của một lớp người trong xã hội.

– Hướng đến sự giải thoát cho cô bé bằng cách cho cô đoàn tụ với bà của mình trên Thiên đường.

Luận điểm 4: Đặc sắc về nghệ thuật

– Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen hài hòa giữa hiện thực và mộng tưởng.

– Diễn biến tâm lí nhân vật hợp lí.

III. Kết bài:

– Khẳng định lại giá trị tác phẩm: “Cô bé bán diêm” là tác phẩm gây xúc động mạnh cho người đọc với hoàn cảnh đáng thương của con người nhỏ bé trước xã hội vô cảm.

– Liên hệ đến chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: Tác phẩm thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.

Văn mẫu cảm nhận truyện ngắn Cô bé bán diêm

Truyện cổ An-đéc-xen đã từng đi qua biết bao tuổi thơ của con người. Nó gợi lên cho người đọc trí tưởng tượng phong phú, đồng thời cũng gửi gắm trong đó nhiều thông điệp của tác giả. Không ai có thể quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ trong “Cô bé bán diêm” cùng một kết thúc buồn nhưng nhẹ nhàng, giàu tình người.

Trong mùa đông giá rét năm ấy, có một cô bé mồ côi đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Em không dám về nhà vì nếu chưa bán được diêm, em sẽ bị cha đánh. Trong đêm giao thừa, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. Một cô bé đáng thương vừa thiếu đi hơi ấm của ngọn lửa vừa thiếu đi hơi ấm của tình người.

Em thầm mong có một que diêm để quẹt lấy hơi ấm. Ước ao bé nhỏ ấy em không dám thực hiện chỉ đơn giản bởi em sợ mình sẽ làm hỏng mất bao diêm. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”. Nhờ vậy, em như được nhìn thấy phép màu quá ngọn lửa bé nhỏ: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Em nhận ra có “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Có lẽ giữa sự khắc nghiệt của hoàn cảnh thực tại đã khiến em có một ước mơ giản đơn nhưng lại quá xa vời. Que diêm vụt tắt là lúc giấc mơ của em cũng kết thúc và em được trở về với hiện tại. Em tự mình hình dung ra những lời mắng chửi thậm tệ của cha. Nỗi lo sợ vây kín tâm hồn em.

Không chỉ phải chống chọi với cái giá rét của mùa đông, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Ánh sáng của ngọn lửa que diêm thứ hai rực lên cũng là lúc bức tường xám xịt kia trở thành một “tấm rèm bằng vải màu”. Em ngập tràn hạnh phúc khi nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Nhưng tất cả cũng chỉ diễn ra trong chốc lát. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường. Thương em bao nhiêu, ta càng thấy oán trách sự vô tâm của xã hội em sinh ra và lớn lên.

Và một lần nữa, que diêm lại sáng bừng lên, cho em “một cây thông Nô-en”, như trả lại tuổi thơ cho em: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Niềm vui của em vừa trỗi dậy rồi cũng vụt tắt như que diêm kia. Tất cả những gì em nhìn thấy cũng chỉ là ảo ảnh. Em không thể đưa tay chạm vào, mà chỉ có thể cảm nhận trong phút chốc qua trí tưởng tượng của bản thân. Trước đêm đông giá rét, em đang dần kiệt sức và gục ngã.

Thường những phút cuối đời, người ta thường mong ước được ở bên cạnh những người thân yêu. Có lẽ vì thế nên khi thắp lên que diêm tiếp theo, em nhìn thấy người bà hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Em có cảm giác như mình được trở về với quãng thời gian ấm áp khi xưa. Em mong mỏi, khát khao được ở bên bà: “Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.” Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được những vất vả, khó khăn đến cùng cực mà em đang phải gánh chịu. Điều cần thiết với em lúc này không phải là được sưởi ấm, được ăn no. Em mong mỏi được sống trong tình yêu thương của gia đình. ĐÓ chính là ước mơ thầm kín bấy lâu nay của em. Bởi vậy, mặc cho nỗi sợ bị cha đánh mắng, tuyết rơi giá rét, em vội vàng thắp hết những que diêm còn lại để được bên bà lâu hơn nữa. Rồi em được trở về với bà, đến một nơi mà “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Em ra đi thanh thản trong niềm hạnh phúc ngập tràn.

Kết thúc câu chuyện là hình ảnh “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”. Không ai biết được điều gì đã thực sự xảy ra trong đêm đông hôm đó. Một cái kết buồn trong lòng người đọc nhưng lại là niềm hạnh phúc bé nhỏ của em bé bán diêm bất hạnh.

