Top 21 # Luật Rừng Hay Nhất / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Soạn Bài Nhớ Rừng Ngắn Gọn Và Hay Nhất / 2023

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Nhớ rừng sẽ giúp các bạn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học và trả lời tốt các câu hỏi tại trang 7 sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2.

Cùng Đọc tài liệu tham khảo ngay bài soạn Nhớ rừng để chuẩn bị cho tiết học…

Hướng dẫn soạn bài Nhớ rừng chi tiết nhất

Gợi ý trả lời câu hỏi và bài tập đọc – hiểu tác phẩm Nhớ rừng trang 7 SGK Ngữ văn 8 tập 2.

1 – Trang 7 SGK

Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn, hãy cho biết nội dung mỗi đoạn.

Trả lời

Bài thơ được chia làm 5 đoạn:

– Đoạn 1: Niềm uất hận của con hổ khi bị nhốt trong cũi sắt làm thú mua vui.

– Đoạn 2 và 3: Hồi tưởng lại những ngày làm chúa tể oai hùng.

– Đoạn 4: Con hổ khinh thường sự giả dối, tầm thường của hoàn cảnh.

– Đoạn 5: Nỗi nhớ rừng và khát vọng tự do của con hổ.

2 – Trang 7 SGK

Trong bài thơ có hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3)

a. Hãy phân tích từng cảnh tượng.

b. Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3. Phân tích để làm rõ cái hay của hai đoạn thơ này.

c. Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng thiên nhiên nêu trên, tâm sự con hổ ở vườn bách thú được thể hiện như thế nào? Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời?

Trả lời

Đoạn 1 và 4: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt và tâm trạng ngao ngán, căm hờn của con hổ.

▪ Uất hận khi rơi vào tù hãm.

▪ Bị nhốt cùng bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự.

▪ Khinh loài người nhỏ bé ngạo mạn.

▪ Những cảnh sửa sang tầm thường, giả dối.

▪ Nhớ về cảnh đại ngàn cao cả, âm u.

→ Căm hờn sự tù túng, khinh ghét kẻ tầm thường. Muốn vượt thoát tù hãm bằng nỗi nhớ thời đại ngàn.

Đoạn 2 và 3 miêu tả vẻ đẹp của núi rừng làm bật lên vẻ oai phong, lẫm liệt của vị chúa tể.

▪ Con hổ đầy quyền uy, sức mạnh, tham vọng trước đại ngàn.

▪ Nỗi nhớ về thời oanh liệt, huy hoàng.

→ Sự tiếc nuối những ngày huy hoàng trong quá khứ của vị chúa tể.

Đoạn 2 và 3: đặc sắc về hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu.

– Về từ ngữ:

▪ Diễn tả vẻ đẹp, tầm vóc của đại ngàn bằng những từ: bóng cả, cây già, giang sơn.

▪ Sử dụng những động từ mạnh thể hiện sự oai hùng của chúa tể: thét, quắc, hét, ghét.

▪ Sử dụng từ cảm thán (than ôi), câu hỏi tu từ: gợi nhắc lại quá khứ oai hùng, sự tiếc nuối những ngày tự do.

– Về hình ảnh:

▪ Sức mạnh của con hổ được diễn tả bằng hình ảnh: mắt thần đã quắc, lượn tấm thân như sóng cuốn nhịp nhàng, uống ánh trăng tan, ngắm giang sơn, giấc ngủ tưng bừng.

▪ Hình ảnh núi rừng từ đêm, mưa,nắng, hoàng hôn, bình minh đẹp lộng lẫy, bí hiểm.

▪ Về giọng điệu: đanh thép, hào sảng tái hiện lại thời oanh liệt, tráng ca của chúa sơn lâm khi còn tự do.

→ Tâm sự của con hổ ẩn dụ cho tâm trạng của người dân mất nước luôn cảm thấy căm hờn, tủi nhục, chán ngán với hiện tại, họ nhớ tiếc thời oanh liệt, vàng son của cha ông.

Văn mẫu: Phân tích bức tranh tứ bình trong bài Nhớ rừng của Thế Lữ

3 – Trang 7 SGK

Căn cứ vào nội dung bài thơ hãy giải thích vì sao tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú”. Việc mượn lời đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung cảm xúc bài thơ?

Trả lời

– Tác dụng của việc mượn “lời con hổ ở vườn bách thú” là thích hợp vì:

▪ Thể hiện được thái độ ngao ngán với thực tại tù túng, tầm thường, giả dối.

▪ Khao khát vượt thoát để được tự do, không thỏa hiệp với hiện tại.

▪ Hình ảnh con hổ bị nhốt trong vườn bách thú cũng là biểu tượng của sự giam cầm, mất tự do, thể hiện sự sa cơ, chiến bại, mang tâm sự uất hận.

▪ Mượn lời con hổ để tránh sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân.

– Việc mượn lời của con hổ còn giúp tác giả thể hiện được tâm trạng, khát vọng tự do thầm kín của mình.

4 – Trang 7 SGK

Nhà phê bình Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” (Thi nhân Việt Nam, Sđd). Em hiểu như thế nào về ý kiến đó? Qua bài thơ, hãy chứng minh.

Trả lời

– Hoài Thanh trong nhận định về thơ Thế Lữ “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng… không thể cưỡng được” nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ tinh tế, điêu luyện, đạt tới mức chính xác cao.

