Top 3 # Nghị Định Fta Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Các Bước Giúp Thành Viên Wto Thực Hiện Công Việc Phê Chuẩn, Chấp Nhận Và Ban Hành Hiệu Lực Của Nghị Định Bổ Sung Vào Fta

Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ IX vào tháng 12 năm 2013, các thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã kết thúc đàm phán về Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại (TFA). Tiếp theo đó, ngày 27 tháng 11 năm 2014, các thành viên WTO đã thông qua Nghị định thư sửa đổi để bổ sung vào Hiệp định mới này và đưa nó trở thành Phụ lục 1A của Tuyên ngôn Marrakesh Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

TFA sẽ có hiệu lực (Điều X.3 Hiệp định WTO) khi có đủ hai phần ba các thành viên WTO, tức là 108 thành viên tính đến tháng 6 năm 2015, phê chuẩn và thông báo chấp nhận thỏa thuận với Ban Thư ký WTO. Để đạt được điều này, trước tiên các thành viên WTO phải trải qua ba giai đoạn chính sau đây:

1) Giai đoạn phê chuẩn: Ở cấp độ trong nước, mỗi thành viên sẽ tiến hành các thủ tục phê chuẩn, thủ tục này có thể khác nhau giữa các thành viên.

2) Giai đoạn chấp nhận: Ở cấp độ đa phương, các thành viên WTO đã hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong nước của mình, gửi thông báo về việc chấp nhận Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO (Nghị định thư) cho các Thành viên WTO khác.

3)Giai đoạn có hiệu lực: Nghị định thư sẽ có hiệu lực sau khi chấp nhận bởi hai phần ba số thành viên WTO. Lưu ý kỹ thuật này mô tả các bước trong ba giai đoạn này một cách liên tục để hướng dẫn các nước thành viên hướng tới việc áp dụng các TFA.

GIAI ĐOẠN PHÊ CHUẨN

b) yêu cầu pháp lý của Hiến pháp và các bộ luật khác về phê chuẩn các hiệp ước quốc tế thường nằm một trong hai trường hợp sau sau:

i) Cơ quan hành pháp có thể có quyền phê chuẩn hiệp định nếu nội dung của hiệp định chỉ bao gồm các khía cạnh thuộc đặc quyền của cơ quan hành pháp; hoặc

ii) Cơ quan lập pháp phê chuẩn hiệp định này, ví dụ như hiệp định muốn có hiệu lực thực thi thì phải cần Quốc hội ban hành một luật mới hoặc sửa đổi một bộ luật hiện tại, hoặc nếu các vấn đề trong hiệp định nằm trong quyền của cơ quan lập pháp.

Trong cả hai trường hợp trên, Hiệp định cần phải được thẩm định pháp lý (xem hộp 1).

Hộp 1: Thẩm định pháp lý thực hiện TFA

Trong trường hợp cần phải thẩm định pháp lý, các thành viên WTO có thể áp dụng các bước sau đây:

a) Đánh giá của Chính phủ có thẩm quyền pháp lý phê chuẩn một hiệp định quốc tế hay nghị định thư.

c) Việc thẩm định phải bao gồm nội dung phân tích pháp lý về các nghĩa vụ trong hiệp định FTA của WTO so với khung pháp lý trong nước.

d) Các thành viên WTO là các nước đang phát triển và kém phát triển có thể nhận được sự hỗ trợ cho công tác thẩm định pháp lý, ví dụ như trên phân tích pháp lý sẽ được các tổ chức có trong Phụ lục D thực hiện, chẳng hạn như: kế hoạch thực hiện tạo thuận lợi thương mại quốc gia của UNCTAD, các báo cáo nghiên cứu và ghi chú kỹ thuật; cũng như đánh giá nhu cầu của WTO.

e) Kết quả cuối cùng của công tác thẩm định là sẽ xác định rằng Quốc hội có cần ban hành một đạo luật mới hoặc sửa đổi một bộ luật hiện tại để thực hiện các TFA hay không. Và cơ quan lập pháp sẽ là cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn TFA theo các yêu cầu pháp luật hay của Hiến pháp.

