Top 1 # Nghị Quyết 27 Nq Tw Về Chính Sách Tiền Lương Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

“Cải Cách Chính Sách Tiền Lương Và Bhxh Theo Nq 27 Và 28

Giao lưu trực tuyến:

Đây là một trong những hoạt động thiết thực của Báo Lao động Thủ đô và LĐLĐ quận Hoàn Kiếm tiếp tục thực hiện mục tiêu “Vì lợi ích đoàn viên” của tổ chức Công đoàn, chào mừng các ngày lễ lớn của Thủ đô, đất nước, chào mừng thành công Đại hội XII Công đoàn Việt Nam.

Tới dự buổi giao lưu trực tuyến “Cải cách chính sách tiền lương và BHXH theo NQ 27 và 28-NQ/TƯ 7 khóa XII” có các đồng chí: TS. Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Chủ tịch LĐLĐ Thành phố; Dương Đức Tuấn, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Hoàn Kiếm; Đinh Hồng Phong, Ủy viên ban thường vụ Quận ủy, Phó Chủ tịch thường trực UBND quận Hoàn Kiếm; Lê Hồng Phú, Ủy viên ban thường vụ quận ủy, Chủ tịch UBMT Tổ quốc quận Hoàn Kiếm; Lê Thị Bích Ngọc, Ủy viên Ban thường vụ LĐLĐ Thành phố, TBT báo Lao động Thủ đô; Lê Hoàng Thủy Vân Chủ tịch LĐLĐ Hoàn Kiếm.

Tham gia giao lưu, trả lời những thắc mắc trực tiếp của công nhân lao động cũng như bạn đọc trực tuyến qua internet có TS Nguyễn Xuân Thu- Phó Giám đốc Học viện Tư pháp và bà Nguyễn Thị Oanh – Phó trưởng phòng chính sách Tiền lương và bảo hiểm xã hội, Sở Lao động, thương binh và xã hội Hà Nội.

Phát biểu khai mạc buổi Giao lưu, đồng chí Lê Thị Bích Ngọc – Ủy viên Thường vụ LĐLĐ Thành phố Hà Nội, Tổng Biên tập báo Lao động Thủ đô cho biết: Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội. Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống san sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiền lương và bảo hiểm xa hội là hai chính sách quan trọng ảnh hưởng đến đông đảo người lao động, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo thực hiện thông qua nhiều Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật.

Nhiều chính sách về tiền lương và BHXH đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân trong công tác an sinh xã hội, bảo đảm tiến độ và công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Hội nghị Trung ương 7 khóa 12 đã ban hành Nghị quyết số 27 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Nghị quyết số 28 về cải cách chính sách BHXH; Đây là hai chính sách người lao động đặc biệt quan tâm. Mặc dù là quyền lợi sát sườn nhưng để hiểu cải cách tiền lương và BHXH cụ thể như thế nào, theo hướng nào thì không phải CNVCLĐ nào cũng nắm được.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình, nhằm phản ánh kịp thời và truyền tải rộng rãi những điểm mới của cải cách chính sách tiền lương và BHXH, báo LĐTĐ phối hợp với Liên đoàn lao động quận Hoàn Kiếm đã mời các chuyên gia là luật sư và cán bộ chính sách của Sở Lao động thương binh và xã hội Hà Nội có kinh nghiệm về chính sách tiền lương và BHXH tham gia buổi giao lưu.

Với kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng của mình, các chuyên gia sẽ truyền đạt, hướng dẫn và giải đáp các vấn đề về cải cách tiền lương và BHXH mà các công nhân, viên chức lao động quan tâm.

Tại buổi giao lưu trực tuyến, đồng chí Lê Hoàng Thủy Vân – Ủy viên BCH LĐLĐ TP. Hà Nội, Quận ủy viên, Chủ tịch LĐLĐ quận Hoàn Kiếm cũng cho biết, đây là lần đầu tiên LĐLĐ quận phối hợp với Báo Lao động Thủ đô tổ chức tuyên truyền nghị quyết số 27, 28 đến đông đảo cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ là việc làm mới, sáng tạo, nhằm đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, của các cấp công đoàn quận góp phần thực hiện, thắng lợi nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp, nghị quyết Đại hội XVI Công đoàn TP. Hà Nội và nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, tiếp tục thực hiện “Năm nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”; “Năm vì lợi ích của đoàn viên công đoàn” và hưởng ứng “Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2018”.

Trong nhiều năm qua, thực hiện chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ, LĐLĐ quận Hoàn Kiếm đã có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực hiệu quả. Đặc biệt, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động giáo dục và tư vấn pháp luật miễn phí cho người lao động về các chế độ chính sách pháp luật; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bộ Luật lao động, Luật an toàn vệ sinh lao động, Luật phòng cháy chữa cháy….

Đến dự và phát biểu tại buổi giao lưu, TS Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, Ủy viên ban thường vụ Thành ủy, Chủ tịch LĐLĐ Thành phố đánh giá, với thế mạnh và kinh nghiệm của mình trong hơn 30 năm qua, bên cạnh việc không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng tờ báo, Báo Lao động Thủ đô cũng tích cực phối hợp với các cấp công đoàn Thủ đô tổ chức nhiều buổi giao lưu trực tuyến nhằm cung cấp các thông tin pháp luật thiết thực cho CNVLĐ. “Hoạt động giao lưu trực tuyến đã trở thành thương hiệu của báo Lao động Thủ đô”- Chủ tịch Nguyễn Thị Tuyến đánh giá.

