Top #10 ❤️ Nghị Định 155 Của Chính Phủ Về Môi Trường Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Sachkhunglong.com

Xử Lý Vi Phạm Về Môi Trường Theo Nghị Định 155 Của Chính Phủ: Còn Nhiều Khó Khăn

Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Định Số 122/2016/nđ

Bối Rối Khi Vận Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Chăn Nuôi

Hướng Dẫn Việc Thực Hiện Nghị Định Số 122/2018/nđ

Triển Khai Thực Hiện Nghị Định 122/nđ

Tại Nghị Định 100 Năm 2022 Của Chính Phủ

Nghị định 155 của Chính phủ được ban hành và có hiệu lực từ tháng 2/2017 với nhiều mức xử phạt nghiêm khắc trong lĩnh vực môi trường, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường của tỉnh. Tuy nhiên, việc xử lý hành vi vứt rác bừa bãi, hút thuốc nơi công cộng, xả thải không đúng quy định của người dân ở nhiều địa phương còn nhiều khó khăn.

Xử phạt cao, rác vẫn ngập đường

Sau hơn một năm Nghị định 155 có hiệu lực, ghi nhận của phóng viên, tại nhiều tuyến đường trên địa bàn tỉnh, những hành vi như xả rác ra đường phố, vỉa hè hay vô tư tiểu tiện ngoài đường vẫn còn khá phổ biến. Bất kể thời gian nào, chân cột điện, gốc cây, gầm cầu, thậm chí tại nới cắm biển cấm đổ rác, rác thải vẫn được chất thành đống. Điển hình như tuyến đường Mê Linh, Nguyễn Tất Thành, Hùng Vương, thành phố Vĩnh Yên; quốc lộ 2C cầu Bì La; đường liên thôn, liên xã trên địa bàn xã Kim Long, huyện Tam Dương; xã Đại Đình, Hợp Châu huyện Tao Đảo, rác thải sinh hoạt được chất đống ngay giữa lòng đường, vỉa hè gây mất mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường và cản trở giao thông.

Tại Điều 20, Nghị định 155/2016/ NĐ-CP, các hành vi như vứt đầu mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định bị phạt từ 500.000 – 1.000.000 đồng; tiểu tiện, đại tiện bậy bạ bị phạt 1 – 3 triệu đồng; xả rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng bị phạt 3 – 5 triệu đồng; xả rác sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị mức phạt từ 5 – 7 triệu đồng.

Chị Nguyễn Thị Lan, nhân viên công nhân Công ty cổ phần môi trường và dịch vụ đô thị Vĩnh Yên cho biết: Từ khi Nghị định 155 có hiệu lực đến nay, việc thu gom rác do người dân vứt bừa bãi tại mặt đường, ngõ phố, trong các khu dân cư không hề giảm. Thậm chí nạn đổ trộm rác vào ban đêm có phần nhiều hơn trước. Đặc biệt, nhiều người vẫn giữ thói quen vứt rác ra đường chờ công nhân vệ sinh đến dọn chứ chưa có biểu hiện của việc “sợ phạt”.

Đồng bộ nhiều giải pháp

Theo đánh giá của nhiều địa phương, mặc dù Nghị định 155 quy định khá chi tiết và rõ ràng song khó áp dụng vào thực tế. Ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch UBND phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên cho biết: Hiện nay, việc xử phạt theo Nghị định 155 còn khó khăn vì hầu hết cán bộ, công an phường phải kiêm nhiều nhiệm vụ như quản lý an ninh trật tự, vỉa hè, địa chính trong khi lực lượng mỏng, địa bàn rộng, đông dân cư. Cùng với đó, để xử phạt vi phạm, ví dụ như vứt rác, vứt tàn thuốc bừa bãi, khạc nhổ hay tiểu tiện không đúng nơi quy định… thì phải có ảnh chụp, bằng chứng “bắt tận tay” nên cũng rất khó. Đến nay, phường thực hiện xử phạt những hộ kinh doanh lấn chiếm vỉa hè, còn trường hợp xử phạt như vứt rác bừa bãi, vệ sinh không đúng nơi quy định, vứt đầu thuốc nơi công cộng… thì chưa xử phạt được trường hợp nào.

Các mức phạt cao tại Nghị định 155 đã đủ sức răn đe với các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào việc xử phạt của chính quyền các cấp thì hiệu quả sẽ rất thấp. Bởi vậy, cần huy động sự vào cuộc, giám sát của chính người dân, đặc biệt là có cơ chế, chính sách đãi ngộ để thu hút nhiều người dân tham gia cung cấp thông tin, hình ảnh người vi phạm, từ đó có thể “phạt nguội”. Đối với cá nhân, hộ gia đình vi phạm nhiều lần thì có thể nêu tên, dán ảnh vi phạm lên bảng tin của khu dân cư.

Theo ông Bùi Văn Tạo, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã An Hòa, huyện Tam Dương, xã có 7 thôn dân cư, tại mỗi thôn đều có tổ môi trường thu gom rác thải và thời gian tiến hành thu gom rác 2 buổi/tuần. Ngay sau khi Nghị định 155 có hiệu lực, cấp ủy, chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Nghị định qua các buổi sinh hoạt chi bộ, họp thôn và tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở để người dân hiểu, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; tích cực phối hợp, kiên quyết xử lý các vụ vi phạm về môi trường. Đặc biệt, trước tình trạng la liệt rác thải, thậm chí chất thành đống hai bên đường quốc lộ 2C đi cầu Bì La và mặt đê trung ương khu vực thôn Yên Thượng, Hương Đình, chính quyền địa phương đã giao khoán, gắn trách nhiệm cho từng trưởng thôn trong công tác bảo vệ môi trường. Qua thời gian theo dõi, giám sát, phục kích của cán bộ, người dân 2 thôn Hương Đình, Yên Thượng xã An Hòa đã bắt, lập biên bản xử phạt 3 vụ dùng xe lôi, xe kéo và ô tô từ địa phương khác chở rác đến đổ trộm.

Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh, từ tháng 2/2017 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 20 tổ chức, cá nhân bị các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với tổng số tiền hơn 2 tỷ đồng. Trong đó, Chánh thanh tra Sở ra quyết định xử phạt 9 đơn vị, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xử phạt 11 đơn vị.

Theo đánh giá của lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, hơn một năm trở lại đây, ý thức của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường được nâng lên rõ rệt. Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trong và ngoài khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh được thực hiện khá tốt. Đa số các cơ sở sản xuất đã lập và qua cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ môi trường; chủ động xây dựng các công trình xử lý nước thải, khí thải trước khi đi vào vận hành chính thức. Chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại phát sinh được các cơ sở thu gom, lưu giữ và ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý theo quy định. Các cơ sở chăn nuôi có quy mô trung bình trở lên đều nằm xa khu dân cư, có hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống biogas để xử lý nước thải…

Để môi trường xanh – sạch – đẹp, rất cần sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là ý thức tự giác của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện nghiêm những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Lê Vân

Sim Của Bạn Sẽ Bị Chặn Nếu Không Chụp Ảnh Chân Dung Chính Chủ ?

Nóng: Từ 01/06 Mobifone Sẽ Chặn Chiều Thuê Bao Không Cập Nhật Thông Tin

Theo Nghị Định 49, Thuê Bao Mobifone Nào Cần Bổ Sung Ảnh Chân Dung?

Nghi Dinh 47 Cp Cua Chinh Phu Quy Dinh Ve Muc Luong Co So

Quy Định Về Luân Chuyển Cán Bộ, Công Chức

Nghị Định Của Chính Phủ Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải

Nghị Định Của Chính Phủ Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường

Dự Thảo Nghị Định Về Quy Hoạch Bảo Vệ Môi Trường

Quy Định Về Quy Hoạch Bảo Vệ Môi Trường, Đánh Giá Môi Trường Chiến Lược, Đánh Giá Tác Động Môi Trường Và Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường

Góp Ý Xây Dựng Dự Thảo Nghị Định Về Quy Hoạch Bảo Vệ Môi Trường

Một Số Điểm Mới Của Nghị Định Số 40/2019/nđ

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2004, Nghị định số 67/2003/N Đ -CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường VMT) đối với nước thải có hiệu lực thi hành.

Theo Nghị định, đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải gồm: nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.

– Nước thải công nghiệp là nước thải ra môi trường từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản.

– Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ các hộ gia đình, tổ chức khác không thuộc các đối tượng nêu trên.

đối với các loại nước thải không thu phí BVMT gồm: nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các nhà máy điện; nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình ở địa bàn đang được Nhà nước thực hiện chế độ bù giá để có giá nước phù hợp đối với đời sống kinh tế – xã hội; nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn và những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch.

* Mức thu phí BVMT đối với nước thải quy định như sau:

– Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được tính theo tỷ lệ ) trên giá bán của 1m 3 nước sạch, nhưng tối đa không quá 10% của giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đ ối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng rừ hộ gia đình ở những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch), thì mức thu được xác định theo từng người sử dụng nước, căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường nơi khai thác và giá cung cấp 1m3 nước sạch trung bình tại địa phương.

Căn cứ quy định về mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt tại Nghị định này và tình hình kinh tế – xã hội, đời sống; thu nhập của nhân dân ở địa phương, hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cụ thể mưc thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt áp dụng cho từng địa bàn, từng loại đối tượng tại địa phương.

Căn cứ khung mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp quy định tại Nghị định này, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể mức thu phí BVMT đối với từng chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp cho phù hợp với từng môi trường tiếp nhận nước thải, từng ngành nghề; hướng dẫn việc xác định số phí BVMT

Đ ối với nước thải công nghiệp phải nộp của đối tượng nộp phí.

Phí BVMT đối với nước thải là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước, được quản lý, sử dụng theo phương thức một phần phí thu được để lại cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc thu phí; trang trải chi phí đánh giá, lấy mẫu phân tích nước thải phục vụ cho việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với nước thải công nghiệp từ lần thứ hai trở đi. Phần còn lại nộp vào ngân sách nhà nước và phân chia cho ngân sách trung ương, ngân sách địa phương phục vụ cho hoạt động BVMT .

Dự Thảo Nghị Định Của Chính Phủ Về Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải

Hội Nghị Triển Khai Nghị Định 25/2013/nđ

Sau Tăng Kịch Khung Thuế Bảo Vệ Môi Trường Với Xăng Dầu Là Đề Án Thu Phí Với Khí Thải?

Nhiều Bất Cập Trong Việc Thu Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải

Sẽ Quy Định Rõ Mức Phí Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải

Trình Chính Phủ Nghị Định Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Định Số 155/2016/nđ

Một Số Điểm Mới Trong Nghị Định 122/2018/nđ

Tổng Kết, Giao Ban Công Tác Phối Hợp Thực Hiện Nghị Định Số 133/2015/nđ

Kiểm Tra Công Tác Phối Hợp Thực Hiện Nghị Định 133

Bộ Công An: Chức Năng, Nhiệm Vụ Không Đổi, Bộ Máy Tinh Gọn Hơn

Quy Định Mới Về Kinh Doanh Rượu ( Nghị Định Số 105/2017/nđ

Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ năm 2022, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (sau đây gọi là dự thảo Nghị định).

