Top 5 # Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 26-Nq/Tw Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 Nq

Ngay sau khi ban hành Kế hoạch Hành động, các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thuế cũng như các Cục Thuế đã đồng loạt hưởng ứng, kịp thời cụ thể hoá thành các công việc, nhiệm vụ và giao trực tiếp cho từng bộ phận, cán bộ triển khai thực hiện.

Tiếp đến, ngày 19/8/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TCT chỉ đạo cơ quan Thuế các cấp tăng cường kỷ cương, kỷ luật, chấn chỉnh lề lối làm việc, thái độ, tác phong ứng xử của cán bộ thuế với người nộp thuế (NNT), tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn bộ hệ thống, nhờ đó tạo bước chuyển biến căn bản trong chấp hành chế độ công vụ và phục vụ NNT của công chức thuế.

Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát và tham khảo các đánh giá của một số tổ chức quốc tế trong việc khảo sát, đánh giá thời gian kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp để xác định số giờ kê khai nộp thuế, về tần suất khai, nộp thuế; về số lượng hồ sơ; về nội dung tờ khai; về phương thức khai, phương thức nộp tờ khai; nộp thuế…

Tính đến thời điểm 1/1/2015, sau khi thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, số giờ tuân thủ về thuế giảm được 370 giờ/năm. Với kết quả đã đạt được, năm 2015, Bộ Tài chính sẽ phải tiếp tục rà soát để cắt giảm 45,5 giờ, để đạt được mục tiêu cắt giảm thời gian làm thủ tục về thuế xuống còn 121,5 giờ trong năm 2015 theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP.

Tổng cục Thuế đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về thuế; đã tham mưu trình Bộ Tài chính phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp (Hàn Quốc, Nhật Bản, EU…) tổ chức đối thoại với doanh nghiệp về thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phổ biến các nội dung về quản lý thuế và chính sách thuế mới; giải đáp các vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp về thuế. Mở rộng thực hiện khai thuế điện tử, đến hết 25/3/2015 đã có trên 97,5% số doanh nghiệp khai thuế điện tử (đầu năm 2014 là 65%). Đồng thời, đã phối hợp với 20 ngân hàng thương mại để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử, tính đến 1/4/2015 đã triển khai tại 18/63 tỉnh/thành phố với 41.806 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử.

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của các cấp, cùng với quyết tâm chính trị của toàn thể công chức, viên chức toàn hệ thống thuế trên cả nước, Tổng cục Thuế đã tích cực, chủ động triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ, được cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng, đồng tình, được các tổ chức quốc tế ghi nhận và được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành biểu dương, đánh giá cao góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế năm 2014.

PV (Nguồn: Tổng cục Thuế)

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/Nq

Ngày 24/10/2017, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng; Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Đây là một chính sách hỗ trợ, động viên kịp thời cho những người thôi việc tự nguyện ổn định cuộc sống nhằm góp phần thực hiện thành công Đề  án số 01 của  BTV Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021. 

Để góp phần tinh giản biên chế, giải quyết một bộ phận công chức, viên chức, người lao động dôi dư trong quá trình các cơ quan, đơn vị sắp xếp lại tổ chức bộ máy, sắp xếp lại nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ hoặc do cơ cấu lại đội ngũ theo vị trí việc làm, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND ngày 24/10/2017 về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng, theo đó, bổ sung đối tượng là cán bộ thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội từ cấp tỉnh đến cấp xã”.

Nghị quyết triển khai thực hiện đã đem lại lợi ích cho công chức, viên chức và người lao động khi có nguyện vọng thôi việc đồng thời góp phần thực hiện thành công đề án số 01 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị. Những người thôi việc theo quy định của nghị quyết đã đánh giá cao tính nhân văn, kịp thời thể hiện sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền đối với cán bộ công chức, viên chức và người lao động đã có thời gian làm việc, cống hiến cho sự phát triển của địa phương.