Bước 2: Xây dựng các công cụ trong nước để phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO

Khi thành viên WTO tiến hành phê chuẩn bởi cơ quan Hành pháp hay cơ quan Lập pháp như ở bước 1, các hành động sau đây sẽ được áp dụng cho việc xây dựng các công cụ để phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO:

a) Xây dựng một dự thảo các công cụ pháp lý cần thiết (có thể là bộ luật, nghị định hoặc quyết định).

b) Tuỳ theo yêu cầu về thủ tục, phải có một tờ trình giải thích/chứng minh sự cần thiết phải phê duyệt và phê chuẩn Nghị định thư, tờ trình này phải phân tích thuận lợi, khó khăn, các tác động kinh tế, phân tích rủi ro và khuyến nghị; và

c) Trình dự thảo văn bản cùng với tờ trình, báo cáo tới:

i) Các nội các và / hoặc Chủ tịch / Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cơ quan hành pháp là người phê chuẩn, hoặc

ii) Quốc hội trong trường hợp cơ quan lập pháp là người phê chuẩn.

Phụ lục I bao gồm các mô hình mà các thành viên đang phát triển và kém phát triển của WTO có thể sử dụng để xây dựng các công cụ để tiến hành phê chuẩn Nghị định thư. Quyết định đã được thông qua bởi Hội đồng chung vào ngày 27 Tháng 11 năm 2014 (WT / L / 940) yêu cầu các thành viên WTO phải thông báo việc chấp nhận “Nghị định thư”. Tương tự như vậy, quyết định này nêu rõ “Nghị định thư” sẽ có hiệu lực theo quy định tại Điều X.3 của Hiệp định WTO. Qua đó, các công cụ phê chuẩn có thể được xây dựng theo một trong hai hướng sau:

a) Phê duyệt / phê chuẩn Nghị định thư (Phụ lục IA); hoặc

b) Phê duyệt/ phê chuẩn Nghị định thư và các phụ lục TFA tới Nghị định thư(Phụ lục I-B)

Bước 3: Phê duyệt Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO

Tùy thuộc vào yêu cầu của pháp luật trong nước của họ (ví dụ như hiến pháp) của mỗi thành viên WTO, sự chấp thuận TFA của WTO có thể xảy ra trong hai trường hợp khác nhau:

a) Chi nhánh điều hành: nếu tất cả các vấn đề được bao phủ bởi TFA là một phần quyền hạn riêng của ban điều hành, ban điều hành một mình, mà không cần sự can thiệp của quốc hội, có thể phê duyệt thỏa thuận.

b) Cơ quan lập pháp: Quốc hội có thể là cơ quan thích hợp để phê duyệt TFA của WTO khi:

i) Việc thực hiện thỏa thuận đòi hỏi phải ban hành mới hoặc sửa đổi pháp luật hiện hành, và/hoặc

Bước 4: Phê chuẩn

a) Thành viên WTO thể hiện sự đồng ý của họ để được kết nối vào TFA thông qua phê chuẩn.

b) Trong trường hợp Quốc hội chấp thuận, chi nhánh điều hành sẽ phê chuẩn thỏa thuận sau đó.

c) Các văn kiện phê chuẩn phải được ký kết nhân danh Nhà nước. Thông thường, một trong hai người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao có năng lực pháp lý để đại diện cho Nhà nước ký.

Theo chúng tôi – PT Từ khóa: Các bước giúp, thành viên, WTO, thực hiện, phê chuẩn, chấp nhận, ban hành. hiệu lực. Nghị định bổ sung FTA

Nội Luật Hóa Cam Kết Hội Nhập Quốc Tế Trong Kỷ Nguyên Fta Thế Hệ Mới

Nội luật hóa điều ước quốc tế

Trong thời gian qua, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT). Tuy nhiên, để tận dụng được những lợi thế khi tham gia các cam kết quốc tế cần tiến hành quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo ĐƯQT được tuân thủ và thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quá trình này còn gọi là chuyển hóa ĐƯQT.