Thông qua câu chuyện, nhà văn đã gửi gắm một thông điệp nhỏ tới toàn thể nhân loại: thông điệp về tình người. Còn đó ngoài kia biết bao trẻ em lang thang cơ nhỡ đang cần chúng ta dang rộng cánh tay giúp đỡ. Các em thực sự cần được quan tâm, yêu thương và bảo vệ.

Nhà văn An-đéc-xen là một nhà văn gắn liền với nhiều tuổi thơ của trẻ em trên toàn thế giới. Ông đã viết lên nhiều câu chuyện cổ tích với những cái kết có hậu làm nên nụ cười của rất nhiều độc giả nhí.

Nhưng trong tác phẩm “Cô bé bán diêm” kết thúc của truyện lại làm cho người đọc không khỏi băn khoăn day dứt trước sự ra đi của một cô bé nghèo khổ, lang thang trong đêm cuối năm.

Cái chết của cô bé bởi những con người xung quanh cô quá vô tâm, không ai quan tâm tới nỗi đau, sự cô đơn trong tâm hồn của em. Cái chết của cô bé bán diêm chính là lời tố cáo về sự thờ ơ của xã hội với những mảnh đời trẻ thơ bất hạnh.

Trong đêm cuối năm ấy, giữa mùa đông rét mướt đó có một cô bé đi trong đêm tối, dưới trời mưa tuyết với đôi chân trần không giày, không tất, em cũng không đội mũ.

Hai tay em đã tê cóng bởi lạnh buốt, bụng em đói meo bởi từ sáng tới giờ em chưa bán được bao diêm nào. Cũng không có ai nhủ lòng từ bi, bố thí cho em chút tiền lẻ, hay chiếc bánh mì để em có thể ăn lót dạ, ấm lòng.

Trong đêm cuối năm dường như rất ít người ra đường nếu có ai đó có việc phải đi ra ngoài thì hình như họ cũng rất vội vàng, bởi họ không muốn bỏ qua giây phút được cùng gia đình quây quần đón năm mới sang.

Em bé không thể về nhà bởi nếu em không bán được bao diêm nào thì nhất định về nhà sẽ bị cha em đánh đòn. Về nhà cũng không ấm áp hơn ngoài đường là bao, bởi em chỉ sống ở tầng áp mái, không có lò sưởi cũng chẳng đủ ấm. Nghĩ vậy nên cô bé bán diêm cứ tiếp tục đi trong đêm như vậy.

Em đi mãi mà chẳng bán được bao diêm nào, nên cô bé ngồi giữa khe hở của hai ngôi nhà trong suy nghĩ của em chợt lóe lên ý nghĩ lấy những que diêm sưởi ấm cho đôi bàn tay của mình. Nghĩ vậy em đã quẹt một que diêm lên.

Trong ánh sáng lung linh kỳ diệu đó em nhìn thấy một cái lò sưởi. Hơi ấm của nó lan tỏa làm em vô cùng ấm áp. Cô bé bán diêm đã rất lạnh và điều em ao ước lúc này chính là một cái lò sưởi để cho cơ thể em có thể ấm áp lên đôi chút. Khi ánh sáng từ que diêm vụt tắt em lại nhìn thấy những mảnh tường tối đen, tuyết vẫn rơi đường phố vắng lặng người qua lại.

Em quẹt que diêm thứ hai, lần này em nhìn thấy một bàn đầy thức ăn, chao ôi ngon ơi là ngon, có súp nóng, có cả một con ngỗng quay với những chiếc thìa, dĩa bằng bạc sáng loáng cả mắt. Dường như cô bé bán diêm của chúng ta đã rất lạnh và đói. Mơ ước giản dị của em chỉ là một nơi ấm áp và một bữa tối no bụng.

Một mơ ước bình dị với bất kỳ em bé nào nếu có cha có mẹ, có một mái ấm gia đình nhiều tình thương. Nhưng với em bé bán diêm của chúng ta thì thật là điều xa vời hoang tưởng.

Cô bé bán diêm lại quẹt que diêm thứ ba lên lần này em nhìn thấy một cây thông nô en rực rỡ sắc màu. Trên cây thông đó còn treo rất nhiều quà. Đó là cây thông đẹp nhất mà từ trước tới giờ em từng nhìn thấy. Que diêm thứ tư sáng lên em nhìn thấy bà ngoại của mình.