Chủ tịch Nguyễn Thị Tuyến trân trọng cảm ơn lãnh đạo quận Hoàn Kiếm và các chuyên gia đã đồng hành với báo Lao động Thủ đô mang kiến thức pháp luật đến với người lao động và đề nghị các cán bộ, đoàn viên CNVCLĐ mạnh dạn đặt các câu hỏi để được chuyên gia giải đáp kỹ càng và đề nghị báo Lao động Thủ đô tiếp tục tổ chức thêm nhiều các buổi giao lưu trực tuyến, tạo kênh thông tin thiết thực, hữu ích cho người lao động cập nhật kiến thức pháp luật.

8h30: Các chuyên gia trả lời câu hỏi của CNVCLĐ về BHXH và chế độ tiền lương:

Anh Doanh (một cự chiến binh, Chủ tịch Công đoàn Công ty T&T): Tôi đã nghỉ hưu và hiện đang đi làm thêm cho một công ty, được lĩnh lương theo thỏa thuận lương tròn. Tôi xin hỏi ngày lễ, tết, tôi có được hưởng thêm các chế độ khác không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh – Phó trưởng phòng chính sách Tiền lương và BHXH, Sở LĐTB&XH Hà Nội: Theo quy định của Bộ luật lao động và Nghị định số 05 hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động, với những hợp đồng không thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội, thì người sử sụng lao động chi trả các khoản nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Chế độ ngày lễ, tết với quyền lợi lễ, tết thời gian nghỉ của người lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật do vậy với những thỏa thuận không mang tính bắt buộc ở những vị trí thuộc công việc khác nhau sẽ do hai bên thỏa thuận.

TS. Nguyễn Xuân Thu – PGĐ Học viện Tư Pháp bổ sung: Thời gian nghỉ lễ, tết thì do thỏa thuận của Công ty với người lao động và sẽ do hai bên thương lượng. Nếu công ty có yêu cầu anh làm thêm giờ vào ngày lễ, tết thì anh sẽ được nhận thêm phần tiền làm thêm giờ là 300%.

Vũ Chí Kiên (Công ty cổ phần Yên Đức): Nghe nói sắp tới NLĐ phải đóng BHXH tới 70% mức thu nhập có đúng không? Số tiền này do người sử dụng lao động đóng bao nhiêu phần trăm và NLĐ phải đóng bao nhiêu phần trăm? Xin chuyên gia cho biết?

TS Nguyễn Xuân Thu: Trên tinh thần Nghị quyết số 28, Hội nghị Trung ương 7 thông qua ngày 23/5/2018, một trong những nội dung của Nghị quyết là từ năm 2021 trở đi nhằm khắc phục tình trạng trốn đóng, đóng không đủ BHXH, ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ thì tới đây, chính sách BHXH sẽ có bước sửa đổi quy định về căn cứ đóng BHXH của khu vực doanh nghiệp ít nhất bằng khoảng 70% tổng tiền lương và các khoản thu nhập khác có tính chất lương của NLĐ.

Tuy nhiên đây mới chỉ là chủ trương được thể hiện trong Nghị quyết. Về mức đóng mà người lao động phải đóng thì hiện nay chưa có quy định cụ thể cần chờ thể chế hóa của Nhà nước. Hiện tại tinh thần của Nghị quyết 28 đó là đảm bảo cân bằng giữa mức đóng bảo hiểm của doanh nghiệp và người lao động sao cho phù hợp để làm hài hòa giữa doanh nghiệp và người lao động.

Chị Bùi Thị Nguyệt, Chủ tịch Công đoàn Công ty Điện tử Hoàn Kiếm: Tôi nghe thông tin là Chính phủ sắp sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo mức độ giảm dần từ 20 năm xuống còn 15 năm, nếu tôi đóng bảo hiểm 15 năm thì có được về hưu không và mức hưởng lương hưu như thế nào?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Khoản 2 Điều 56 Luật BHXH năm 2014 quy định, từ 01/01/2018, mức lương hưu hàng tháng của người lao động vẫn được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH.

Theo đó, lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ 2022 trở đi là 20 năm. Trong khi đó, lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi, số năm đóng BHXH được tính là 15 năm. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng, người lao động được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Theo quy định này, từ ngày 01/01/2018 trở đi, lao động nữ muốn được hưởng mức lương hưu tối đa là 75% sẽ phải tham gia đóng BHXH đủ 30 năm (tăng thêm 05 năm so với trước khi điều chỉnh).

TS. Nguyễn Xuân Thu bổ sung: Với quy định hiện nay, nếu đóng bảo hiểm 15 năm thì đủ điều kiện hưởng lương hưu một lần.

Chị Trần Thị Thu Hằng, giáo viên Trường THCS Trưng Vương: Con tôi 6 tuổi bị ốm phải nhập viện 7 ngày và tôi nghỉ làm để chăm sóc cháu. Vậy, tôi có được nhận tiền BHXH trong thời gian nghỉ làm 7 ngày đó không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Theo quy định của BHXH, cụ thể tại Điều 25 Luật BHXH thì thời gian mẹ nghỉ chăm con ốm vẫn được nhận BHXH nhưng chị phải hoàn tất hồ sơ nhận BHXH và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Tại khoản 1 Điều 100 Luật BHXH quy định hồ sơ hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau là bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp con của người lao động điều trị nội trú. Trường hợp con của người lao động điều trị ngoại trú phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH.