▪ Thế Lữ sử dụng từ ngữ trong bài Nhớ rừng xuất phát từ sự thôi thúc của tâm trạng khinh ghét, căm phẫn cuộc sống hiện thời.

▪ “chữ bị xô đẩy” bắt nguồn từ giọng điệu linh hoạt lúc dồn dập oai hùng, lúc trầm lắng suy tư.

▪ “dằn vặt bởi sức mạnh phi thường” : khao khát tự do, vượt thoát khỏi thực tại tầm thường, tù túng.

▪ Ngôn ngữ có chiều sâu: tạo dựng được ba hình tượng với nhiều ý nghĩa ( con hổ, vườn bách thú, núi rừng).

▪ Thế Lữ cũng là cây bút tiên phong cho phong trào Thơ Mới vì thế sự thôi thúc vượt thoát khỏi những chuẩn mực cũ giúp ông chủ động khi sử dụng ngôn từ.

Soạn bài Nhớ rừng ngắn nhất

Bài thơ chia làm 5 đoạn:

– Đoạn 1: Lòng uất hận, căm hờn khi bị giam cầm trong cũi sắt

– Đoạn 2: Nỗi nhớ núi rừng và sự oai phong của con hổ

– Đoạn 3: Nỗi nhớ vể một thời oanh liệt, tự do.

– Đoạn 4: Sự căm ghét khu vườn nhỏ hẹp, giả dối.

– Đoạn 5 : Giấc mơ và niềm khao khát được trở lại vùng vẫy chốn rừng xưa.

a.

– Cảnh tượng vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt:

▪ Đoạn 1: Không gian “cũi sắt”, sống chung với lũ người ngạo mạn ngẩn ngơ, “bọn gấu dở hơi”, “cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Thân phận là chúa sơn lâm nhưng giờ đây lại phải sống trong cũi sắt chật hẹp, tù túng. Sống chung bầy với những kẻ tầm thường, chịu làm trò mua vui cho thiên hạ. Đây là cảnh tượng nhục nhã, buồn chán khiến nó “căm hờn”,khinh bỉ và cay đắng.

▪ Đoạn 4: Cảnh tượng nhân tạo, tầm thường, giả dối. Đó là nơi bàn tay con người tạo nên, học đòi cho giống chốn rừng xanh nhưng đâu thể sánh được với cảnh núi rừng hùng vĩ, hoang sơ ngoài kia. Cảnh tượng đáng khinh, thể hiện sự bất mãn, cao ngạo của con hổ.

-Cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ‘ngày xưa”

▪ Đoạn 2: Cảnh núi rừng oai linh, cao cả, giàu có. Đó là nơi “bóng cả, cây già”, “tiếng gió gào ngàn”, “giọng nguồn hét núi”, “lá gai, cỏ sắc”, “thảo hoa”. Chỉ có nơi này mới xứng với chúa sơn lâm, nơi nó “thét khúc trường ca dữ dội”, nơi nó là “chúa tể muôn loài”.

▪ Đoạn 3: Cảnh núi rừng lãng mạn, bi tráng. Đó là cảnh thơ mộng”những đêm vàng bên bờ suối”, con hổ “say mồi đứng uống ánh trăng tan”. Đó là cảnh hùng tráng khi “mưa chuyển bốn phương ngàn”, con hổ vẫn mang dáng vẻ của một bậc đế vương “Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới”. Đó là cảnh của những ngày yên bình “bình minh cây xanh nắng gội”, rộn rã “tiếng chim ca”, con hổ trong giấc ngủ bình yên. Đó là những cảnh dữ dội “chiểu lênh láng máu sau rừng”. Ở đây, con hổ hiện lên với một tư thế lẫm liệt, kiêu hùng

b. Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ đoạn 2 và 3:

– Từ ngữ: chọn lọc, sử dụng nhiều động từ mạnh, tính từ gợi hình, làm nổi vật sự hùng vĩ của núi rừng.

– Hình ảnh: Hình ảnh giàu sức gợi, chủ yếu là những hình ảnh nhân hóa, hình ảnh liên tưởng gợi sự hùng vĩ của đại ngàn, sự oai linh của chúa sơn lâm.

– Giọng điệu: Giọng điệu tự hào, cao ngạo đầy mạnh mẽ xen lẫn giọng điệu nhớ thương, uất hận.

c. Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng nêu trên, tâm sự của con hổ ở vườn bách thú: Nỗi căm hận cảnh tượng hiện tại, nhớ về rừng xanh với niềm tự hào khôn xiết, từ đó lại càng tiếc thương cho hoàn cảnh của mình. Tâm sự ấy cũng giống như tâm sự của người dân Việt Nam đương thời. Những người dân mất nước, tiếc nhớ một thời oanh liệt, yên bình của đất nước, căm thù hoàn cảnh đô hộ ở thực tại.

Câu nói của Hoài Thanh đề cao việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu của Thế Lữ:

▪ Ngôn ngữ: Động từ mạnh, nhiều điệp từ, sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, chính xác.

▪ Hình ảnh: Giàu liên tưởng, tưởng tượng, gợi sự mạnh mẽ, hùng tráng

▪ Nhịp điệu: đa dạng, ngắt nhịp 5/5, 4/2/2, 3/5 theo dòng cảm xúc của con hổ.

Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt bằng những vần thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn. Bài thơ đã khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước thuở ấy.

Bài thơ Nhớ Rừng

Nhớ rừng

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

*

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém;

Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị.

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

(Thế Lữ, Mấy vần thơ, NXB Hội Nhà văn, 1992)

Huyền Chu (Tổng hợp)

Soạn Rừng Xà Nu Chuẩn Nhất / 2023

I. Tìm hiểu chung để soạn Rừng xà nu

1. Tác giả

– Nguyễn Trung Thành (1932) sinh ra ở Quảng Nam.

Tác giả Nguyễn Trung Thành

– Ông là một nhà văn cách mạng và có một thời gian dài gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên.

– Chính quãng thời gian trên đã cho ông nhiều chất liệu để viết nên những tác phẩm ấn tượng về Tây Nguyên như Đất nước đứng lên và Rừng xà nu.

– Ông cũng là cây bút văn xuôi xuất sắc nhất viết về Tây Nguyên cho tới hiện tại.

2. Tác phẩm Rừng Xà Nu

– Tác phẩm được sáng tác vào năm 1965 trong giai đoạn cuộc chiến chống Mỹ diễn ra khốc liệt.

– Soạn Rừng xà nu chúng ta sẽ thấy tác giả nêu cao tinh thần đứng lên đấu tranh chống lại sự tàn ác của kẻ thù thì sự sống bình yên mới trường tồn mãi mãi.

Phân Tích Bài Tây Tiến Về Hình Tượng Người Lính

Phân Tích Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc

II. Tìm hiểu chi tiết bài soạn Rừng xà nu

Câu 1: Ý nghĩa nhan đề

– Rừng xà nu: loài cây biểu tượng cho tinh thần và sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên. Đó cũng là điểm sáng tạo nghệ thuật đắt giá, thể hiện tình cảm của tác giả với những người hùng vĩ đại của dân tộc đã đứng lên chống giặc, bảo vệ lãnh thổ.

Rừng xà nu

– Cảnh xà nu nằm dưới tầm đại bác: là nơi phải hứng chịu hết thảy mọi sự tàn phá khốc liệt nhất của bom đạn, của đại bác Mỹ, nhuốm màu đau thương, những vết thương âm ỉ rỉ máu, sự chết chóc đến xót xa nhưng sau tất cả vẫn vươn lên kiên cường với sức sống mãnh liệt, biểu trưng cho con người, phẩm chất người dân làng Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung.

Câu 2:

a, Phẩm chất và tính cách người anh hùng Tnú:

– Khi còn nhỏ, Tnú đã cùng Mai đi vào rừng tiếp tế cho Quyết: Sự gan dạ, dũng cảm và trung thực đã thể hiện rõ trong Tnú ngay lúc còn là một đứa trẻ. Tnú được giác ngộ lý tưởng cách mạng ngay khi còn nhỏ. 

– Giặc bắt, tra tấn dã man, lưng ngang dọc vết chém nhưng vẫn dũng cảm, gan góc chịu đựng và qua những thử thách cam go như vậy càng bộc lộ tinh thần thép và lòng trung thành cách mạng đáng ngưỡng mộ của anh chàng Tây Nguyên này.  

– Tnú phải rơi vào tình cảnh đau thương khôn cùng: khi bản thân bị bắt và tra tấn dã man khi bị đốt cả mười ngón tay.

b, Câu chuyện bi tráng: “Tnú không cứu được vợ con”- cụ Mết nhắc tới bốn lần nhấn mạnh

– Chúng ta không thể tay không bắt giặc, không thể để lòng căm thù trở nên hành động mù quáng mà cần có kế hoạch và chiến lược rõ ràng. Khi chưa cầm vũ khí chiến đấu thì anh cũng chẳng bảo vệ được vợ con, người thân của mình.

– Cụ Mết – người từng trải và có nhiều kinh nghiệm cũng như tầm nhìn sâu rộng khẳng định rằng đấu tranh cần có vũ khí vì đó là con đường tốt nhất để bảo vệ được những người thân yêu, những điều thiêng liêng.

– Sau bao hy sinh xương máu nằm xuống đã đúc rút ra chân lý cách mạng sáng ngời và có trách nhiệm truyền đạt lại cho thế hệ sau.

c, Vai trò của nhân vật

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng: sự tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác thể hiện tinh thần bất khuất, truyền thống đánh giặc của làng Xô Man nói riêng và của Tây Nguyên nói chung.

Sự tiếp nối các thế hệ chống giặc để bảo vệ quê hương

– Mai, Dít chính là những thế hệ vàng hiện tại, mang vẻ đẹp của sự kiên định, mạnh mẽ trong phong ba, bão táp của khói lửa, đạn bom.

– Bé Heng là thế hệ kế tục tiếp theo có vai trò quan trọng trong việc đưa cuộc chiến đến thắng lợi vinh quang.

Câu 3:

Từ đầu đến cuối, hình ảnh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú luôn có sự gắn kết khăng khít cùng nhau. Hình ảnh rừng xà nu sừng sững trước mưa bom bão đạn như biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất, sức sống mãnh liệt, dũng cảm, trung thành của Tnú và người dân làng Xô Man.