Người duy nhất trên đời này yêu thương em. Nhưng bà đã qua đời từ năm ngoái nên trên cõi đời này không còn ai yêu thương em nữa. Em nhìn thấy bà nhìn thấy người yêu thương của mình, khiến em òa khóc, cô bé muốn được đi cùng bà của mình. Cô gọi lớn “Bà ơi cho cháu đi theo với”

Em mong muốn được sống với người bà thân thương của mình được sống với tình yêu thương của người thân với mình.

Rồi em cũng được đi cùng bà tới một nơi mà chẳng còn những buồn đau, đói khổ, đến nơi mà ba em sẽ chẳng thể nào hành hạ đánh đập em được nữa. Nơi sẽ có nhiều tình thương yêu, hạnh phúc ngập tràn.

Cô bé bán diêm của chúng ta đã ra đi như vậy. Sáng hôm sau trên đường phố khi người ta thức dậy đã thấy có xác một cô bé nằm lạnh lẽo nơi góc phố, trên môi cô vẫn còn mỉm cười hạnh phúc.

Kết thúc của truyện ngắn làm cho người ta ám ảnh bởi trong cảnh đầu năm thiêng liêng, ngày mà con người ta mong ước tới những điều hạnh phúc, hy vọng mới nhưng cô gái nhỏ bé của chúng ta lại ra đi như vậy.

Một kết thúc khiến cho trái tim người đọc cảm thấy nhức nhối nhưng lại là sự giải thoát hoàn hảo cho em. Bởi trên thế gian này không còn ai yêu thương em nữa, mọi người sống ích kỷ và quá vô tâm trước nỗi đau của người khác.

Không ai lo lắng, yêu thương chăm sóc em, tới cha em người thân duy nhất của em cũng không hề quan tâm yêu thương em. Ông ta chỉ biết say xỉn suốt ngày rồi đánh đập hành hạ em bắt em phải đi kiếm tiền về cho ông ta mà thôi, vậy em sống cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Thông qua truyện ngắn này nhà văn An-đéc-xen muốn gửi những thông điệp ý nghĩa nhân văn tới toàn thể con người rằng ở ngoài kia có rất nhiều em bé lang thang cần bàn tay chăm sóc, giúp đỡ của chúng ta. Chỉ cần một cử chỉ nhỏ nhoi chúng ta có thể cứu vớt được một linh hồn cô đơn, tuyệt vọng, khốn khổ.

Một đề văn hay tương tự: Cảm nhận về nhân vật Cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên

Nhà văn An-đéc-xen là một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện cổ tích thần thoại, được các bạn thiếu nhi trên cả thế giới biết tới. Trong những tác phẩm của ông những người tốt, những người có hoàn cảnh bất hạnh thường có một kết thúc có hậu, viên mãn, được hạnh phúc.

Tuy nhiên, truyện ngắn” Cô bé bán diêm” là một tác phẩm đặc biệt mà nhân vật chính trong câu chuyện có cái kết thật bất hạnh. Nó như một lời tố cáo tội ác của xã hội lúc bấy giờ, thờ ơ trước những mảnh đời bất hạnh, thờ ơ với những em bé mồ côi tội nghiệp. Thời đại mà tác giả viết trong tác phẩm của mình, thể hiện sự ích kỷ của người lớn. Họ chỉ biết quan tâm tới hạnh phúc của riêng mình mà thờ ơ với nỗi đau của những người xung quanh.

Truyện ngắn mở đầu bằng một đêm cuối năm, thời tiết vô cùng khắc nghiệt, mưa tuyết bao phủ, lạnh lẽo vây quanh cảnh vật thiên nhiên và tâm hồn của con người. Sự khắc nghiệt khi trời càng về khuya càng lạnh lẽo, tuyết rơi càng ngày càng dày đặc.

Điều đặc biệt nữa là đêm đó là đêm giao thừa, là đêm cuối năm mà những con người đều dành thời gian cho gia đình của mình. Họ đều mong chờ một điều gì đó tốt đẹp trong năm mới, nhưng lại lãng quên đi những số phận hoàn cảnh sống khó khăn hơn mình.

Trong đêm giao thừa ấy, là lúc giao thoa giữa năm cũ và năm mới, là khoảnh khắc tiễn đưa năm cũ qua đi, và chào đón năm mới đến. Khắp nơi tuyết phủ một màu trắng xóa. Trong đêm cuối năm ấy, có một cô bé đầu trần không có mũ, chân đi đất, lạnh buốt đang mò mẫm trong đêm tối.