Nguyễn Minh – công tác trong ngành Ngân hàng: Xin hỏi các chuyên gia, trong trường hợp một lao động nam hết 31/12/2018 được 55 tuổi và đã đóng BHXH được 36 năm, tuy nhiên lao động này bị đột quỵ nên muốn xin nghỉ hưu trước tuổi, trong trường hợp này, lao động nam có được hưởng lương hưu hay không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Việc nghỉ hưu hưởng chế độ được căn cứ trên 2 điều kiện về tuổi đời và năm công tác. Trong trường hợp này, lao động nam đã đóng BHXH được 36 năm tức là đủ thời gian công tác nhưng lại chưa đủ tuổi đời. Vì lao động nam bị đột quỵ sức khỏe yếu nên có thể đi giám định sức khỏe, nếu sức khỏe tổn hại từ 61% trở lên thì sẽ được nghỉ hưu trước tuổi hưởng lương hưu, nếu giám định không đạt kết quả trên hoặc không đi giám định thì phải chờ đến đủ tuổi đời mới được nghỉ hưu hưởng BHXH, nếu không chờ mà nghỉ hưu sớm thì sẽ bị trừ phần trăm cho số năm nghỉ hưu trước tuổi, ở đây là 5 năm.

Chị Phan Lê Mai – Công ty Đồng Xuân đặt câu hỏi tại buổi giao lưu.

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, xét về năm sinh đến tháng 5/2018, bố bạn sẽ được 50 tuổi. Xét về năm sinh bố bạn được 50 tuổi, nếu bố bạn đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc trong điều kiện hầm lò sẽ đủ điều kiện. Nếu không phải trong hầm lò thì lao động sẽ được nghỉ hưu khi đủ 55-60 tuổi.

TS Nguyễn Xuân Thu bổ sung: nếu trong trường hợp lao động được 50 tuổi như trường hợp của bạn và không có 15 năm làm trong môi trường hầm lò có thể đi giám định khẳ năng lao động. Nếu kết quả giám định sức khỏe dưới 81% vẫn có thể đủ điều kiện nghỉ hưu.

Một giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Du hỏi: Mẹ nghỉ chăm sóc con có bị trừ lương không?

TS. Nguyễn Xuân Thu: Về nguyên tắc, chị sẽ không được nhận lương do không đi làm vì chúng ta đi làm thì chúng ta mới được hưởng lương. Những ngày nghỉ chăm con, chị sẽ được nhận trợ cấp của bảo hiểm xã hội.

Một CNVCLĐ hỏi: Lao động nam tham gia BHXH được hưởng chế độ khi vợ sinh con như thế nào?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Khi có vợ sinh con, thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ của người chồng là 05 ngày làm việc với sinh thường 1 con; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc với trường hợp sinh đôi, từ sinh ba thì thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc, tối đa không quá 14 ngày làm việc;

Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc; Thời gian hưởng chế độ không tính ngày lễ, tết, nghỉ hàng tuần (Lưu ý: NLĐ nghỉ hưởng chế độ trong vòng 30 ngày kể từ ngày vợ sinh con, nếu có nghỉ những ngày trước khi vợ sinh con thì tính là nghỉ không lương, nghỉ phép của NLĐ).

Ngoài ra, người chồng được hưởng trợ cấp 1 lần khi thỏa mãn điều kiện: người chồng có vợ không tham gia BHXH, không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản. Người chồng phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi vợ sinh; Mức trợ cấp 1 lần = 2 x Lương cơ sở tháng.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thu bổ sung: Trong các trường hợp sau người cha được nhận bảo hiểm: Trường hợp 1: Nếu cả cha mẹ tham gia bảo hiểm, người mẹ được nhận chế độ thai sản đúng theo luật trong khi đó người mẹ bị mất trong quá trình sinh thì cha sẽ được hưởng chế độ thai lương;

Trường hợp 2: Người mẹ không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản theo luật, nếu mẹ sống thì sẽ phải tự nuôi con mà không được hưởng chế độ, nếu mẹ mất thì cha sẽ được hưởng bảo hiểm nuôi con.

Trường hợp 3: Người mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng mất sau sinh con thì người cha sẽ được nhận 2 tháng trợ cấp mua đồ để nuôi con.

Phạm Văn Thắng – quận Hoàn Kiếm: Tôi ký hợp đồng lao động lao động với doanh nghiệp thời hạn 3 năm đã đóng BHXH 2 năm 6 tháng thì có quyết định đi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Xin hỏi trong trường hợp này tôi có được hưởng chế độ gì không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Trong trường hợp này, người lao động và doanh nghiệp có thể thỏa thuận hoãn hợp đồng lao động để đi thực hiện nghĩa vụ quân sự, thời gian đóng BHXH được bảo lưu đến khi hết nghĩa vụ quân sự thì người lao động trở về và doanh nghiệp tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã tạm hoãn và tiếp tục đóng tham gia BHXH.