Câu 4:

– Ngôn ngữ, giọng điệu câu chuyện đậm chất sử thi, thấm đẫm bản chất anh hùng ca bi tráng.

– Kết cấu lặp vòng tròn: Tác phẩm mở đầu và kết thúc với hình ảnh rừng xà nu; cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách.

– Sử dụng phép trần thuật qua câu chuyện cụ Mết kể lại cho các thế hệ sau nghe.

Xem Thêm:

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến

Soạn Bài Đất Nước

III. Tổng kết phần soạn Rừng xà nu

Soạn bài Rừng xà nu ta rút ra những bài học đắt giá mang ý nghĩa của dân tộc và thời đại. Để dành lấy sự sống tự do và bình yên thực sự thì chúng ta phải đứng lên đấu tranh, phải dùng vũ khí để tiêu diệt kẻ thù. Qua đó cũng thấy được tinh thần yêu nước nồng hậu và sức sống mãnh liệt của người dân Tây Nguyên.

Soạn Bài Rừng Xà Nu Ngắn Gọn Nhất / 2023

Bạn đang cần tìm tài liệu soạn bài Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) ? Đọc Tài Liệu giới thiệu nội dung chi tiết bài soạn Rừng xà nu giúp các bạn trả lời tốt các câu hỏi đọc hiểu bài và nắm chắc nội dung nghệ thuật của tác phẩm.

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

– Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

– Năm 1950 ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V.

– Những năm tháng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V đã giúp ông hiểu biết sâu sắc về Tây Nguyên, để sau khi tập kết ra Bắc có thể viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (tác phẩm được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955).

– Sau năm 1954, ông còn có những sáng tác phục vụ công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, như tập truyện ngắn Rẻo cao (1961).

– Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam, hoạt động ở Quảng Nam và Tây Nguyên.

– Với bút danh Nguyễn Trung Thành, ông đã viết nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn trong đời sống lúc bấy giờ, như tập truyện và kí Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969) và tiểu thuyết Đất Quảng (1971 – 1974).

– Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ông tiếp tục cống hiến cho phong trào văn nghệ của nước nhà. Ông từng là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ.

2. Tác phẩm

– Truyện ngắn được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc) là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên Ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

– Nội dung: Truyện mang âm hưởng sử thi hùng tráng, thông qua việc miêu tả sức sống mãnh liệt của cây xà nu và người dân Xô-man để khắc hoạ hình ảnh Tây Nguyên anh hùng, bất khuất một lòng đi theo Đảng, thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam.

– Bố cục:

+ Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng

+ Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man

Hướng dẫn soạn bài Rừng xà nu chi tiết

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Rừng xà nu trang 48, 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2.

Đọc – hiểu văn bản

1 – Trang 48 SGK

Anh (chị) cảm nhận được ý nghĩa gì của truyện ngắn qua:

a) Nhan đề tác phẩm.

b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác.

c) Hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải xa hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm.

Trả lời: a) Ý nghĩa nhan đề tác phẩm

Nhà văn có thể đặt rất nhiều cái tên khác nhau cho tác phẩm của mình, chẳng hạn: Làng Xô man; Tnú; những con người bất khuất… Tuy nhiên, cuối cùng tác giả đã lựa chọn đặt tên cho tác phẩm là Rừng xà nu với mong muốn sáng tạo một hình tượng mang tính sử thi nói về người Tây Nguyên kiên cường. Bởi rừng xà nu rất gần gũi với người Tây Nguyên và có nhiều chi tiết giống với con người nơi đây nên có thể đại diện cho đồng bào Tây Nguyên, cũng như gợi ra chất Tây Nguyên.

b) Hình tượng rừng xà nu dưới tầm đại bác

– Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định: ” Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc“, ” hầu hết đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn“.

– Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: ” cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương“. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: ” có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão“, ” có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi, ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn lỏng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết“.

– Nhưng tác giả đã phát hiện được sức sống mãnh liệt của cây xà nu: ” trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy“.

– Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô man: ” Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng“.

– Khi miêu tả rừng xà nu, cây xà nu, nhà văn đã sử dụng biện pháp ẩn dụ, nhân hoá như một phép tu từ chủ đạo, ông luôn lấy nỗi đau của vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để nói về xà nu khiến xà nu trở thành một ẩn dụ cho con người, một biểu tượng của con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường.

Các thế hệ con người làng Xô man cũng tương ứng với các thế hệ cây xà nu. Cụ Mết có bộ ngực ” căn như một cây xà nu lớn“, tay ” sần sùi như vỏ cây xà nu“. Cụ Mết chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu. Tnú cường tráng như một cây xà nu được luyện trong đau thương đã trưởng thành mà không đại bác nào giết nổi. Dít trưởng thành trong thử thách với bản lĩnh và nghị lực phi thường cũng giống như xà nu phóng lên rất nhanh tiếp lấy ánh mặt trời. Cậu bé Heng là mầm xà nu đang được các thế hệ xà nu trao cho những tố chất cần thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến cam go còn có thể phải kéo dài “năm năm, mười năm hoặc lâu hơn nữa”.

c) Hình ảnh đồi xà nu, rừng xà nu ” trông xa xa đến ngút tầm mắt“, ” nối tiếp tới chân trời“, lặp đi lặp lại trong truyện gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất diệt, gợi ra sự bất diệt, kiêu dũng của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. Ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng. Đó là chất sử thi, chất anh hùng về tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên.