Em đi bán những bao diêm nhỏ để lấy tiền mưu sinh. Cả ngày hôm nay em chưa bán được bao nào, bởi vì ai cũng vô cùng bận, họ tất tả về nhà để kịp đón giao thừa với gia đình, người thân chẳng ai buồn để ý tới em.

Nên cô bé bán diêm tội nghiệp đi mãi đi mãi mà chẳng bán được gì. Nếu như không bán được thì về nhà em sẽ bị ba em đánh đòn. Nghĩ như vậy, em không dám quay trở về nhà dù người lạnh buốt bụng đói, và thân thể mệt mỏi.

Người thân duy nhất yêu thương cô bé trên cõi đời này chỉ có bà ngoại của em. Nhưng bà đã mất từ năm ngoái nên cô bé sống với cha của mình. Nhưng cha em là người thường xuyên say rượu và thường xuyên đánh đập em nếu em không có tiền mang về cho ông ấy. Hai cha con ở trên tầng gác mái, nơi lạnh lẽo, bởi những khe hở từ mái nhà, nên có về cũng chẳng ấm áp hơn.

Cô bé bán diêm đang thương không tên cứ lầm lũi đi trong đêm tối, bơ vơ vô định trong bầu trời trắng xóa bởi tuyết rơi, em cố gắng tới những nơi còn nhiều người qua lại, mong sao có thể bán được chút gì đó. Nhưng có lẽ do trời rét quá mà khách đi lại đều bước rất nhanh họ vội vã trở về nhà, chẳng ai quan tâm tới lời mời chào của em cả.

Em cứ đi đi mãi cho tới khi mệt mỏi em ngồi ở một vách ngăn giữa hai ngôi nhà, nhìn vào những ô cửa sổ. Bên trong nhà những cây thông nô-en lấp lánh ánh đèn đẹp lung linh. Trên những chiếc bàn ăn mọi người vui vẻ ăn tối, có súp nóng, có ngỗng quay, có cả lò sưởi nữa, thật hạnh phúc và ấm áp biết bao. Em bé cứ ngồi đó với hy vọng sẽ có người tới mua giúp em một bao diêm nhỏ.

Em lấy hai bàn tay của mình xoa vào nhau, đôi bàn tay của em đã cứng đờ lạnh cóng, em đưa chúng lên xoa xoa cho đỡ lạnh. Rồi em nghĩ tới việc đánh một que diêm lên để sưởi ấm đôi bàn tay nhỏ đang lạnh cóng. Em lấy bao diêm ra và quẹt một que.

Trong ánh sáng lung linh nhỏ nhoi kia. Em nhìn thấy một chiếc lò sưởi thật ấm áp. Em bé bán diêm của chúng ta đã lạnh cóng nên việc mơ ước đầu tiên của em là có một lò sưởi thật ấm áp để thỏa nỗi lòng. Nhưng khi ánh sáng của que diêm vừa vụt tắt, thì không gian xung quanh lại tối tăm, lạnh lẽo không có gì thay đổi cả.

Cô bé vội vàng lấy que diêm thứ hai ra và quẹt. Lần này em nhìn thấy một bàn đầy thức ăn, có cả một con ngỗng quay béo vàng ngậy. Đó là mơ ước giản dị của một cô bé khi đang đói bụng.

Rồi khi ánh sáng kia vụt tắt em nhìn thấy xung quanh mình tối tăm, lạnh buốt, không gian im ắng tới mức đáng sợ. Em lại vội vàng lấy que diêm thứ ba quẹt lên. Trong ánh sáng lung linh kia em nhìn thấy một cây thông nô en lung linh với những món quà, những ánh đèn nháy nhiều màu sắc thật là đẹp.

Đến que diêm thứ tư em nhìn thấy bà của mình. Bà xuất hiện với nụ cười hiền lành ấm áp, em gọi bà “bà ơi cho cháu đi theo với”, rồi khi que diêm vụt tắt, tất cả lại tăm tối, lạnh lẽo, không gian tĩnh mịch tới lạnh người. Em lại tiếp tục quẹt hết que diêm này tới que diêm khác cho tới khi không còn que diêm nào trong người nữa.