Nghị quyết 31/2017/NQ-HĐND, Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND  có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó các cấp ngành địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện để nghị quyết tiếp tục đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trên địa bàn tỉnh ngày càng tinh gọn hiệu quả./.

Đức Thiện

Thực Hiện Nghị Quyết 26/ Nq

Thực hiện Nghị quyết 26/ NQ-TW trong công tác dồn điền, đổi thửa, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nông nghiệp và bảo vệ môi trường nông thôn phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh 

 Theo đó, có 05 huyện, thị xã tiếp tục thực hiện dồn điền đổi thửa trên 37 xã. Trước dồn điền, bình quân một hộ sử dụng 2,7 thửa, sau dồn điền giảm xuống còn 2,1 thửa/ hộ. Hiện nay, một số huyện đang tiếp tục chỉ đạo để triển khai thực hiện tại một số xã còn lại. Nhìn chung, sau dồn điền đổi thửa đã khắc phục được tình trạng đất sản xuất nông nghiệp manh mún, đất công ích đã được quy gọn thành vùng tập trung. Hệ thống giao thông thủy lợi được bảo đảm tốt, diện tích giao thông nội đồng tăng. Đây là dịp kiểm tra lại quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đưa công tác quản lý theo dõi biến động đất đai vào nề nếp, chặt chẽ; quy hoạch lại đất công ích thành vùng tập trung để dễ quản lý và sử dụng có hiệu quả theo quy định của Luật đất đai năm 2013, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai. Đồng thời, công tác cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã được tăng cường, đến nay đã thực hiện được 304.706 giấy chứng nhận QSD đất nông nghiệp với diện tích 178.870,7 ha/206.830,56 ha, đạt 86,48% (tăng 5,54% so với năm 2010) so với diện tích cần cấp giấy. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ môi trường nông thôn phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp được xác định là một tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Thời gian qua, Sở Tài nguyên và môi trường đã chủ động tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường triển khai nhiều hoạt động BVMT trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn nhằm kiểm soát và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm cụ thể: Tập trung tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức tại khu vực nông thôn về bảo vệ môi trường và thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới với 45 lớp, hơn 5.000 lượt tham; Hằng năm phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh xây dựng chuyên mục “Bảo vệ môi trường nông thôn” nhằm nâng cao nhận thức BVMT sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân; Phát hành 500 đĩa phát thanh nội dung “chung tay bảo vệ môi trường” và hưởng ứng Ngày môi trường thế giới hằng năm 5/6 để tuyên truyền qua hệ thống loa phát thanh xã, phường, thị trấn nhằm mục đích nâng cao nhân thức cộng đồng; Chú trọng hoạt động thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án nuôi trồng, chế biến thủy sản, khu chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ, các làng nghề, vùng sản xuất thâm canh nhằm phòng ngừa, tăng cường chương trình quan trắc môi trường nông thôn; Hướng dẫn các địa phương xây dựng mô hình thu gom và xử lý rác thải nông thôn dựa vào cộng đồng; Kiểm tra, nắm bắt tình hình công tác thu gom, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh hướng dẫn khắc phục kịp thời những bất cập, tồn tại trong công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, vệ sinh môi trường; đôn đốc hướng dẫn các địa phương chủ động ứng phó khắc phục ô nhiễm môi trường. Chỉ đạo các cơ sở nông nghiệp, chế biến thủy sản gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh đóng cửa và hoàn thành việc xử lý. Hoàn thành thống kê các loại kho lưu chứa thuốc BVTV, khối lượng các loại thuốc BVTV, bao bì chứa thuốc BVTV cần tiêu hủy trên phạm vi toàn tỉnh để đề xuất lộ trình xử lý. Hàng năm, tại các địa phương đã hưởng ứng tháng hành động BVMT và thực hiện các chương trình cụ thể như: tuyên truyền việc hạn chế sử dụng túi ni lông, phối hợp với đoàn thanh niên vệ sinh cơ quan, công sở; phát các chương trình phóng sự về BVMT tại địa phương. Tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo kiểm soát, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi tập trung, giết mổ tập trung, nuôi trồng thủy sản tập trung, sản xuất, chế biến trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; rà soát, đánh giá việc thực hiện các tiêu chí về BVMT. Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải bình quân chung của cả tỉnh Quảng Bình đạt khoảng 75,5%, trong đó: TP. Đồng Hới đạt khoảng 93,26%; huyện Lệ Thủy đạt khoảng 85,25%; huyện Quảng Ninh đạt khoảng 94,29%; huyện Bố Trạch đạt khoảng 75,93%; thị xã Ba Đồn đạt khoảng 49,83%; huyện Quảng Trạch đạt khoảng 51,55%; huyện Tuyên Hóa đạt khoảng 44,95% và huyện Minh Hóa đạt khoảng 55,56%. Việc xử lý chất thải rắn cho đến nay chủ yếu thông qua các bãi chôn lấp có quản lý, hợp vệ sinh. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa và bảo vệ môi trường nông thôn phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, trong thời gian tới cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Tập trung cao sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp, phát huy vai trò nòng cốt của các đoàn thể nhân dân trong tuyên truyền, vận động, thuyết phục, làm cho nhân dân hiểu rõ dồn điền đổi thửa để có điều kiện đưa cơ giới vào sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, đáp ứng với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các địa phương cần bố trí đủ 10% tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hàng năm cho việc đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2011 và Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin và truyền thông cũng như hoạt động giáo dục pháp luật về môi trường trong nhà trường và ngoài xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường ở các cấp, ngành và ở mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường. Các địa phương chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư, nhất là ở khu vực nông thôn. Phát triển các phong trào quần chúng ở nông thôn, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường. Phát hiện và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường; gắn nội dung bảo vệ môi trường với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với các tiêu chuẩn về môi trường. Chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề tại các khu vực nông thôn, bảo đảm tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, để có chính sách phù hợp, tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Ðối với các khu công nghiệp đóng trên địa bàn các vùng nông thôn hiện nay, cần có quy định bắt buộc về các yêu cầu bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh trước khi cấp phép hoạt động. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động tối đa nguồn lực từ các cấp, các ngành và tầng lớp nhân dân tham gia vào công tác bảo vệ môi trường; Đề nghị Chính quyền cấp huyện, xã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị, xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra giám sát và xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm về bảo vệ môi trường; nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong việc đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh./.

Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng – Phòng Pháp chế

Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Đồng chí Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì hội nghị. Đồng chí Đặng Trọng Thăng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành, MTTQ, các đoàn thể của tỉnh; lãnh đạo các huyện, thành phố dự hội nghị.

10 năm qua, các cấp, các ngành trong toàn tỉnh đã huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2008 – 2017 là 3,96%/năm, vượt mức chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng chăn nuôi thủy sản, giảm dần tỷ trọng trồng trọt. Việc phát triển các ngành công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn đạt khá. Toàn tỉnh đã quy hoạch 50 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.578,6 ha, trong đó 38 cụm công nghiệp đi vào hoạt động, tổng diện tích thuê đất là 331 ha; có 294 dự án đầu tư, thu hút đầu tư 31.550 lao động. Nghề và làng nghề được duy trì và phát triển; đã phát triển thêm 28 làng nghề, đưa số làng nghề hiện có toàn tỉnh lên 247 làng nghề; tổng số lao động trong khu vực làng nghề khoảng 150.000 người. Thương mại, dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân ngày càng phát triển.

Thái Bình đã thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và đô thị hóa. Đến nay, toàn tỉnh có 200/263 xã và 1 huyện đạt chuẩn quốc gia nông thôn mới, vượt mức so với chỉ tiêu Nghị quyết; 57 dự án nước sạch nông thôn được đầu tư xây dựng, công suất bảo đảm cung cấp cho 100% xã, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh; 94,2% hộ dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch. Bộ mặt nông thôn được đổi mới ngày càng khang trang, xanh, sạch, đẹp.