TS Nguyễn Xuân Thu bổ sung: trường hợp bạn có lệnh thực hiện nghĩa vụ quân sự thì chỉ cần đưa lệnh này ra buộc doanh nghiệp phải thực hiện hoãn hợp đồng chứ không cần thỏa thuận. Khi hết nghĩa vụ quân sự trở về, bạn đương nhiên được tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với vị trí công việc trước đây và tiếp tục đóng BHXH.

Trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc vì lý do nào đó, không thể tiếp tục cho bạn làm công việc cũ mà phải chuyển công việc mới thì trường hợp này người lao động có quyền đồng ý hoặc từ chối công việc mới, nhưng cũng cần linh hoạt, không nên cố tình đòi hỏi công việc như trước đây nếu điều kiện của doanh nghiệp đã thay đổi.

Công nhân Phạm Thị Huyền: Lương theo doanh số, kết quả kinh doanh có được đóng bảo hiểm không? Chế độ đóng BHXH 1/1/2018 có sư thay đổi gì không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Phần lớn các doanh nghiệp tách ra 2 bảng lương gồm lương đóng BHXH và lương kinh doanh không đóng BHXH.

Theo quy định tại Điều 90 của Bộ luật Lao động thì tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Quy định không phân cấp giữa lương kinh doanh và lương đóng BHXH trong khi đó trên thực tế tại các doanh nghiệp lương kinh doanh chiếm tỉ trọng lớn, các doanh nghiệp đẩy vào lương kinh doanh nhiều để không phải đóng BHXH.

Đề nghị Công ty căn cứ các quy định nêu trên để thỏa thuận với người lao động về tiền lương ghi trong hợp đồng lao động theo đúng quy định. Cách ghi tiền lương trong hợp đồng lao động thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 1/12/2015 của Chính phủ.

Đổi với vấn đề chế đô đóng BHXH từ 1/1/2018 dựa vào các căn cứ: lương chức danh + phụ cấp + Bổ sung khác (trong đó có một số không phải đóng BHXH theo quy định)

Nguyễn Thu Thanh, trường mầm non Bà Triệu: Một chị cán bộ trong cơ quan tôi sinh tháng 9/1963, tháng 10/2018 này chị được nghỉ hưu. Trong quá trình làm việc từ năm 2011 đến năm 2017, chị ấy liên tục được tặng bằng khen, chiến sỹ thi đua cấp cơ sở và đã được nâng lương trước thời hạn 3 lần liên tiếp. Tôi nghe một số người nói, việc nâng lương như vậy là sai, có phải thế không, thưa chuyên gia?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chế độ nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức thì trường hợp chị bạn của chị là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan Nhà nước đã lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, được cấp có thẩm quyền quyết định công nhận bằng văn bản được nâng lương trước hạn là đúng.

Tuy nhiên cũng theo Điểm d, Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 08/2013/TT-BNV hướng dẫn số lần được nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, như sau: Không thực hiện hai lần liên tiếp nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ trong cùng ngạch hoặc cùng chức danh.

Căn cứ điều này, trường hợp nữ cán bộ mà chị hỏi nếu chỉ làm việc trong một ngạch và giữ một chức danh trong suốt thời gian công tác mà có 3 lần liên tiếp được nâng lương trước thời hạn là trái quy định. Nếu chị ấy thay đổi chức danh hoặc ngạch công tác thì có thể được nâng lương trước thời hạn nhiều hơn 1 lần khi có thành tích xuất sắc.

Cán bộ nhân sự doanh nghiệp hỏi: Tôi làm cán bộ nhân sự của một doanh nghiệp, tôi xin hỏi các chuyên gia, ngày lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp, vậy người lao động đi làm vào ngày nghỉ bù đó thì tính lương thế nào, có được sắp xếp nghỉ bù nữa không? Tôi dự định đề xuất với công ty khi người lao động đi làm vào ngày nghỉ bù Chủ nhật (do Chủ nhật trùng vào ngày lễ) được trả 200% tiền lương và sắp xếp 1 ngày nghỉ không lương khác cho nhân viên trong tháng thì có đúng quy định không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Khoản 5, Điều 25 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định, người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần quy định tại Điều 110 Bộ luật Lao động được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết. Người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ bù khi ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần theo quy định tại Khoản 3, Điều 115 của Bộ luật Lao động được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần.

Điểm b, Khoản 1, Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định, người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần được trả lương ít nhất bằng 200% tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm.

Như vậy, trường hợp công ty chị làm việc bố trí người lao động làm việc vào ngày nghỉ bù ngày nghỉ hàng tuần trùng vào ngày lễ, tết (ngày kế tiếp ngày lễ, tết) thì phải trả lương làm thêm giờ cho người lao động bằng ít nhất 200% tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc mà công ty đang áp dụng.

Căn cứ quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 106 Bộ luật Lao động được hướng dẫn tại Khoản 3, Điều 4 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ thì, sau mỗi đợt làm thêm tối đa 7 ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động nghỉ bù số thời gian đã không được nghỉ. Trường hợp không bố trí nghỉ bù đủ số thời gian thì phải trả lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động.

Trường hợp không huy động làm thêm tối đa 7 ngày liên tục trong tháng và đã trả lương cho người lao động làm việc vào ngày nghỉ bù ngày nghỉ hàng tuần trùng với ngày lễ, tết theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 97 của Bộ luật Lao động, bằng 200% tiền lương, thì không cần thiết bố trí ngày nghỉ bù không hưởng lương cho người lao động nữa.