Cổng thông tin điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng giới thiệu các nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định như sau:

Sự cần thiết ban hành Nghị định

Yêu cầu về mặt pháp lý

Thứ nhất, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được xây dựng trên cơ sở pháp lý là Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Thanh tra 2010 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; các nghị định hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường như: Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 23/4/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường…

Thứ ba, Bộ luật hình sự năm 2022 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 quy định tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234) và quy định tội phạm môi trường tại Chương XIX, bao gồm: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); Tội vi phạm quy định về quản lý CTNH (Điều 236); Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự 3 cố môi trường (Điều 237); Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người (Điều 240); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 241); Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242); Tội huỷ hoại rừng (Điều 243); Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

Về các yêu cầu phát sinh từ thực tế

Nghị định số 155/2016/NĐ-CP được ban hành với khung và mức phạt cao, hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm khắc (ngoài bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả vi phạm, buộc phải dừng hoạt động…), có tính răn đe cao đã tạo sự chuyển biến tích cực đối với doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã có ý thức khắc phục ngay các tồn tại, vi phạm, đã quan tâm đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường và vận hành thường xuyên hệ thống xử lý chất thải đạt QCVN; thu gom, quản lý, xử lý chất thải… Ý thức BVMT của doanh nghiệp được nâng lên, môi trường tại các khu công nghiệp, khu sản xuất, kinh doanh từng bước được cải thiện. Đối với người dân, việc quy định thẩm quyền lập biên bản và xử phạt các vi phạm về xả thải tại các khu vực đô thị, khu dân cư, khu vui chơi, giải trí… cũng đã góp phần nâng cao ý thức và nhận thức của người dân về thu gom, phân loại, xử lý rác, giữ gìn vệ sinh môi trường ở các khu đô thị, khu dân cư và nơi công cộng.

Thứ nhất, các hạn chế, vướng mắc của Nghị định 155/2016/NĐ-CP Bên cạnh các kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị định số 155/2016/NĐ-CP còn một số tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế hiện nay, cụ thể như sau:

Chưa quy định rõ đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính, theo đó, nhiều trường hợp bị lúng túng khi áp dụng xử phạt như: xử phạt đối tượng là chi nhánh, là cơ quan quản lý nhà nước nhưng được giao nhiệm vụ đầu tư dịch vụ công…;

Một số thuật ngữ, cụm từ sử dụng trong Nghị định chưa rõ cách hiểu, chưa thống nhất như: công trình bảo vệ môi trường, công trình xử lý chất thải, đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường, chất thải rắn thông thường đặc thù…

Một số biện pháp khắc phục hậu quả quy định chung cho các hành vi của cả Điều, chưa cụ thể nên gây lúng túng khi áp dụng trên thực tế;

Chưa quy định hành vi không thực hiện giám sát môi trường định kỳ theo quy định;

Đã có chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm về vệ sinh nơi công cộng nhưng trên thực tế khó xử phạt vì chưa có cơ chế xé vé xử phạt tại chỗ;

Chưa quy định đối với hành vi thu gom, vận chuyển, xử lý bùn thải từ bể tự hoại, bùn thải từ hệ thống thoát nước đô thị;

Chưa quy định đối với hành vi chuyển giao, cho, bán, chôn lấp, đổ, thải, đốt, tiếp nhận các loại chất thải rắn thông thường đặc thù (như chất thải rắn thông thường phát sinh từ hoạt động y tế; chất thải rắn từ hoạt động xây dựng; chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi; bao bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật sau sử dụng đã được làm sạch các thành phần nguy hại; bùn nạo vét từ kênh mương và các công trình thủy lợi; bùn nạo vét từ biển, sông, hồ và các vùng nước khác) và sản phẩm thải lỏng không nguy hại nên không có chế tài xử lý khi phát hiện các trường hợp nêu trên trong giai đoạn vừa qua.

Vướng mắc trong quá trình cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành biện pháp xử phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục hậu quả. Các biện pháp cưỡng chế theo quy định hiện hành áp dụng không hiệu quả trên thực tế…

Thiếu một số nguyên tắc áp dụng trong quá trình thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường như việc xác định thải lượng nước thải quy định tại Điều 13, 14 chưa cụ thể; một số hành vi còn nhiều ý kiến không thống nhất khi xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như hành vi không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, không có giấy xác nhận hoàn thành.

Thứ hai, các tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị định 155/2016/NĐ-CP, kết quả cho thấy còn một số tồn tại mang tính chủ quan và khách quan như:

Tình trạng chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp đã giảm đáng kể tuy nhiên theo phản ánh của doanh nghiệp, địa phương và thực tế triển khai công tác thanh tra hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy vẫn còn tình trạng có doanh nghiệp trong một năm thuộc đối tượng kiểm tra, thanh tra của nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra do các cơ quan khác nhau thành lập. Nguyên nhân chủ yếu là do các cơ quan chưa tuân thủ đúng nguyên tắc, cơ chế phối hợp theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã thực hiện việc lập Kế hoạch thanh tra bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc; định hướng đối tượng, lĩnh vực và địa bàn kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường cho Bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh. Theo đó, Bộ Công an có trách nhiệm không thanh tra, kiểm tra các đối tượng đã được đưa vào kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Tài nguyên và Môi trường lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra không được chồng chéo với kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Các cơ quan được quy định tại Điều 53 của Nghị định 155/2016/NĐ-CP chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc phối hợp triển khai công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường. Cụ thể, theo quy định, Bộ Công an định kỳ 06 tháng và hàng năm báo cáo tình hình, kết quả kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của lực lượng Công an nhân dân cho Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, công khai theo quy định pháp luật; Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi 6 trường tình hình, kết quả kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh định kỳ 06 tháng và hàng năm. Tuy nhiên, theo ghi nhận, từ năm 2022 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa nhận được các báo cáo nêu trên của Bộ Công an; việc báo cáo của các Sở Tài nguyên và Môi trường cũng không thường xuyên, đầy đủ. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường không đủ dữ liệu, số liệu để thực hiện trách nhiệm công khai kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước.

Hạn chế trong quá trình triển khai các đoàn thanh tra chuyên ngành môi trường: Luật thanh tra quy định các Đoàn thanh tra phải thông báo trước, chỉ được làm việc trong giờ hành chính; trong khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở ngoài giờ hành chính là khá phổ biến. Các doanh nghiệp lại luôn tìm cách đối phó với các lực lượng chức năng, lợi dụng quy định này để tiến hành xả trộm chất thải vào ban đêm…; chưa quy định trình tự, thủ tục của hoạt động thanh tra đột xuất; thiếu quy định về công tác kiểm tra về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp… dẫn tới giảm hiệu lực của việc thi hành các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng Nghị định

Việc xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP được tiến hành trên các quan điểm chỉ đạo sau:

Bảo đảm phù hợp với thực tế, tính hợp lý, khoa học, tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta.

Kịp thời cập nhật, sửa đổi, bổ sung những quy định tại Luật hình sự năm 2022 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), Nghị định số 40/2019/NĐ-CP nhằm bảo đảm sự đầy đủ, toàn diện của văn bản; đồng thời bãi bỏ các quy định không còn phù hợp.

Khắc phục, xử lý những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện Nghị định số 155/2016/NĐ-CP theo ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương.

Kế thừa nội dung các quy định của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP hiện hành còn phù hợp và đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn xã hội về thực thi chính sách pháp luật trong bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Chính phủ đã đồng ý bổ sung Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2022 và dự kiến sẽ trình Chính phủ thông qua trong năm 2022, việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 155/2016/NĐ-CP tập trung sửa đổi những Điều, khoản cho phù hợp với các quy định mới, khắc phục các bất cập bức thiết như đã nêu trên. Nghị định sửa đổi sẽ giữ nguyên một số điều hiện nay đang phát huy được tính thực tiễn cao như thẩm quyền xử phạt, phân định thẩm quyền xử phạt, giữ nguyên mức xử phạt để đảm bảo tính ổn định và tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả của Nghị định phục vụ việc sửa đổi toàn diện Nghị định sau khi Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực.

Đảm bảo về nguồn nhân lực, tài chính để đảm bảo thi hành Nghị định. Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy có một số hành vi không khả thi do không đủ điều kiện, nguồn lực thực hiện như các hành vi về vi phạm quy định vệ sinh nơi công cộng (vứt rác, đầu mẩu thuốc lá, tiểu tiện nơi công cộng) hoặc biện pháp khắc phục hậu quả như buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm, buộc truy thu số phí trốn nộp, buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường… Đối với các nhóm hành vi này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu, chỉnh sửa tại Dự thảo Nghị định, do đó, đối với nhóm vi phạm về vệ sinh nơi công cộng đã giảm mức xử phạt để phù hợp với thẩm quyền xử phạt của lực lượng công an nhân dân, qua đó đã mở rộng nguồn lực để thực hiện, đảm bảo đủ điều kiện thực thi trên thực tế. Đối với nhóm biện pháp khắc phục hậu quả, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã sửa đổi theo hướng các biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ chứng minh hậu quả hoặc số lợi bất hợp pháp thu được hoặc số phí bảo vệ môi trường nộp thiếu, trốn nộp theo quy định do hành vi vi phạm hành chính. Như vậy dự thảo Nghị định đã được nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh sửa theo hướng đảm bảo nguồn lực thực tế trong quá trình thực hiện.

Các nội dung chính của dự thảo

Về phạm vi điều chỉnh, Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP.

Về bố cục và nội dung cơ bản của Dự thảo Nghị định: Dự thảo Nghị định gồm có 03 Điều và phần phụ lục, gồm: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP; Điều khoản thi hành; Trách nhiệm thi hành và phụ lục. Dự thảo sửa đổi tất cả 32 điều/62 điều và bổ sung 01 điều, trong đó sửa đổi 06/07 điều tại Chương I; sửa đổi 22/40 điều và bổ sung 01 điều tại Chương II; sửa đổi 03/13 điều tại Chương III; sửa đổi 01/02 điều tại Chương IV.