Đến năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 4,01%, giảm 6,29% so với năm 2008; bình quân thu nhập khu vực nông thôn đạt 37 triệu đồng/khẩu/năm, tăng 3,88 lần so với năm 2008. Toàn tỉnh đã hỗ trợ xây dựng, nâng cấp trên 5.500 nhà ở cho người có công, người nghèo; cơ bản hoàn thành xóa nhà ở dột nát cho hộ nghèo, hộ chính sách. Tỉnh đã thực hiện nhiều cơ chế, chính sách và huy động các nguồn lực phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn. Từ năm 2008 – 2017, tổng nguồn vốn huy động, phân bổ cho nông nghiệp nông thôn đạt 36.799 tỷ đồng, bình quân 3.680 tỷ đồng/năm. Các hình thức tổ chức sản xuất được đổi mới và phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn được nâng lên. Việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ được đẩy mạnh. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được cải thiện rõ nét; điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa được cải thiện, dân chủ được phát huy ngày càng sâu rộng. An ninh trật tự ổn định, chính trị được giữ vững; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa; tạo sự ổn định trong nông thôn và toàn xã hội.

Đồng chí Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh trao tặng bằng khen cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc.

Mục tiêu đến năm 2025 và 2030, Thái Bình phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2018 – 2020 đạt 2,5%/năm; giai đoạn 2026 – 2030 đạt 2,0-2,5%/năm; đến năm 2030: tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 17 – 18% trong cơ cấu kinh tế. Về nông dân: đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 70%, đến năm 2030 đạt trên 85%. Về nông thôn: phấn đấu đến năm 2020 có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 3 – 4 huyện đạt chuẩn nông thôn mới và thành phố Thái Bình hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Đồng chí Đặng Trọng Thăng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trao tặng bằng khen cho các tập thể đạt thành tích xuất sắc.

Tại hội nghị, đại biểu các sở, ngành, địa phương đã tham luận, trao đổi các kinh nghiệm, cách làm hay, sáng tạo trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 26, đồng thời đề xuất các giải pháp để tiếp tục thực hiện tốt hơn Nghị quyết trong thời gian tới.

Tại hội nghị, 51 tập thể, 10 cá nhân nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh vì có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh khẳng định: Nghị quyết số 26 là một chủ trương đúng có tầm chiến lược, mang tính đột phá cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân, làm thay đổi căn bản cục diện sản xuất nông nghiệp, bộ mặt nông thôn Việt Nam. Nghị quyết có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung, những địa phương có tiềm năng lợi thế nói riêng. Đồng chí phân tích, đánh giá rõ hơn những kết quả Thái Bình đạt được trong triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.

Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, MTTQ và các đoàn thể trong tỉnh tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện tốt hơn nữa tinh thần của Nghị quyết số 26 gắn với thực hiện Nghị quyết số 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020. Xác định phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, từ đó tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh. Tập trung thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với lợi thế, nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tăng cường phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh tích tụ ruộng đất, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và chế biến nông sản, sản xuất theo chuỗi sản phẩm. Chú trọng phát triển nghề và làng nghề ở nông thôn để giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn.

Đồng chí Đàm Văn Vượng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực HĐND tỉnh trao bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc.

Tập trung chỉ đạo quyết liệt xây dựng nông thôn mới. Những địa phương đã được công nhận đạt chuẩn cần tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng các tiêu chí; đồng thời có kế hoạch khai thác, bảo vệ, duy tu những công trình xây dựng và giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản; chú trọng đẩy mạnh tích tụ đất đai, đổi mới phương thức sản xuất và quản lý, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. Đối với những xã chưa về đích nông thôn mới xây dựng kế hoạch, lộ trình, rà soát từng tiêu chí, huy động các nguồn lực để thực hiện hiệu quả, phấn đấu sớm về đích.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ đối với người nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, giảm tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trong việc giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế – xã hội nông thôn. Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận trong xã hội thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Đồng chí Phạm Văn Xuyên, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trao bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc.

Mạnh Cường