Ở Việt Nam, nội dung chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật quốc gia được quy định cụ thể từ năm 2005 với việc Quốc hội thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT với 2 hình thức chuyển hóa ĐƯQT như: áp dụng trực tiếp và nội luật hóa. Áp dụng trực tiếp là việc thừa nhận các quy phạm ĐƯQT được tự động thi hành pháp luật như pháp luật trong nước thông qua việc ban hành quyết định thừa nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của ĐƯQT đó.

Trong trường hợp ĐƯQT không đáp ứng đủ các điều kiện để áp dụng trực tiếp như: Nội dung của ĐƯQT chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết mà cần thiết phải hướng dẫn, giải thích thêm thì thực hiện ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) mới hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản QPPL hiện hành để thực thi ĐƯQT (còn gọi là phương pháp nội luật hóa).

Để nội luật hóa các cam kết trong CPTPP, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 72/2018/QH14, trong đó nêu rõ việc cần thiết phải nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung một số văn bản luật như: Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; Luật An toàn thực phẩm năm 2010… để đảm bảo phù hợp, tương thích với cam kết của Việt Nam trong Hiệp định này.

Hiện nay, có 3 cách thức để nội luật hóa ĐƯQT bao gồm:

Thứ nhất, cách thức “một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật”. Đây là cách thức được áp dụng theo mô hình “cách mạng” trong chuyển hóa ĐƯQT và được nhiều quốc gia áp dụng, bởi tính nhanh chóng, kịp thời của phương thức này.

Thứ hai, cách thức tiến hành sửa đổi, bổ sung, ban hành mới từng văn bản QPPL để thực thi ĐƯQT. Cách thức này được áp dụng theo mô hình chuyển hóa từ các ĐƯQT. Cách thức này tuy mất nhiều thời gian nhưng tạo điều kiện cho cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiều cơ hội rà soát, nghiên cứu cam kết, từ đó đưa ra nội dung quy phạm trong văn bản đảm bảo tính tương thích và phù hợp với ĐƯQT.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản QPPL để dần tiến tới thực thi ĐƯQT. Trong thực tiễn, việc áp dụng cách thức chuyển hóa này cho phép vượt qua được những trở ngại nhất định trong quá trình chuyển hóa nội dung pháp lý của ĐƯQT thành nội dung pháp lý của pháp luật trong nước.

Một số vấn đề đặt ra khi nội luật hóa các FTA thế hệ mới

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA song phương và đa phương, trong đó có một số FTA thế hệ mới như: CPTPPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu EU (EVFTA), FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực… So với các FTA trước đây, với mức độ cam kết chủ yếu tập trung vào chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới mà Việt Nam ký kết sau này có những cam kết sâu rộng, toàn diện hơn, thể hiện ở những đặc điểm sau:

(i) Mức độ tự do hóa sâu với mức độ mở cửa thị trường cao thể hiện thông qua việc xóa bỏ phần lớn các dòng thuế. Trong CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ số dòng thuế ở mức cao, theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 khi Hiệp định có hiệu lực. Trong EVFTA, Việt Nam và EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế trong khoảng thời gian 7 năm đối với EU và 10 năm đối với Việt Nam.

(ii) Phạm vi cam kết rộng, bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới như: doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của chính phủ, lao động – công đoàn, môi trường…

(iii) Chứa đựng nhiều cam kết về thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biên giới).

(iv) Đối tác FTA thế hệ mới đặc biệt lớn, có thể kể đến những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như: Mỹ, EU và Nhật Bản.

Với những đặc điểm nêu trên, có thể thấy các FTA thế hệ mới sẽ tác động đáng kể đến việc mở rộng thị trường, tăng kim ngạch xuất khẩu; tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với nhà nước, các FTA thế hệ mới sẽ tạo động lực cho một làn sóng cải cách thể chế và hành chính mới, cải thiện môi trường kinh doanh và hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam; đồng thời là đòn bẩy giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế.

Trong trường hợp cần thiết, có thể trình cấp có thẩm quyền thực hiện soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Chương XII Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 để đảm bảo thực thi ĐƯQT.