2 – Trang 48 SGK

Tác giả vẫn coi ” Rừng xà nu là truyện của một đời và được kể trong một đêm“. Hãy cho biết:

a) Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm ấy có những phẩm chất đáng quý nào? So với nhân vật A Phủ (trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài) hình tượng Tnú có gì mới mẻ hơn?

b) Vì sao trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc đi nhắc lại rằng Tnú đã không cứu sống được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: ” Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo “?

c) Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn nào của dân tộc ta trong thời đại bấy giờ? Vì sao cụ Mết muốn chân lí đó phải được nhớ, được ghi để truyền cho con cháu?

d) Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng có vai trò gì trong việc khắc họa nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm?

Trả lời:

a) Phẩm chất, tính cách của người anh hùng Tnú:

– Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).

– Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc, trung thành).

– Số phận đau thương: Không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười đầu ngón tay).

– Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

b) Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: ” Tnú không cứu được vợ con“. Cụ Mết nhắc tới bốn lần đế nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho các thế hệ tiếp nối.

c) Chân lí được thể hiện qua câu chuyện:

Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.

– Cụ Mết: ” quắc thước như một cây xà nu lớn” là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh tập hợp để nổi dậy đồng khởi.

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

3 – Trang 49 SGK

Theo anh (chị), hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết hữu cơ, khăng khít với nhau như thế nào?

Trả lời:

Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Tnú lớn lên trong những cánh rừng xà nu, làm cách mạng, liên lạc băng qua những rừng xà nu, khi giặc đốt 10 đầu ngón tay Tnú, chúng đã tẩm nhựa xà nu để lửa cháy mạnh hơn. Nhưng Tnú vẫn đứng dậy, vẫn bền gan, dũng mãnh chống lại kẻ thù. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dạn dày, bất khuất, trung kiên… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

4 – Trang 49 SGK

Nêu và phân tích những cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm.

Trả lời:

Những vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

– Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống lại chế độ Mỹ Diệm.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng mang đậm tính sử thi. Rừng xà nu cũng mang dáng dấp sử thi ( Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).

– Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại: Tnú, cụ Mết, Dít, Mai.

– Cách thức trần thuật: kể theo hồi tưởng qua lời của cụ Mết (già làng), kể bên bếp lửa gợi nhớ lối kể “khan” sử thi của các dân tộc Tây Nguyên, những bài “khan” được kể như những bài hát dài hát suốt đêm.

– Cảm hứng lãng mạn: tính lãng mạn thể hiện ở cảm xúc của tác giả bộc lộ trong lời trần thuật, thể hiện ở việc đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong thế đối lập với sự tàn bạo của kẻ thù.

Soạn bài Rừng xà nu phần Luyện tập

Yêu cầu: Viết một đoạn văn phát biểu suy nghĩ và cảm xúc của anh (chị) về hình ảnh đôi bàn tay Tnú.

Gợi ý:

Có thể tham khảo các ý chính sau để triển khai cho bài viết:

– Hoàn cảnh nào dẫn tới việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay? (tóm tắt câu chuyện)

– Suy nghĩ cảm xúc của em đối với việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay?

+ Về tội ác của giặc (thằng Dục và đồng bọn tra tấn con người theo lối trung cổ)

+ Về tinh thần bất khuất của người anh hùng Tnú.

– Vì sao Tnú lại có phẩm chất anh hùng, bất khuất? (nêu lí tưởng lớn của dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ thể hiện qua cách nói của các nhân vật trong truyện).

Có thể nói đôi bàn tay ấy cũng có một cuộc đời, cuộc đời ấy giống như cuộc đời của Tnú vậy. Cũng có những lúc anh hùng nhưng cũng phải chịu nhiều đau thương mất mát. Thế nhưng đến cuối cùng, bàn tay ấy cũng giết chết biết bao nhiêu kẻ thù để báo thù cho tất cả những đau thương mà nó cũng như chủ nhân nó phải chịu. Trước hết, đó là một bàn tay lành lặn. Bàn tay ấy đã cùng với Mai học chữ trong rừng. Bàn tay ấy đã nhanh nhẹn cầm những thư liên lạc vượt qua mọi gian nan và những vòng vây của giặc để mang đến cho những người cán bộ trong rừng. Qua đây ta thấy hình ảnh đôi bàn tay của Tnú hiện lên thật sự rất đẹp, rất chắc chắn khi cầm thư và đồ tiếp tế. Một bàn tay nhỏ nhắn như vậy mà có thể cầm biết bao nhiêu đồ, quả thật rất đáng khen. Không những thế ta còn thấy được một người anh hùng Tnú tuy bé nhỏ nhưng đã mang sẵn bản chất anh hùng, bản chất sử thi. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của Tnú khi học không cho được cái chữ vào đầu. Theo như anh Quyết nói thì phải học cái chữ để có thể trở thành cán bộ được. Chính vì thế mà khi không học được, học chữ này thì quên mất chữ kia đôi bàn tay cầm lấy đá đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Chính hình ảnh bàn tay ấy làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây Nguyên ngay từ bé đã mang một tư tưởng lớn của cách mạng, phải trở thành cán bộ cách mạng để cứu dân làng, cứu nước. Và khi không học được chữ sợ rằng mình không thể giúp ích cho đất nước nên Tnú mới dùng chính bàn tay của mình để trừng trị mình. Và chính đôi bàn tay ấy anh đã giết chết bao nhiêu là kẻ thù.