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thu bổ sung: Nếu trong trường Doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trước và hoán đổi ngày làm việc trong tuần thay bằng ngày nghỉ thì người lao động sẽ không được hưởng 200%.

Anh Vũ Xuân Trường – Chủ tịch Công đoàn Công ty Sách Hà Nội hỏi 2 vấn đề: 1 là, bạn tôi là là nam (năm nay 54 tuổi), đã đóng bảo hiểm được 34 năm, vậy có được về hưu hay không? 2 là, một bạn nữ (năm nay 52 tuổi) đã đóng bảo hiểm được 26 năm, năm 2019 muốn về hưu thì có được không và sẽ được nhận mức lương bao nhiêu phần trăm?

TS. Nguyễn Xuân Thu: Theo quy định tại Luật BHXH năm 2014 thì người nam bạn anh thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã đủ nhưng tuổi nghỉ hưu chưa đủ. Vậy nếu muốn nghỉ hưu cần phải giám định sức khỏe, nếu sức khỏe bị giảm trừ còn từ 61% trở lên thì được nghỉ hưu khi suy giảm khả năng lao động.

Đối với người bạn nữ của anh cũng như vậy, cũng chưa đủ tuổi nghỉ hưu mặc dù thời gian đóng BHXH đã đủ nên cũng cần phải giảm định sức khỏe. Nếu đủ điều kiện thì mới được nghỉ hưu.

Chị Đinh Thị Lan – giáo viên Trường THCS Trưng Vương hỏi: Xin cho biết thế nào là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Điều 37 của Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Một giáo viên hỏi: Trường em có một chú bảo vệ là thương bệnh binh đang ký hợp đồng 6 tháng, vậy chú có phải đóng bảo hiểm y tế không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Người bảo vệ này đã có BHYT của thương bệnh binh mà theo quy định thì có BHYT ồi thì không phải đóng thêm BHYT tại trường nữa. Còn nếu BHXH vẫn yêu cầu phải đóng BHYT thì người lao động hoặc nhà trường nên gửi đơn hoặc công văn lên cơ quan bảo hiểm yêu cầu giải thích rõ.

Một nữ cán bộ hỏi: Người lao động ký hợp đồng dài hạn được chiến sĩ thi đua 1 -2 năm có được tăng lương hay không? Có quy định nào về vấn đề này không?

Chuyên gia Nguyễn Thị Oanh: Khi người lao động kí hợp đồng lao động vấn đề nâng lương được thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Ngoài ra căn cứ vào cơ chế của doanh nghiệp quy định điều kiện nâng lương không bị khống chế 1 lần/năm

TS. Nguyễn Xuân Thu bổ sung: Nhà nước không quy đinh doanh nghiệp bắt buộc phải tăng lương, tuy nhiên xét vào quy định 49 năm 2013 mỗi lần tăng bậc lương sẽ tăng 5% so với lần tăng trước. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng mức tăng như vậy sẽ tạo gánh nặng cho doanh nghiệp, theo đó hiện nay đang đưa 2 hướng giải quyết: thứ nhất, bỏ tăng quy định tăng 5% để cho doanh nghiệp tự cân đối thỏa thuận với người lao động; thứ hai, đưa ra một khung không phải 5% mà có thể giảm xuống 2-3%

Bạn đọc có thể tiếp tục gửi các câu hỏi, những băn khoăn, thắc mắc đến báo Lao động Thủ đô qua hộp thư điện tử của báo Lao động Thủ đô. Báo Lao động Thủ đô sẽ là cầu nối chuyển câu hỏi của các bạn tới các chuyên gia, đại diện các ban, ngành chức năng để giải đáp, và sẽ đăng tải thông tin trả lời qua chuyên mục tư vấn pháp luật trên báo giấy Lao động Thủ đô cũng như báo điện tử chúng tôi hoặc trả lời bằng văn bản tới CNVCLĐ.

Nguồn :

Những Điểm Mới Của Nghị Quyết 27 Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Về mục tiêu cải cách tiền lương Từ năm 2018 đến năm 2020:

Đối với khu vực công: Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

Đối với khu vực doanh nghiệp, thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030:

Đối với khu vực công: Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị. Theo đó, năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp. Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp. Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.

Đối với khu vực doanh nghiệp: Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030.

Nội dung cải cách

Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương

Toàn cảnh Hội nghị Trung ương 7. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khóa IX về Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2003-2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng các khóa X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27-5-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI.

Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, chính sách tiền lương từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

2. Bên cạnh kết quả đạt được, chính sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; còn mang nặng tính bình quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa phát huy được nhân tài, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Quy định mức lương cơ sở nhân với hệ số không thể hiện rõ giá trị thực của tiền lương. Có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương do nhiều cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ. Chưa phát huy được quyền, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

3. Những hạn chế, bất cập nêu trên có nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế… nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Số đơn vị sự nghiệp công lập tăng nhanh, số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước còn quá lớn. Việc xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và trả lương. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, hệ thống thông tin thị trường lao động, tiền lương, năng lực thương lượng về tiền lương của người lao động trong ký kết hợp đồng lao động và vai trò của tổ chức công đoàn trong các thỏa ước lao động tập thể còn hạn chế. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền về chính sách tiền lương chưa tốt, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện một số chính sách còn chưa tạo được đồng thuận cao.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH

1. Quan điểm chỉ đạo

1.1. Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế-xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

1.2. Cải cách chính sách tiền lương phải bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương hiện hành; tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và nguồn lực của đất nước.