Một số nội dung chính được sửa đổi, bổ sung như sau:

Sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Chương I. Những quy định chung (các điều: 1, 2, 3, 4, 6 và 7) gồm:

Về đối tượng áp dụng của Nghị định: bổ sung, quy định cụ thể tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính). Việc bổ sung này nhằm khắc phục vướng mắc trong việc xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính;

Về giải thích từ ngữ: sửa đổi, bổ sung, giải thích một số từ ngữ để thống nhất trong các quy định tại Nghị định (như Bản kế hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, công trình bảo vệ môi trường, hoạt động gây ô nhiễm môi trường, chất thải rắn thông thường đặc thù);

Về biện pháp khắc phục hậu quả: bổ sung 02 biện pháp là buộc di dời dự án, cơ sở đến địa điểm phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và buộc lập đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; buộc rà soát, cải tạo công trình xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường theo quy định; bổ sung quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ chứng minh hậu quả hoặc số lợi bất hợp pháp thu được do hành vi vi phạm hành chính gây ra;

Về quy định sử dụng kết quả thu bằng thiết bị, hệ thống quan trắc tự động, liên tục khí thải, nước thải để làm căn cứ xử phạt vi phạm hành chính: bổ sung quy định về cách sử dụng kết quả thu được bằng thiết bị, hệ thống quan trắc chất thải tự động, liên tục tính trung bình ngày (24h) theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP có thể được sử dụng để xác định hành vi vi phạm hành chính. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, Sở Tài nguyên và Môi trường phân tích mẫu chất thải thu được tại hệ thống lấy mẫu tự động trong cùng ngày đó hoặc tổ chức quan trắc chất thải của cá nhân, tổ chức trong cùng ngày đó hoặc ngày kế tiếp. Kết quả phân tích các mẫu chất thải này là căn cứ để xác định hành 11 vi vi phạm của cá nhân, tổ chức.

Sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Chương II. Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả (các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 32, 33, 34, 39, 44, 46 và bổ sung Điều 12a)

Về quy định xử phạt vi phạm hành chính về thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường: sửa đổi, bổ sung các hành vi về việc lập, thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường; bổ sung hành vi xây lắp không đúng quy định đối với công trình xử lý chất thải trong các trường hợp: giảm công suất dẫn đến không đủ khả năng xử lý chất thải phát sinh, thay đổi công nghệ, thiếu công đoạn xử lý; không thu gom triệt để dẫn đến tình trạng một lượng nước thải, khí thải phát sinh trong quá trình triển khai xây dựng và vận hành dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không được xử lý trước khi thải ra môi trường, không có biện pháp thu gom triệt để nước thải, khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động để xử lý theo quy định; sửa đổi làm rõ hơn yêu cầu thực hiện báo cáo ĐTM, Quyết định phê duyệt ĐTM đối với từng loại đối tượng theo từng thời kỳ của quy định pháp luật. Bổ sung các trách nhiệm mới của chủ dự án theo Nghị định số 40/2019/NĐ-CP như: cập nhật dự án đầu tư theo nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt; thông báo cho cơ quan nhà nước trong trường hợp thay đổi chủ dự án; rà soát, cải tạo, nâng cấp các công trình xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đối với trường hợp trước đây không phải thực hiện thủ tục kiểm tra xác nhận hoàn thành; tiếp thu đầy đủ các nội dung, yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường vào dự án đầu tư, dự án đầu tư xây dựng …; Bãi bỏ các quy định không còn hiệu lực như: việc lập kế hoạch quản lý môi trường; kiểm tra việc thực hiện thu dọn lòng hồ trước khi tích nước đối với nhà máy thủy điện…

Về quy định xử phạt đối với các cơ sở không có kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Điều 11, sửa đổi thành “vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc triển khai xây dựng dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà không có kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường” để có căn cứ xử lý đối với các vi phạm diễn ra trong quá trình xây dựng dự án mà không có thủ tục về môi trường; bổ sung thêm hành vi đối với trường 12 hợp đối tượng được miễn thực hiện đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định; – Về quy định xử phạt đối với dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM: bãi bỏ các hành vi này do hiện nay Nghị định số 136/2018/NĐ-CP đã bỏ điều kiện kinh doanh trường hợp tư vấn lập ĐTM, đồng thời không phù hợp với thực tiễn. Theo quy định chủ dự án chịu trách nhiệm toàn bộ về các số liệu đề cập trong báo cáo ĐTM. – Về quy định quan trắc môi trường định kỳ: xây dựng theo hướng phân ra thành các giai đoạn triển khai của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, gồm: thi công xây dựng, vận hành thử nghiệm, vận hành thương mại theo nội dung báo cáo ĐTM, kế hoạch BVMT trong Nghị định số 40/2019/NĐ-CP.

Về một số quy định khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Bổ sung quy định không bố trí sàn thao tác bảo đảm an toàn tại vị trí lấy mẫu khí thải, vị trí lấy mẫu khí thải, lỗ lấy mẫu khí thải theo quy định; không lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng để quan trắc lưu lượng nước thải đầu vào, đầu ra của hệ thống xử lý nước thải; không vận hành, vận hành không đúng quy trình đối với thiết bị, hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục hoặc thiết bị, hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục; không lưu giữ số liệu quan trắc nước thải, khí thải theo quy định hoặc không truyền số liệu quan trắc về cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; không lắp đặt camera theo dõi; không đánh giá định kỳ chất lượng hệ thống quan trắc, tự động liên tục đối với nước thải, khí thải theo quy định; không khẩn trương khắc phục sự cố hệ thống quan trắc tự động, liên tục theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; bổ sung chủ thể làng nghề vào hành vi xả nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của khu kinh doanh, dịch vụ tập trung và điều chỉnh cách tính tiền phạt đối với hành vi này; bổ sung quy định đối với các hành vi không kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị quan trắc nước thải hoặc khí thải theo quy định thì áp dụng hình thức xử lý theo quy định tại pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường;