Soạn bài Rừng xà nu siêu ngắn

– Nhan đề của tác phẩm:

+ Rừng xà nu là kí ức đẹp với những kỉ niệm sâu sắc của nhà văn về mảnh đất và con người Tây Nguyên.

+ Tiêu biểu cho số phận, sức sống bất diệt và tinh thần đấu tranh quật khởi của nhân dân Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam.

– Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác:

+ Nằm trong “tầm đại bác”, ngày 2 lần bị bắn, “Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào cây xà nu cạnh con nước lớn”.

+ Hàng vạn cây không cây nào không bị thương.

→ Nằm trong tư thế của sự hủy diệt bạo tàn, trong tư thế của sự sống đang đối diện với cái chết.

– Hình ảnh những ngọn đồi, cảnh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp cho đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm: gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng và bất diệt không chỉ của con người Tây Nguyên, cả Miền Nam và của cả dân tộc.

a. Những phẩm chất tốt đẹp của Tnú:

* Lúc còn bé Tnú đã là con người gan góc, dũng cảm, mưu trí :

* Khi trưởng thành, Tnú có một trái tim yêu thương và sục sôi căm thù giặc. Anh sống rất nghĩa tình và luôn mang trong tim ba mối thù: của bản thân, của gia đình, của buôn làng.

* Người chiến sĩ, người cán bộ có tinh thần kỷ luật cao.

b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất.

c. Câu chuyện Tnú với dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

d. Vai trò của các nhân vật:

– Nhân vật cụ Mết

+ Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô-man. Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng.

+ Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi.

– Nhân vật Mai, Dít: tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng.

– Nhân vật bé Heng: Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

Hình ảnh rừng xà nu, hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, kiên trung… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

Vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

– Kết cấu song trùng mở đầu và kết thúc đều là hình ảnh cây xà nu thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Hình ảnh rừng xà nu nối tiếp mở ra con đường kháng chiến gian khổ, đau thương nhưng anh hùng, bất khuất. Cây xà nu còn là sức sống của con người Tây Nguyên, những cây xà nu nối tận chân trời giống như những thế hệ con người Tây Nguyên vẫn sẽ tiếp tục sinh sôi, trưởng thành trong cuộc kháng chiến.

– Ngôn ngữ phù hợp với cá tính nhân vật, mang đậm bản sắc Tây Nguyên, đậm chất anh hùng ca, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực khốc liệt và sắc màu lãng mạn.

→ Sự thống nhất cao độ giữa chân lí đời sống và chân lí nghệ thuật.

– Rừng xà nu là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi hiện đại. Với lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, tác phẩm đã tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hoá Tây Nguyên.

– Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Rừng xà nu một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Khi “Luật Rừng” Hữu Hiệu Hơn / 2023

TTCT – Khi người ta nói nhiều đến lũ lụt, xói mòn và việc những cánh rừng đang biến mất, có một thực tế quan trọng đang diễn ra nơi các thôn bản bên rừng: ở đây, trong việc bảo vệ rừng, thì luật pháp đang tỏ ra không hiệu quả bằng… luật rừng – luật lệ linh thiêng của những người đã sinh ra và lớn lên trong rừng.

Một phụ nữ Dao Đỏ ngồi bên nửa căn nhà còn lại sau trận sạt lở đá tháng 8-2016 ở xã Phìn Ngan, Bát Xát (Lào Cai) -Đỗ Mạnh Cường

Những bức tranh tương phản

Trên mạng hỏi đáp Quora, có một người hỏi: “Bức ảnh ấn tượng nhất về biên giới giữa hai quốc gia là gì?”. Câu trả lời được bình chọn nhiều nhất là một bức ảnh biên giới của Haiti và Cộng hòa Dominica.

Nó được chia thành hai màu rõ ràng: màu nâu nằm bên phía Haiti và màu xanh phía Dominica. Nơi ấy đã từng là một cánh rừng. Nhưng sự khác biệt về chính sách bảo vệ rừng đã biến nó thành hai thế giới: màu nâu của đất trống đồi trọc, và màu xanh ngát của những cánh rừng nguyên sơ.

Bức ảnh ấy không chỉ là một phong cảnh đặc sắc, trong nó còn là một thông điệp cốt lõi và duy nhất về vấn đề giữ rừng: chính sách.

Không có một bức ảnh tương phản đến như thế để so sánh chính sách giữ rừng tại Việt Nam. Nhưng nếu bạn đến xã Phìn Ngan, Bát Xát, Lào Cai những ngày này, bạn cũng sẽ bắt gặp một khung cảnh tương phản.

Phía dưới thung lũng, cơn lũ hồi tháng 8 vừa rồi đã biến nơi này thành một dòng sông đá. Những tảng đá lớn, to bằng cả một ngôi nhà, bị cơn lũ tàn bạo cuốn đi từ các sườn núi xuống thung lũng như một dòng thác, phủ kín thung lũng một màu trắng tang thương. Dòng sông đá nằm đó như biểu tượng phô diễn sức mạnh tàn nhẫn của thiên nhiên.