Thật đau xót biết bao khi em bé bán diêm tội nghiệp của chúng ta đã bị xã hội bỏ rơi, lãng quên trong sự đói rét lạnh lẽo của tâm hồn. Chính vì vậy, ước mơ của em là được đến nơi thiên đường nơi có bà em, người duy nhất thương yêu em.

Trong ánh sáng lung linh kia em nhìn thấy bà của mình. Bà cầm tay em rồi cả hai cùng vút lên cao cao mãi không còn những đói rét, bất hạnh, không còn nỗi buồn, những lời mắng chửi những trận đòn roi của cha em. Hình ảnh người bà thật ấm áp sưởi ấm trái tim lạnh giá của em.

Sáng hôm sau, khi người ta ra đường thì nhìn thấy một em bé đáng thương nằm chết cóng bên đường sau đêm giao thừa. Cái chết của em chính là lời tố cáo với xã hội vô tâm.

Dù trên khuôn mặt em chỉ như đang ngủ người ta nhìn thấy em có đôi má hồng và đôi môi như đang mỉm cười, thì cũng không thể nào chối bỏ rằng, việc em chết có phần trách nhiệm của những con người vô tâm kia.

Chính vì họ đã lạnh lùng bỏ đi, làm ngơ trước nỗi khổ của em, nên em mới phải từ biệt cuộc sống này để sang một thế giới khác ấm áp hơn, tình người hơn. Nơi sẽ không mang lại cho em những bất hạnh, đói khổ.

-/-

Cảm Nhận Ý Nghĩa Truyện Ngắn “Cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen / 2023

Cảm nhận ý nghĩa truyện ngắn “Cô bé bán diêm” của Andecxen

Truyện ngắn Cô bé bán diêm là tác phẩm xuất sắc nhát của nhà văn Andecxen. Phủ lên một bóng mờ cổ tích, tác phẩm làm lộ rõ bản chất chân thực của xã hội dương thời. Đó là một xã hội tàn bạo, lạnh lẽo, thiếu hơi ấm tình người.

Câu chuyện lấy bối cảnh vào một đêm giao thừa rét buốt ở xứ ở Bắc Âu lạnh giá. Ai cũng biết, giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, là thời khắc được người ta xem là thiêng liêng và trang trọng nhất: thời khắc của sự sum vầy đoàn tụ, thời khắc của những bữa tiệc no đủ và sung túc, thời khắc tiễn đưa năm cũ và chào đón năm mới cùng với niềm hạnh phúc bên cạnh những người mà mình yêu thương. Thế nhưng…đâu đó ngoài kia vẫn còn đó hình ảnh một cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, bụng đói đang dò dẫm trong bóng tối, đối mặt với những trận gió bấc thổi vi vút, với cái lạnh thấu xương của tuyết phủ kín mặt đất và điều đáng thương hơn đó là cả ngày em chưa bán được bao diêm nào.

Cô bé ngồi đó, cố nép mình trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà… Em thu đôi chân vào người nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn. Thế nhưng em không thể về nhà nếu không bán được ít bao diêm hay khống ai bố thí cho một đồng xu nào mang về vì như vậy nhất định em sẽ bị cha cha đánh…

Thế đấy! Cô bé bán diêm, một cô bé không có tên, không có tuổi nhưng cô có tất cả những nỗi bất hạnh mà con người trên đời không nên có: mẹ chết, bà nội, người gần gũi với em nhất cũng qua đời. Em mất mẹ, mất bà, mất luôn cả ngôi nhà xinh xắn có giây trường xuân bao quanh; mất cả những giây phút sum vầy hạnh phúc, thậm chí mất luôn cả cái quyền tối thiểu nhất mà một đứa trẻ phải có đó là được học hành, chăm sóc, yêu thương. Có lẽ em chỉ còn cha…

Thế nhưng người cha này cũng chỉ suốt ngày đánh đập, chửi rủa em, bắt em đi kiếm tiền và ném em, một đứa trẻ thơ dại đáng thương, vào vòng xoáy của cuộc mưu sinh. Em bé ngồi đó, chơ vơ, đơn độc như một cái bóng vô hình, không ai để ý đến sự tồn tại của em. Bởi vì, cha em vẫn đang đắm chìm trong những nỗi cay cú của sự khốn cùng trong cuộc sống đến nỗi khô héo cả tình máu mủ để khiến em rơi vào cảnh ngộ, có nhà, dù là căn gác rách nát, nhưng không thể về, có người thân nhưng không thể gọi là gia đình và không có nổi một chút hơi ấm của tình yêu thương con người. Sự giá lạnh đáng sợ mà cô bé đang phải chịu không phải là sự giá lạnh của đất trời mà đó là sự giá lạnh trong tâm hồn của con người.