Các quy định xử phạt về hành vi xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ô nhiễm môi trường: sửa đổi, bãi bỏ một số điểm tại Điều 14, 16 để phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ Luật hình sự số 199/2015/QH13 (hành vi xả nước thải có chứa các thông số nguy hại vào môi trường vượt từ 05 lần trở lên với thải lượng nước thải từ 500 m3 /ngày trở lên và hành vi thải bụi, khí thải có chứa thông số môi trường nguy hại vào môi trường với lưu lượng khí thải từ 150.000 m3 /giờ trở lên đã thuộc xử lý hình sự);

Các quy định về quản lý chất thải: giảm mức phạt tiền tại khoản 1 Điều 20 về mức tiền thuộc thẩm quyền xử phạt của chiến sỹ công an nhân dân hoặc trưởng công an cấp xã để tăng tính khả thi, một số hành vi có thể phạt tại chỗ không lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 56 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; bổ sung hành vi đổ nước thải không đúng quy định trên vỉa hè, lòng đường phố; bổ sung quy định đối với hành vi thu gom, vận chuyển, xử lý bùn thải từ bể tự hoại, bùn thải từ hệ thống thoát nước đô thị không đúng quy định về bảo vệ môi trường được áp dụng hình thức xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; bổ 13 sung thêm hành vi chuyển, giao, cho, bán, tiếp nhận chất thải rắn thông thường đặc thù, sản phẩm thải lỏng không nguy hại cho đơn vị không có chức năng, năng lực xử lý theo quy định; bỏ quy định về Giấy xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường; bãi bỏ một số quy định tại Điều 22 do hiện nay không còn quy định đối tượng đại lý vận chuyển hoặc do một số hành vi đã được quy định tại Điều 23; bổ sung quy định về văn bản chấp thuận trước khi tiếp nhận chất thải nguy hại từ các chủ xử lý khác; bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả buộc chuyển giao chất thải cho đơn vị có chức năng xử lý đối với hành vi chuyển giao, cho, bán chất thải nguy hại cho tổ chức, cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại quy định tại các Điều 21, 22 và 23. – Các quy định đối với hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng: bổ sung trách nhiệm của cơ sở phá dỡ tàu biển theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP như: không báo cáo về công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển; không áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 14001; bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 24: Buộc tái xuất hoặc tiêu hủy trong trường hợp không thể tái xuất máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, tàu biển đã qua sử dụng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu.

Các quy định trong nhập khẩu phế liệu: bổ sung một số hành vi cho phù hợp với thực tế như: thay đổi kho hoặc bãi lưu giữ phế liệu mà không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận; thay đổi công nghệ, thiết bị tái chế, tái sử dụng phế liệu, công nghệ xử lý tạp chất đi kèm phế liệu mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận; bãi bỏ một số quy định không có kho hoặc bãi lưu giữ phế liệu nhập khẩu theo quy định và hành vi không có công nghệ, thiết bị tái chế, tái sử dụng phế liệu, xử lý tạp chất đi kèm phế liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo quy định của pháp luật; bãi bỏ quy định về nhập khẩu ủy thác do không còn quy định; – Các quy định về bảo vệ môi trường biển: bổ sung quy định đối với hành vi về đổ thải, nhận chìm chất thải, nhận chìm vật chất xuống biển thì áp dụng hình thức xử lý theo quy định tại pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý môi trường biển và hải đảo.

Các quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản: bổ sung hành vi không báo cáo công tác thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP; không báo cáo cơ quan phê duyệt phương án cải tạo, phục hồi môi trường trong trường hợp có sự điều chỉnh phương án cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định; không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ một trong các hạng mục công việc phải thực hiện trong phương án cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định.

Bãi bỏ quy định về hoạt động vận chuyển hàng nguy hiểm do quy định này được bãi bỏ tại Nghị định số 136/2018/NĐ-CP;

Các quy định xử phạt về bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh vật và tài nguyên di truyền: đã cập nhật, bổ sung để phù hợp 14 với quy định của các Nghị định về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen.

Sửa đổi, bổ sung một số điều tại Chương III. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

Bổ sung thẩm quyền xử phạt cho lực lượng công an nhân dân đối với hành vi xây lắp, lắp đặt thiết bị, đường ống hoặc các đường thải khác để xả chất thải không qua xử lý ra ngoài môi trường quy định tại điểm c khoản 1, điểm c khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 8, điểm h khoản 2 Điều 9, điểm c khoản 2 Điều 10, điểm b khoản 1, điểm b khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 5 Điều 11; sửa đổi, cập nhật các điều khoản tham chiếu tại các điểm h và điểm k khoản 1 Điều 52.

Bổ sung quy định tại Điều 56 về việc người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân và 500.000 đồng đối với tổ chức vi phạm.

Mobifone: Có Dấu Hiệu Sao Chép Hồ Sơ Thuê Bao

Hướng Dẫn Đăng Ký Chính Chủ Theo Nghị Định 49 Cho Sim Mobifone

Mức Lương Cơ Sở Năm 2022 Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Luôn Chú Trọng Chăm Lo Xây Dựng Lực Lượng Vũ Trang Vững Mạnh Cả Về Chính Trị, Tư Tưởng, Tổ Chức

Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở

Môi Trường Là Gì ? Vai Trò Của Môi Trường Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường ?

Môi Trường Pháp Luật Và Các Dòng Luật

Ảnh Hưởng Của Môi Trường Pháp Luật Trong Kinh Doanh Quốc Tế

Tư Vấn Pháp Luật Thương Mại Uy Tín Luật Quốc Huy

Trọng Tài Thương Mại Là Gì? Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?

Mục Đích Chính Trị Và Sự Phản Khoa Học Từ Bài Tập Luyện Của Pháp Luân Công

1. Môi trường là gì ?

Môi trường là các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.