Bên cạnh dòng sông đá, một người phụ nữ Dao Đỏ ngồi thẫn thờ trong nửa căn nhà còn lại của mình, nhìn xuống vực. Bà không nói được tiếng Kinh để trả lời phỏng vấn, nhưng cứ ngồi đó rất lâu. Núi rừng của bà có lẽ chưa bao giờ chứng kiến khung cảnh gì tàn khốc tới mức độ đó.

Ở một vài chỗ khác, người ta đang san nền để bắt đầu xây những căn nhà tái định cư. Phía ngoài xã, một vài cánh đồng đã bị vùi trong màu xám của cát – bà con loay hoay trồng khoai lang lên những nơi từng là ruộng lúa xanh ngát.

Ở Phìn Ngan có một thôn duy nhất không bị lũ quét. Có người nói rằng bởi vì thôn ấy ở trên cao. Nhưng cũng có người nói rằng bởi vì thôn ấy còn rừng. Đó là Sải Duần. Tẩn Duần Chẳn, già làng của Sải Duần, không giấu được sự tự hào khi chỉ vào những thân cây. Phần lớn chúng có tuổi đời gần 30 năm. Đó là quãng thời gian mà người dân trong thôn quyết định rằng họ sẽ giữ rừng.

Trước đó, trong nhiều năm, những cánh rừng vô chủ. Người dân ở các xã khác cứ hồn nhiên kéo về, lúc thì kéo đi cây gỗ, lúc thì chặt cây vầu. Người trong thôn lên đồi, tiện tay cũng ném mồi lửa, cháy một khoảng rừng để làm nương. Cả vùng Sải Duần khi ấy, theo lời già làng, chỉ thấy đồi trọc.

Nhưng rồi già làng Chẳn nghĩ, nếu cứ như thế này thì chẳng còn rừng. Không còn rừng thì có rất nhiều chuyện. Đầu tiên là chính con cái trong thôn lớn lên cũng không có cây gỗ mà xây nhà. Sau là lũ quét. Ông quyết định họp người trong thôn lại. Họ lập một đội tuần tra. Họ sẽ giữ tất cả những người vào chặt cây trong rừng, và bắt nộp phạt.

Hỏi già làng rằng lúc ấy Nhà nước có khuyến khích gì mình trong việc giữ rừng không, ông lắc đầu. Đó là năm 1988. Phải đến tận hơn 20 năm sau, là năm 2014, thì Nhà nước mới thực hiện chính sách giao rừng cho thôn bản. Còn khi ấy rừng gần như vô chủ.

Thôn Sải Duần quyết định giữ người, bắt nộp phạt, thật ra là chẳng nằm trong khung pháp luật nào. “Trái pháp luật đấy – già làng nói thẳng – Nhưng mình không giữ thì ai giữ?”.

Già làng sử dụng kiến thức về tự nhiên của mình để đề ra những nguyên tắc rất khoa học. Không ai được phun thuốc diệt cỏ, vì phun thuốc diệt cỏ thì làm chết cả bộ rễ của những cây dưới đất. “Đất lúc ấy cứ như là tro bếp ấy – ông Chẳn tả – Mưa xuống là sạt ngay thôi”.

Đó là những phân tích vi mô mà người ta sẽ không thể tìm thấy trong những chính sách của Nhà nước. Những cánh rừng tái sinh sau 30 năm đã rậm rạp. Nhưng không phải nơi nào trong huyện Bát Xát này, hay ở tỉnh Lào Cai này, cũng có được cái hương ước như thế. Nó chỉ là một quyết định tự phát của một cộng đồng yêu rừng.

Tương phản xanh ở biên giới hai nước Haiti – Dominica -lenta.co

Ai chống biến đổi khí hậu?

Sự tương phản trong chính sách có thể nhìn thấy ngay cả trong việc thôn bản giữ rừng. Ở Quan Thần Sán, Si Ma Cai, có hai dòng họ lớn của người Mông: họ Tráng và họ Cư. Nhà nước giao rừng cho hai cộng đồng này, mỗi dòng họ một cánh rừng.

Nhưng họ Cư, dưới sự chỉ huy của già làng Cư Seo Phú, một người có nhiều năm làm công tác dân vận với huyện, rất nhanh chóng họp mặt lại để cùng đưa ra một bản hương ước với những nguyên tắc rất ngặt nghèo, thì dòng họ Tráng lại không.

Già làng Cư Seo Phú lập luận rất chắc chắn: “Một cái nhà của người Mông như thế này, làm đơn giản cũng mất mấy chục cây gỗ. Cứ để bà con chặt thì chẳng mấy mà hết rừng”. Thế nghĩa là người trong họ cũng không được tùy tiện lấy cây. Đội tuần tra được lập.

Khác với Sải Duần, họ Cư không phạt người chặt gỗ lậu bằng tiền mà quy ra gà và rượu – để cho chính đội tuần tra ăn uống luôn! Họ chỉ cần giữ rừng. Lý do? Là nguồn nước, và chống lũ quét, già làng Seo Phú bảo.

Còn những cánh rừng bên phía họ Tráng thì cứ thế trọc dần. Trọc mãi, đến khi họ Tráng nhìn sang bên kia đồi, thấy một màu xanh biếc của họ Cư, mới ngừng. Già làng Cư Seo Phú bảo bên ấy họ mới nhận ra được vấn đề đôi năm nay, bây giờ cũng đã có hương ước rồi. Cũng không ai được chặt cây nữa.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu (đứng thứ 10 thế giới), và theo một nghiên cứu gần đây thì trong thế kỷ tới, 25% dân số sẽ nằm trong vùng có nguy cơ chịu lũ nặng.