Tất cả họ, trong bộ quần áo ấm áp, vội vã đi đến những nơi hò hẹn. Chẳng ai bận tâm đến sự khốn khổ của cô bé bất hạnh. Có thể nói sự tồn tại của em trong đêm giao thừa như một nốt nhạc trầm trong bản nhạc sôi động của ánh sáng, của niềm vui và hạnh phúc trong các gia đình vào khoảnh khắc chuyển giao của thời gian.

Một khắc, hai khắc…tiếng chuông đồng hồ vẫn điểm, cố bé vẫn ngồi đó, đói rét và cô độc. Không gian mịt mùng, lạnh giá bủa vây lấy thân thể bé dại của em. Lẽ ra em sợ… Nhưng em không sợ nữa… cái đói, cái rét, và cả nỗi đơn độc đã chiếm chỗ của nỗi sợ hãi… Em không dám mong sẽ được sum vầy hạnh phúc trong những ngôi nhà có cửa sổ sáng rực ánh đèn, cũng không dám mong được ngồi trong một bàn ăn thịnh soạn mà mong ước của em lúc này là “giá có thể quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?”.

Chao ôi, một đứa trẻ, ngày vui đón năm mới, lẽ ra phải ước được tặng quà, được ăn ngon mặc đẹp, được chạy nhảy vui vẻ, còn cô bé này…chỉ ước được quẹt một que diêm cho đỡ rét thôi. Thật là xót xa…Giá trị vật chất của một que diêm thì quá nhỏ nhoi nhưng nếu được làm điều đó thì đối với em đó là cả một điều hết sức lớn lao. Em phải ước… “giá như”. Ồ, hoá ra một que diêm đối với người khác có thể chẳng là gì nhưng với em thì đó là một điều xa xỉ, vì nó là toàn bộ cuộc sống sinh tồn của hai cha con em! Thật đáng thương biết nhường nào! Ấy thế nhưng trong cái xã hội ấy, trong cái không gian bao la mịt mùng ấy, em bé, hoàn cảnh của em bé chỉ như một chấm nhỏ bị lẩn khuất trong muôn vàn niềm vui, hạnh phúc của mọi người mà thôi.

Hiện thực đó quá nghiệt ngã, nghiệt ngã như chính số phận của cô bé bán diêm. Chính vì thế những ảo ảnh mà cô bé nhìn thấy khi quẹt các que diêm có thể tan biến rất nhanh nhưng ít ra trong cái thế giới của ảo ảnh đó không có đói, không có rét, không có cô độc, không có đòn roi. Hay nói chính xác hơn, dù chỉ là mơ thôi, nhưng chính những giấc mơ đó đã cứu rỗi linh hồn của em bé, để em bớt đau thương hơn, bớt bất hạnh hơn và ít ra trước khi lìa bỏ cõi đời này em còn lưu lại được “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”.

Và một lần nữa ở phần kết của câu chuyện, Andecxen lại cho ta thấy sự thờ, lạnh lùng của người đời khi họ chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm lúc họ phát hiện ra thi thể của em bé ngồi giữa những bao diêm nhưng họ chỉ lạnh lùng bảo với nhau: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”, cũng chẳng ai thèm cúi xuống, ôm ấy thi thể của em bé, hay thể hiện một chút lòng thương cảm. Chao ôi, điều đáng buồn nhất trên đời không phải là đói khát, rét mướt hay thậm chí là đau khổ, điều đáng sợ nhất đó là sống trong xã hội loài người mà con người không tồn tại hai chữ: yêu thương, để đến nỗi cạn khô hết cả cảm xúc và tình cảm.

Câu chuyện đã khép lại nhưng trước mắt người độc vẫn hiện ra hình ảnh thi thể của cô bé bán diêm với “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” và văng vẳng bên tai tiếng mọi người bảo nhau” “chắc nó muốn sưởi cho ấm” Hãy sống chậm lại, nghĩ ít đi và yêu thương nhiều hơn. Cảm ơn nhà văn xứ Đan Mạch đã cho chúng ta nhận ra được ý nghĩa thực sự của cuộc sống, của tình yêu thương con người. Bởi như nhà văn đã từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng câu chuyện cổ tích được viết lên từ chính cuộc sống”.