2. Khái niệm môi trường bao gồm các nội dung sau:

Môi trường được tạo thành bởi các yếu tố (hay còn gọi là thành phần môi trường) sau đây: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.

Trong đó, không khí, đất, nước, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên… là các yếu tố tự nhiên (các yếu tố này xuất hiện và tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người); khu dân cư, khu sản xuất, di tích lịch sử… là yếu tố vật chất nhân tạo (các yếu tố do con người tạo ra, tổn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người). Không khí, đất, nước, khu dân cư… là các yếu tố cơ bản duy trì sự sống của con người, còn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh… có tác dụng làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú và sinh động.

3.1 Môi trường nhân tạo là gì ?

Khái niệm môi trường nhân tạo là tất cả các yếu tố do con người tạo như thành phần hoá học, tính chất vật lý… Những yếu tố này do con người tạo ra và bị con người chi phối.

Một số ví dụ tiêu biểu về môi trường nhân tạo:

Tại Singapore con người đã tạo ra một khu rừng nhiệt đới dưới dạng công viên vịnh nơi đa phần các cây tự nhiên không thể tồn tại ở quốc đảo này.

Hay kho hạt giống được chôn sâu bên trong một ngọn núi trên quần đảo Nauy 130 m, kho dự bị được thiết kế để bảo vệ những hạt giống quý giá nhất thế giới khỏi thảm hoạ, để đảm bảo tương lai của nguồn cung lương thực toàn cầu. Và rất nhiều công trình nhân tạo khác của con người có thể tạo ra những môi trường sống khác biệt, tách biệt và riêng có với thế giới tự nhiên.

3.2 Môi trường xã hội là gì ?

Khái niệm môi trường xã hội là mối quan hệ giữa người với người. Đó là các luật lệ, cam kết, thể chế, ước định… ở các cấp khác nhau. Môi trường xã hội có nhiệm vụ định hướng con người theo một khuôn khổ nhất định để cho sự phát triển được thuận lợi, khiến cuộc sống của con người khác với sinh vật khác.

Cũng theo một góc nhìn rộng hơn thì Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch sử, giáo dục… xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình. Môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợ cho nhau, con người sống sẽ được hưởng đầy đủ các quyền: sống, làm việc, cống hiến, hưởng thụ. Mặt trái của môi trường xã hội là các tệ nạn xã hội.

3.2 Môi trường sống là gì ?

Môi trường sống được hiểu là không gian sống, cung cấp tất cả nguồn tài nguyên thiên nhiên, đây cũng là nơi chứa đựng các phế thải do chính con người tạo ra trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, môi trường sống có trong lành thì con người mới đảm bảo có sức khỏe.

Môi trường sống hiểu một góc độ rộng hơn có thể bao hàm cả môi trường sống của các loại động vật, các loại sinh vật, vi sinh vật … cùng tồn tại, sinh tồn trên trái đất nơi chứa đựng các sự sống nói chung.

+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 số 52/2005/QH11);

+ Môi trường biển là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật (theo Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hải đảo).

+ Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch (theo Luật du lịch năm 2005);

+ Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin (Theo luật công nghệ thông tin năm 2006);

+ Môi trường rừngbao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác (căn cứ theo nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng).

+ Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (theo luật bảo vệ môi trường năm 2005);

Và rất nhiều khái niệm đã được luật hóa khác liên quân đến môi trường như: Môi trường nông nghiệp nông thôn, môi trường xây dựng, môi trường tiêu chuẩn…

4. Vai trò của môi trường đối với con người ?

Để đảm bảo sự sống của con người thì môi trường là yếu tố đầu tiên và quan trọng bậc nhất, bởi lẽ:

Thứ nhất, Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. Rất dễ dàng nhận thấy mọi ngành sản xuất đều gắn với các tài nguyên của người mẹ thiên nhiên như:

+ Trồng lúa cần có đất nông nghiệp, ngành xây dựng cần vật liệu xây dựng thô như đất, đá và các vật liệu xây dựng qua chế biến như xi măng, sắt, thép…;

+ Rừng tự nhiên phục mụ chức năng cung cấp nước, gỗ, bảo vệ sự đa dạng sinh học và thông qua đó cải thiện môi trường chung của hệ sinh thái;

+ Biển cung cấp các nguồn hải sản, nước… phụ vụ nhu cầu sinh tồn của con người….

+ Động vật và thực vật cung cấp nguồn lương thực dồi dào trực tiếp phụ vụ đời sống của con người.

+ Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió… là nguồn cung cấp điện năng, sự sống trực tiếp cho con người.

Do vậy, có thể thấy rằng con người phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp vào môi trường. Không có môi trường sẽ không có sự sống của con người.

Thứ hai, môi trường cũng chính là nơi chứa đựng các chất phế tại do con người tạo ra.

Trong quá trình sinh sống, còn người gần như đảo thải tất cả các chất rác thải, phế thải vào môi trường. Các chất này dưới tác động của ác vi sinh vật sẽ phân hủy, biến đổi theo các quá trình sinh địa hóa rất phức tạp khác nhau. Qua các quá trình biến đổi tự nhiên các chất thải có thể tái sử dụng dưới các dạng thức khác nhau và một phần tạo thành các độc tố gây hại cho môi trường sống.

Thứ ba, Môi trường giữ chức năng lưu trữ và cung cấp các thông tin cho con người.

Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:

– Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.

– Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…

– Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác.

Thứ tư, Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài.

Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời.