– Hình thức của văn bản chuyển hóa ĐƯQT: Luật ĐƯQT và Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 cũng chưa quy định cụ thể hình thức của văn bản QPPL nội luật hóa ĐƯQT. Có thể lấy ví dụ: Tại phiên họp thứ 12 ngày 11/7/2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhất trí không áp dụng trực tiếp toàn bộ Nghị định thư 7 về hệ thống quá cảnh hải quan thuộc Hiệp định khung ASEAN nhằm tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh; đồng thời, giao Chính phủ ban hành Nghị định để thực hiện Nghị định thư 7 theo quy định tại Điều 95 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015.

Trong trường hợp khác, việc nội luật hóa lại được thực hiện bằng hình thức ban hành Luật của Quốc hội, như để chuyển hóa Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên và Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng; Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin.

Như vậy, có thể khẳng định các cam kết của Việt Nam theo một ĐƯQT có thể được chuyển hóa vào các quy định của nhiều loại văn bản khác nhau. Mặc dù điều này tạo ra sự linh hoạt để Việt Nam có thể chuyển hóa các cam kết một cách phù hợp với bối cảnh thực hiện nhưng cũng có thể gây ra sự phức tạp đối với doanh nghiệp trong quá trình áp dụng, khi họ không thể biết chính xác văn bản QPPL nào đã chuyển hóa cam kết nào của Việt Nam.

– Thời điểm nội luật hóa các cam kết: Với cách thức nội luật hóa trên, các cam kết không được nội luật hóa đồng thời, mà ngược lại, rải rác ở nhiều thời điểm khác nhau và tại nhiều văn bản khác nhau gây khó khăn bất cập trong quá trình thực thi cam kết.

Như vậy, việc nội luật hóa rải rác và có độ trễ về thời gian có thể gây ra những khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Việt Nam, nhất là đối với các tổ chức kinh doanh dịch vụ chuyên môn nước ngoài. Khi các điều kiện về tiếp cận thị trường trong các FTA chưa được nội luật hóa, nhà đầu tư nước ngoài sẽ khó có thể yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước cho phép, hoặc cho đăng ký kinh doanh những ngành nghề đó.

Tuy vậy, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 vẫn hàm chứa một số điểm chưa tương thích hoặc chưa chuyển hóa đầy đủ các quy định của WTO và FTA về phòng vệ thương mại. Ví dụ như: khoản 1 Điều 91 của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 chưa nội luật hóa đầy đủ khái niệm về biện pháp tự vệ theo điều XIX của Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) năm 1994 và Điều 2 của Hiệp định Tự vệ của WTO.

Từ ví dụ trên, có thể dẫn đến nguy cơ Việt Nam không tuân thủ hoàn toàn các cam kết của mình theo các FTA. Mặc dù, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật ĐƯQT năm 2016, các quy định của FTA sẽ được ưu tiên áp dụng khi quy định của nội luật khác với quy định của FTA, nhưng cũng không loại trừ khả năng cơ quan nhà nước chỉ áp dụng quy định của nội luật, điều này dẫn đến nguy cơ Việt Nam có thể bị các nhà đầu tư khởi kiện, do vi phạm các cam kết quốc tế.

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa tại Việt Nam

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác nội luật hóa ĐƯQT, Việt Nam cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, rà soát các quy trình, thủ tục trùng lắp giữa Luật ĐƯQT và Luật Ban hành văn bản QPPL trong quá trình đàm phán, ký kết ĐƯQT và soạn thảo văn bản QPPL để xây dựng quy trình riêng cho việc xây dựng văn bản QPPL, đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả trong công tác nội luật hóa ĐƯQT.

Việc chuyển hóa FTA thế hệ mới vào nội luật không phải là một công việc đơn giản, đòi hỏi sự tham gia và đồng hành của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như của cộng đồng doanh nghiệp. Trong thời gian qua, về cơ bản, quá trình này đã được Việt Nam thực hiện khá tốt.