Nhưng nếu hỏi bất kỳ một già làng trưởng bản nào ở vùng rừng núi này, cho dù là những người chưa từng được đi học, họ sẽ phân tích được hai điểm: thứ nhất, rừng bảo vệ được ruộng nương và nhà cửa; thứ hai, rừng giao cho cộng đồng giữ thì hiệu quả hơn của ban quản lý.

Thậm chí, ở Lùng Sui, Si Ma Cai, già làng còn chủ động bảo vệ cả những cánh rừng phòng hộ vốn nằm ngoài địa bàn quản lý của mình. “Ban quản lý thì một năm nó vào đây được mấy lần” – ông lầm bầm.

Ở đó, họ canh chừng được mọi hoạt động nhỏ nhất. Một chiếc máy xúc lấy cớ vào làm đường nông thôn mới để đào lên một gốc cây lớn, họ nhận ra, giữ lại. Nộp phạt cả chục con gà mới được đi. Nhất cử nhất động trong cánh rừng này, người Mông và người Dao Đỏ biết hết.

Vì đấy không chỉ là sinh kế, là nơi bao bọc, nó còn là rừng thiêng: trong rừng của thôn Sải Duần có một vùng đất thờ mà không người lạ nào được phép bước chân vào.

Nghĩa là chống thiên tai và biến đổi khí hậu nên bắt đầu từ chính những cộng đồng coi rừng là sinh mệnh này. Luật pháp đang không tỏ ra hiệu quả bằng… luật rừng. Nhưng làm thế nào để người dân giữ rừng? Có hai điểm: đầu tiên là việc giao rừng cho họ.

Luật bảo vệ và phát triển rừng hiện nay vẫn đang rất mập mờ quy định về việc rừng như thế nào thì sẽ giao lại cho cộng đồng quản lý. Khoản 2, điều 29 Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 quy định sẽ giao “Khu rừng hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý, sử dụng có hiệu quả”.

Nhưng đáng tiếc là cách định tính này khiến cho người triển khai không hiểu được loại rừng gì sẽ giao. Nó không thuộc về phân loại nào của ngành lâm nghiệp hay theo phân loại truyền thống của bà con. Thế nào là hiệu quả?

Điểm thứ hai, quan trọng hơn, là cho bà con hưởng lợi ích từ những cánh rừng mình được giao để họ có cam kết tự nhiên với rừng. Lợi ích thuần túy hiện nay theo chính sách (quyết định 07/2012/QĐ-TTg ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng) thì chỉ hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm để tổ chức quản lý bảo vệ rừng đối với diện tích rừng do UBND cấp xã trực tiếp quản lý.

Ở nơi này, họ nhận tiền chế độ 200.000 đồng/năm với mỗi hecta rừng được giao, một số tiền quá nhỏ bé. Lợi ích thật sự phải là việc được khai thác giá trị của cánh rừng ấy theo luật. Trên thực tế, khi được giao rừng, bà con hoàn toàn có thể trồng thêm những cây dưới tán rừng – như là thảo quả, sa nhân tím, thuốc nam… Hoặc họ có thể tỉa cành cây lấy gỗ theo luật. Nhưng hiện nay các quy định của luật gần như không có không gian cho những việc này. Không thể trông chờ họ đồng lòng dốc sức vì 200.000 đồng/ha/năm.

Đó không phải là một thực tế mới. Nhưng nó trở nên bức thiết khi nhìn lại những thiên tai. Mất rừng được chỉ ra là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất trong các trận lũ lớn ở Lào Cai và ở miền Trung mới đây. Con sông đá của xã Phìn Ngan chắc chắn sẽ còn tồn tại hàng chục năm nữa trước khi nước suối có thể làm mòn nó, như một lời cảnh báo về một tương lai xám, nếu rừng không được giữ ngay hôm nay.■

Hương ước thôn bản Lào Cai về giữ rừng

Đây là một số điểm chung nổi bật từ một số hương ước của cả người Dao và người Mông tại Bát Xát và Si Ma Cai (Lào Cai):

– Mỗi cây gỗ chặt trong rừng, tùy độ lớn nhỏ, sẽ bị phạt từ 50.000 – 200.000 đồng. Số tiền này được dùng để đưa vào quỹ của thôn, phục vụ đội tuần tra và công tác bảo vệ rừng.

– Nếu không có tiền nộp phạt sẽ được quy thành lợn, gà để đội tuần tra cùng ăn uống.

– Mỗi người dân bị phát hiện phun thuốc diệt cỏ sẽ bị phạt đến 200.000 đồng.

– Phần nương rẫy đã ổn định không được xâm phạm vào rừng. Không được đốt nương.

– Mỗi nhà có việc cần dùng gỗ phải xin phép, trả một khoản phí tượng trưng (cho quỹ của bản) để “mua ưu đãi” tối đa là 5 cây gỗ trồng. Phần còn lại phải tự mua bên ngoài.

Nguồn: http://cuoituan.tuoitre.vn/

Nguồn: http://cuoituan.tuoitre.vn/