Và rất nhiều các vai trò quan trọng khác mà chúng tôi chưa thể phân tích kỹ trong một bài viết cụ thể.

5. Tại sao cần phải bảo vệ môi trường ?

Như đã phân tích ở trên, môi trường là không gian sống quan trọng nhất của con người, sinh vật, thực vật nên bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống nói chung và bảo vệ sự phát triển lâu dài của con người nói riêng.

Bảo vệ môi trường là việc sử dùng hài hòa các nguồn tài nguyên có giới hạn như (nước, than, đá, dàu mỏ …) và tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo phù hợp với môi trường sống bền vững như năng lượng điện, gió … Sử dụng các nguồn nặng lượng hóa thạch sẽ góp phần tạo ra khí thải làm trái đất nóng lên, nếu không có sự vào cuộc ngay theo dự kiến trong 100 năm tới trái đất sẽ tăng từ 1,5 đến 5,8 độ C. Như vậy, các thảm họa thiên nhiên sẽ không thể tránh khỏi và thiệt hại từ các thảm họa sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.

6. Các biện pháp bảo vệ môi trường hiện nay là gì ?

Dưới góc nhìn quốc tế, quốc gia thì bảo vệ môi trường là việc làm của mọi quốc gia cần tham gia và phê duyệt các công ước, điều ước quốc tế.

Hiện nay, với Việt Nam chúng ta đã tham dự nhiều hiệp định về bảo vệ môi trường như:

+ Hiệp định thương mại tự do ASEAN (ASEAN FTA) có quy định về việc vận chuyển sản phẩm hàng hóa nguy hiểm đến môi trường, hoặc Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN – Ấn Độ có quy định các lĩnh vực hợp tác kinh tế trong đó có lĩnh vực môi trường. Vấn đề môi trường đã được đề cập cụ thể như tại Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Trong 30 chương của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), 12 nước đã thống nhất dành hẳn 1 chương để cam kết các vấn đề về môi trường như ô nhiễm môi trường, buôn bán động vật hoang dã, khai thác, đánh bắt trái phép thủy hải sản. Hai hiệp định Việt Nam – EU, Việt Nam – Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) chủ yếu đề cập đến một số vấn đề môi trường bao gồm: BĐKH, các vấn đề môi trường (nói chung), bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải, đào tạo và giáo dục về môi trường.

Các Hiệp định đa phương về môi trường mà Việt Nam là thành viên được chia thành 8 lĩnh vực sau:

Lĩnh vực 1: Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học

Lĩnh vực 2: Quản lý đất

Lĩnh vực 3: Quản lý các nguồn nước quốc tế

Lĩnh vực 4: Bảo vệ môi trường biển

Lĩnh vực 5: Bảo vệ tầng zone

Lĩnh vực 6: Ứng phó với biến đổi khí hậu

Lĩnh vực 7: Quản lý rác thải

Lĩnh vực 8: Quản lý hóa chất

Dưới góc nhìn mỗi cá nhân việc bảo vệ môi trường có thể được thực hiện dưới những hành vi nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn như:

+ Hạn chế sử dụng túi nhựa, túi nilon;

+ Tiến hành phân loại rác tại nhà, tái sử dụng những loại chai nhựa, giấy và túi nilon

+ Trồng cây xanh tại nơi đất trống đồi trọc, nơi đầu nguồn để chống xói mòn, sạt lở đất và trồng cây xanh xung quanh nơi ở để điều hòa không khí, cân bằng hệ sinh thái

+ Không vứt rác bừa bãi, đặc biệt là vứt tại sông, suối, ao, hồ, bờ biển, … tránh gây ô nhiễm nguồn nước

+ Thực hiện xử nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường

+ Sử dụng phương tiện giao thông chạy bằng điện hoặc năng lượng mặt trời, … để giảm khí thải CO2 gây ô nhiễm không khí và rất nhiều biện pháp, việc làm nhỏ, đơn giản, dễ thực hiện nhưng mang lại hiệu quả cao khác nữa …

7. Một số văn bản pháp luật về môi trường của Việt Nam

+ Luật bảo vệ môi trường năm 1993; Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (văn bản mới nhất và đang có hiệu lực: Luật bảo vệ môi trường năm 2014)

+ Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2022;

+ Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010;

7.2 Các nghị định hướng dẫn luật môi trường:

– Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định quy hoạch bảo vệ moi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

– Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

– Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bao vệ môi trường do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2022.

– Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường;

7.3 Một số thông tư hướng dẫn nghị định, luật môi trường:

– Thông tư 25/2019/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 40/2019/NĐ-CP dịch vụ quan trắc môi trường

– Thông tư 26/2015/TT-BTNMT bảo vệ môi trường chi tiết đề án bảo vệ môi trường đơn giản

– Thông tư số 78/2017/TT-BTNMT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ngày 29 tháng 12 năm 2022;

– Thông tư 27/2015/TT-BTNMT đánh giá môi trường chiến lược tác động môi trường bảo vệ môi trường.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Ô nhiễm môi trường là gì ?

Trả lời:

Câu hỏi: Chức năng của môi trường là gì ?

Trả lời:

Câu hỏi: Ô nhiễm không khí là gì ? Vì sao không khí bị ô nhiễm?

Trả lời:

+ Nguồn tự nhiên:

+ Nguồn nhân tạo:

Phân Tích Ví Dụ Về Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Xã Hội

Bài Tập Học Kỳ Xã Hội Học Pháp Luật

Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức

#1 Phân Tích Ví Dụ Về Việc Phân Loại Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Pháp Luật

Đề Thi Môn Xã Hội Học Pháp Luật

🌟 Home
🌟 Top