Thứ hai, quy định rõ hình thức văn bản nội luật hóa các ĐƯQT. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, hình thức văn bản luật của Quốc hội là hình thức được sử dụng thống nhất trong nội luật hóa các ĐƯQT. Tuy nhiên, do quy trình xây dựng Luật thường mất nhiều thời gian, nên để kịp thời chuyển hóa ĐƯQT thì có thể thực hiện linh hoạt theo hướng quy định nhiều hình thức văn bản QPPL để nội luật hóa ĐƯQT (như luật, nghị định, thông tư…), nhưng cần có quy định nguyên tắc, điều kiện áp dụng đối với từng hình thức văn bản QPPL sử dụng để nội luật hóa ĐƯQT.

Thứ tư, nâng cao hơn nữa công tác rà soát văn bản QPPL. Việc rà soát văn bản QPPL nhằm phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật, tính hiệu lực của văn bản để kịp thời xử lý, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Công tác rà soát pháp luật phải được quan tâm thực hiện liên tục ngay cả trước, trong và sau khi nội luật hóa.

Có thể thấy, việc chuyển hóa FTA thế hệ mới vào nội luật không phải là một công việc đơn giản, đòi hỏi sự tham gia và đồng hành của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như của cộng đồng doanh nghiệp. Trong thời gian qua, về cơ bản, quá trình này đã được Việt Nam thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, một số tồn tại trên có thể tạo thành những thách thức trong tương lai gần, do đó, Việt Nam cần quan tâm để có giải pháp ứng phó kịp thời.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương; Tài liệu Chương trình tập huấn “Thể chế hóa các cam kết quốc tế về tài chính của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do” do Bộ Tài chính và USAID (Mỹ) tổ chức tại Ninh Bình tháng 10/2018; Thách thức từ thực tiễn nội luật hóa các quy định trong Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới, trungtamwto.vn; Lê Thị Thúy (2017), Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Nghị Định Sửa Đổi Nghị Định 181/2013/Nđ

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 181/2013/NĐ-CP NGÀY 14/11/2013 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢNG CÁO

d) Thực hiện việc ngăn chặn, gỡ bỏ xử lý thông tin vi phạm theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng có thẩm quyền;

b) Tuân thủ quy định của pháp luật về thuế;

a) Tên tổ chức theo đăng ký, tên giao dịch, tên quốc gia đăng ký hoạt động của tổ chức hoặc tên cá nhân cung cấp dịch vụ;

b) Địa chỉ trụ sở chính của tổ chức hoặc địa chỉ thường trú, quốc tịch của cá nhân sở hữu trang thông tin điện tử và địa điểm đặt hệ thống máy chủ chính cung cấp dịch vụ;

c) Đầu mối liên hệ của tổ chức, cá nhân nước ngoài và đầu mối liên hệ tại Việt Nam bao gồm: tên tổ chức, cá nhân, địa chỉ email, điện thoại liên hệ.

d) Tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi thông báo đến Bộ Thông tin và Truyền thông bằng một trong các hình thức sau: Gửi thông báo trực tiếp, qua đường bưu chính hoặc qua mạng I nternet .

Điều 2. Điều khoản thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày tháng năm … .

3. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

4 . Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này ./.

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;Nơi nhận: – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; – Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; – Văn phòng Tổng Bí thư; – Văn phòng Chủ tịch nước; – Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; – Văn phòng Quốc hội; – Tòa án nhân dân tối cao; – Viện kiểm sát nhân dân tối cao; – Kiểm toán nhà nước; – Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; – Ngân hàng Chính sách xã hội; – Ngân hàng Phát triển Việt Nam; – Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; – Cơ quan trung ương của các đoàn thể; – VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; – Lưu: VT, KGVX (2b).

Nghị Định Là Gì? Cơ Quan Ban Hành Nghị Định?

Nghị định là một trong những loại văn bản thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, chủ thể có thẩm quyền ban hành chủ yếu ở đây là Chính phủ, ban hành ra để giải thích, hướng dẫn luật hoặc những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội mà chưa có quy định của pháp luật để điều chỉnh

Đồng thời Nghị định còn quy định các quyền và những vụ của công dân được hưởng theo nội dung của Hiến pháp và Luật.

Các vấn đề trong Nghị định được Chính phủ ban hành gồm các nội dung như:

+ Giải thích chi tiết nội dung các điều, khoản, điểm trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Nghị quyết Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, pháp lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

+ Triển khai các biện pháp mang tính cụ thể để thi hành Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội…

+ Đưa ra các biện pháp cụ thể để tiến hành triển khai nội dung chính sách các lĩnh vực như Kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, tài chính, ngân sách, văn hóa giáo dục

+ Quy định những vấn đề quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của hai hoặc nhiều bộ, cơ quan ngang bộ

+ Những vấn đề phát sinh nhưng thẩm quyền giải quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng lại chưa được phát triển thành luật thì khi đó sẽ ban hành Nghị quyết để tạm thời khắc phục vấn đề cho đến khi có Luật ra đời.

Cơ quan ban hành nghị định?

Hiện nay theo quy định tại điều 19 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định Chính phủ là chủ thể duy nhất có quyền ban hành ra Nghị định. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở nước ta, trực tiếp quyền hành pháp, dưới Chính phủ còn có các bộ và cơ quan ngang bộ. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ thì có thể thấy Chính phủ là cơ quan duy nhất có quyền ban hành Nghị định.

Nghị định có hiệu lực khi nào?

– Hiện nay không có bất cứ một điều luật cụ thể nào quy định chung về thời điểm phát sinh hiệu lực của Nghị định

– Theo như phân tích ở nội dung phía trên thì Nghị định được Chính phủ ban hành nhằm triển khai thực hiện hoặc đưa ra các giải pháp đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực Kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế…. mới phát sinh mà luật chưa có quy định hoặc chưa đủ điều kiện để xây dựng thành luật

– Do vậy, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, cấp bách mà thời điểm phát sinh lực của Nghị định quy định các vấn đề khác nhau là khác nhau

– Trong mỗi Nghị định thì thông thường nội dung của điều cuối cùng trong Nghị định sẽ quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực

– Tuy nhiên trong một số trường hợp ngoài lệ, Nghị quyết được ban hành theo thủ tục rút gọn thì ngày phát sinh hiệu lực có thể chính là ngày Nghị định được thông qua hoặc ký ban hành

Ví dụ:

– Trong Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm giao thông đường bộ, đường sắt được ban hành vào ngày 30/12/2019 thì tại Điều 84 của Nghị định quy định về hiệu lực thi hành là từ ngày 1/1/2020

Nguyên nhân Nghị định 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành chỉ sau 2 ngày ban hành là để kịp thời khắc phục “chỗ trống” của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP

– Trong Nghị định số 76/2019/NĐ-CP về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động….vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được ban hành ngày 8/10/2019, thì tại điều 16 hiệu lực thi hành sẽ bắt đầu vào ngày 1/12/2019, tức là sau gần 2 tháng ban hành thì văn bản mới có hiệu lực.

Nghị định có phải là văn bản dưới luật không?

Trước tiên phải khẳng định Nghị định do Chính phủ ban hành là văn bản có giá trị pháp lý dưới luật

– Căn cứ vào việc Nghị định được ban hành để nhằm giải thích chi tiết nội dung của Luật, Nghị quyết, pháp lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; triển khai thi hành Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội…

Là giải thích, triển khai thực hiện các văn văn quy phạm pháp luật đã được ban hành và phát sinh hiệu lực trước đó

– Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì Nghị định của Chính phủ là văn bản dưới:

+ Hiến pháp do Quốc hội ban hành

+ Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành

+ Pháp lệnh, Nghị quyết do UBTVQH ban hành

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Tác giả

Phạm Kim Oanh

Bà Oanh hiện đang làm việc tại Bộ phận Sở hữu trí tuệ của Công ty Hoàng Phi phụ trách các vấn đề Đăng ký xác lập quyền cho khách hàng trong lĩnh vực sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đây là một trong những dịch vụ khó, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của người tư vấn.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”