1.3. Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

1.4. Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất để bảo vệ người lao động yếu thế, đồng thời là một trong những căn cứ để thỏa thuận tiền lương và điều tiết thị trường lao động. Phân phối tiền lương dựa trên kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

1.5. Cải cách chính sách tiền lương là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy cải cách hành chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

2.2. Mục tiêu cụ thể

(1) Từ năm 2018 đến năm 2020

a) Đối với khu vực công

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

(2) Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

a) Đối với khu vực công

– Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.

– Năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

– Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

– Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030.

3. Nội dung cải cách

3.1. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (khu vực công)

a) Thiết kế cơ cấu tiền lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương). Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp).

b) Xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng, gồm:

– Xây dựng 1 bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã theo nguyên tắc:

(1) Mức lương chức vụ phải thể hiện thứ bậc trong hệ thống chính trị; giữ chức vụ lãnh đạo nào thì hưởng lương theo chức vụ đó, nếu một người giữ nhiều chức vụ thì hưởng một mức lương chức vụ cao nhất; giữ chức vụ lãnh đạo tương đương nhau thì hưởng mức lương chức vụ như nhau; mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp trên phải cao hơn mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp dưới;

(2) Quy định một mức lương chức vụ cho mỗi loại chức vụ tương đương; không phân loại bộ, ngành, ban, uỷ ban và tương đương ở Trung ương khi xây dựng bảng lương chức vụ ở Trung ương; không phân biệt mức lương chức vụ khác nhau đối với cùng chức danh lãnh đạo theo phân loại đơn vị hành chính ở địa phương mà thực hiện bằng chế độ phụ cấp. Việc phân loại chức vụ lãnh đạo tương đương trong hệ thống chính trị để thiết kế bảng lương chức vụ do Bộ Chính trị quyết định sau khi đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

– Xây dựng 1 bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức áp dụng chung đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo; mỗi ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức có nhiều bậc lương theo nguyên tắc: Cùng mức độ phức tạp công việc thì mức lương như nhau; điều kiện lao động cao hơn bình thường và ưu đãi nghề thì thực hiện bằng chế độ phụ cấp theo nghề; sắp xếp lại nhóm ngạch và số bậc trong các ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, khuyến khích công chức, viên chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp viên chức phải gắn với vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức, viên chức thực hiện.

– Xây dựng 3 bảng lương đối với lực lượng vũ trang, gồm: 1 bảng lương sỹ quan quân đội, sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm hoặc cấp hàm); 1 bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật công an và 1 bảng lương công nhân quốc phòng, công nhân công an (trong đó giữ tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức hành chính như hiện nay).

c) Xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới

– Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới.

– Thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ) đối với những người làm công việc thừa hành, phục vụ (yêu cầu trình độ đào tạo dưới trung cấp), không áp dụng bảng lương công chức, viên chức đối với các đối tượng này.

– Xác định mức tiền lương thấp nhất của công chức, viên chức trong khu vực công là mức tiền lương của người làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp (bậc 1) không thấp hơn mức tiền lương thấp nhất của lao động qua đào tạo trong khu vực doanh nghiệp.

– Mở rộng quan hệ tiền lương làm căn cứ để xác định mức tiền lương cụ thể trong hệ thống bảng lương, từng bước tiệm cận với quan hệ tiền lương của khu vực doanh nghiệp phù hợp với nguồn lực của Nhà nước.

– Hoàn thiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang phù hợp với quy định của bảng lương mới.

d) Sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương

– Tiếp tục áp dụng phụ cấp kiêm nhiệm; phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp khu vực; phụ cấp trách nhiệm công việc; phụ cấp lưu động; phụ cấp phục vụ an ninh, quốc phòng và phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu).

– Gộp phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề và phụ cấp độc hại, nguy hiểm (gọi chung là phụ cấp theo nghề) áp dụng đối với công chức, viên chức của những nghề, công việc có yếu tố điều kiện lao động cao hơn bình thường và có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước (giáo dục và đào tạo, y tế, toà án, kiểm sát, thi hành án dân sự, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, hải quan, kiểm lâm, quản lý thị trường,…). Gộp phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút và trợ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thành phụ cấp công tác ở vùng đặc biệt khó khăn.

– Bãi bỏ phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu để bảo đảm tương quan tiền lương với cán bộ, công chức); phụ cấp chức vụ lãnh đạo (do các chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị thực hiện xếp lương chức vụ); phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị – xã hội; phụ cấp công vụ (do đã đưa vào trong mức lương cơ bản); phụ cấp độc hại, nguy hiểm (do đã đưa điều kiện lao động có yếu tố độc hại, nguy hiểm vào phụ cấp theo nghề).

– Quy định mới chế độ phụ cấp theo phân loại đơn vị hành chính đối với cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh.

– Thực hiện nhất quán khoán quỹ phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố trên tỉ lệ chi thường xuyên của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời, quy định số lượng tối đa những người hoạt động không chuyên trách theo từng loại hình cấp xã, thôn, tổ dân phố.

Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể chức danh được hưởng phụ cấp theo hướng một chức danh có thể đảm nhiệm nhiều công việc nhưng phải bảo đảm chất lượng, hiệu quả công việc được giao.

đ) Về cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng quỹ tiền lương và kinh phí chi thường xuyên được giao hằng năm để thuê chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và quyết định mức chi trả thu nhập tương xứng với nhiệm vụ được giao.

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xây dựng quy chế để thưởng định kỳ cho các đối tượng thuộc quyền quản lý, gắn với kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng người.

– Mở rộng áp dụng cơ chế thí điểm đối với một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tự cân đối ngân sách và bảo đảm đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương, các chính sách an sinh xã hội được chi thu nhập bình quân tăng thêm không quá 0,8 lần quỹ lương cơ bản của cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý.

– Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước được thực hiện cơ chế tự chủ tiền lương theo kết quả hoạt động như doanh nghiệp.

– Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên thì áp dụng chế độ tiền lương như công chức. Tiền lương thực trả gắn với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp viên chức do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định trên cơ sở nguồn thu (từ ngân sách nhà nước cấp và từ nguồn thu của đơn vị), năng suất lao động, chất lượng công việc và hiệu quả công tác theo quy chế trả lương của đơn vị, không thấp hơn chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.

3.2. Đối với người lao động trong doanh nghiệp

a) Về mức lương tối thiểu vùng

– Tiếp tục hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu vùng theo tháng; bổ sung quy định mức lương tối thiểu vùng theo giờ nhằm nâng cao độ bao phủ của tiền lương tối thiểu và đáp ứng tính linh hoạt của thị trường lao động.

– Điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình người hưởng lương, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị trường lao động và phát triển kinh tế-xã hội (cung-cầu lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, năng suất lao động, việc làm, thất nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp…).

– Kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Hội đồng Tiền lương quốc gia; bổ sung các chuyên gia độc lập tham gia Hội đồng.

b) Về cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập

– Các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) được tự quyết định chính sách tiền lương (trong đó có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước công bố và trên cơ sở thỏa ước lao động tập thể phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp và công khai tại nơi làm việc.

– Nhà nước công bố mức lương tối thiểu vùng theo tháng và theo giờ, tiền lương bình quân trên thị trường đối với các ngành nghề và hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường lao động, không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp. Doanh nghiệp và người lao động thương lượng, thỏa thuận tiền lương, ký hợp đồng lao động và trả lương gắn với năng suất và kết quả lao động. Doanh nghiệp và tổ chức đại diện người lao động thương lượng, thỏa thuận về tiền lương, tiền thưởng, các chế độ khuyến khích khác trong thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp. Tăng cường vai trò, năng lực của tổ chức công đoàn và công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước.

c) Đối với doanh nghiệp nhà nước

– Nhà nước quy định nguyên tắc chung để xác định tiền lương và tiền thưởng đối với doanh nghiệp nhà nước gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, hướng đến bảo đảm mặt bằng tiền lương trên thị trường. Thực hiện giao khoán chi phí tiền lương, bao gồm cả tiền thưởng trong quỹ lương gắn với nhiệm vụ, điều kiện sản xuất kinh doanh, ngành nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp; từng bước tiến tới thực hiện giao khoán, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh gắn với kết quả, hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp.

– Phân định rõ tiền lương của người đại diện vốn nhà nước với tiền lương của ban điều hành; thực hiện nguyên tắc ai thuê, bổ nhiệm thì người đó đánh giá và trả lương. Nhà nước quy định mức lương cơ bản, tiền lương tăng thêm và tiền thưởng theo năm gắn với quy mô, mức độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn nhà nước đối với người đại diện vốn nhà nước. Mức lương cơ bản được điều chỉnh phù hợp theo mức lương của thị trường trong nước và khu vực. Từng bước tiến tới thuê hội đồng thành viên độc lập và trả lương cho hội đồng thành viên, kiểm soát viên từ lợi nhuận sau thuế. Tổng giám đốc và các thành viên ban điều hành làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và hưởng lương trong quỹ lương chung của doanh nghiệp, trong đó có khống chế mức lương tối đa theo kết quả sản xuất kinh doanh và mức tiền lương bình quân chung của người lao động. Thực hiện công khai tiền lương, thu nhập hằng năm của người đại diện vốn nhà nước và tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước.

– Đối với doanh nghiệp làm nhiệm vụ bình ổn thị trường theo nhiệm vụ được Nhà nước giao thì tính toán, xác định để loại trừ những chi phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường, làm cơ sở xác định tiền lương, tiền thưởng của người lao động và người quản lý doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp dịch vụ công ích, Nhà nước tính đúng, tính đủ chi phí tiền lương phù hợp với mặt bằng thị trường vào chi phí, đơn giá sản phẩm, dịch vụ công ích. Nhà nước thực hiện chính sách điều tiết thu nhập bảo đảm hài hoà lợi ích giữa doanh nghiệp, người quản lý, người lao động và Nhà nước.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận cao ở các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách tiền lương.

2. Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương

– Trên cơ sở tổng kết việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức, viên chức; chọn lọc tiếp thu kinh nghiệm tốt của quốc tế, rà soát bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về vị trí việc làm và các tiêu chí đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức gắn với từng vị trí việc làm trong khu vực công để làm căn cứ tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và trả lương đối với cán bộ, công chức, viên chức.

3. Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới

– Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý chính sách tiền lương của toàn hệ thống chính trị. Bộ Chính trị quyết định chủ trương, nguyên tắc và giao Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo Chính phủ cụ thể hóa việc thống nhất quản lý, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền, ủy quyền cho cơ quan chức năng ban hành văn bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ Trung ương đến cấp xã.

– Sau khi báo cáo Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định việc phân loại chức vụ tương đương trong hệ thống chính trị làm căn cứ xây dựng bảng lương mới.

– Các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước xây dựng văn bản quy định chế độ tiền lương mới báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định trước khi ban hành, để từ năm 2021 thực hiện chuyển xếp lương cũ sang lương mới theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.

4. Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương

– Thực hiện quyết liệt và có hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về phát triển kinh tế tư nhân; về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết của Bộ Chính trị về cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công nhằm phát triển nguồn thu bền vững, tăng cường vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.

– Triển khai các nhiệm vụ cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm tổng nguồn thu và cơ cấu thu bền vững. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách thu theo hướng mở rộng cơ sở thuế, bao quát nguồn thu mới. Tăng cường quản lý thu, tạo chuyển biến căn bản trong việc chống thất thu, xử lý và ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất kinh doanh hàng giả, chuyển giá, trốn thuế. Thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước và đầu tư xây dựng cơ bản. Quyết liệt thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

– Hằng năm, dành khoảng 50% tăng thu dự toán và 70% tăng thu thực hiện của ngân sách địa phương, khoảng 40% tăng thu ngân sách Trung ương cho cải cách chính sách tiền lương.

– Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước; tiếp tục thực hiện tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên tăng thêm hằng năm cho đến khi thực hiện khoán quỹ tiền lương trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao.

– Nguồn thực hiện cải cách chính sách tiền lương còn dư sau khi bảo đảm điều chỉnh mức lương cơ sở hằng năm và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội do Trung ương ban hành (đối với ngân sách địa phương), các dự án đầu tư theo quy định (đối với các địa phương có tỉ lệ điều tiết) theo nghị quyết của Quốc hội phải tiếp tục sử dụng để thực hiện cải cách chính sách tiền lương sau năm 2020, không sử dụng vào mục đích khác khi không được cấp có thẩm quyền cho phép.

– Bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của cán bộ, công chức, viên chức có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước như: Tiền bồi dưỡng họp; tiền bồi dưỡng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án; hội thảo… Thực hiện khoán quỹ lương gắn với mục tiêu tinh giản biên chế cho các cơ quan, đơn vị. Mở rộng cơ chế khoán kinh phí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Không gắn mức lương của cán bộ, công chức, viên chức với việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chính sách, chế độ không có tính chất lượng. Nghiên cứu quy định khoán các chế độ ngoài lương (xe ô tô, điện thoại…). Chỉ ban hành các chính sách, chế độ mới khi đã bố trí, cân đối được nguồn lực thực hiện.

– Đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi từ phí sang thực hiện giá dịch vụ sự nghiệp công, từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí đối với các loại dịch vụ cơ bản, thiết yếu, đồng thời gắn với chính sách hỗ trợ phù hợp cho người nghèo, đối tượng chính sách. Đối với giá dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước, giao quyền tự chủ cho các đơn vị cung ứng dịch vụ tự quyết định theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy.

Đơn vị sự nghiệp công lập đã tự chủ tài chính phải tự bảo đảm nguồn để thực hiện cải cách chính sách tiền lương. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm một phần chi thường xuyên, tiếp tục sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ (riêng ngành Y tế sử dụng tối thiểu 35% sau khi trừ các chi phí đã kết cấu vào giá dịch vụ), tiết kiệm 10% chi thường xuyên nguồn ngân sách tăng thêm hằng năm và sắp xếp từ nguồn dự toán ngân sách nhà nước được giao để bảo đảm nguồn thực hiện cải cách chính sách tiền lương.

Đơn vị sự nghiệp công lập không có nguồn thu do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên, thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên nguồn ngân sách tăng thêm hằng năm và sắp xếp từ nguồn dự toán ngân sách nhà nước được giao để thực hiện cải cách chính sách tiền lương.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới, tinh giản, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp công lập. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị và người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập với việc thể chế hóa và thực hiện các Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, đặc biệt là việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tạo nguồn bền vững cho cải cách chính sách tiền lương. 6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

– Hoàn thiện cơ chế thỏa thuận về tiền lương trong doanh nghiệp thông qua việc thiết lập cơ chế đối thoại, thương lượng và thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ lao động theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động, tạo sự đồng thuận cao. Phát triển tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở, quản lý tốt việc thành lập và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động. Cơ quan thống kê của Nhà nước công bố mức sống tối thiểu hằng năm để làm căn cứ xác định mức lương tối thiểu và khuyến nghị các định hướng chính sách tiền lương; tăng cường điều tra, công bố định kỳ thông tin, số liệu về tiền lương và thu nhập của cả khu vực công và khu vực thị trường. Nâng cao năng lực, hiệu quả công tác nghiên cứu cơ bản và thiết kế chính sách về lao động và tiền lương.

– Làm tốt công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành với cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, tài chính các cấp trong quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, tránh chồng chéo, lãng phí. Quy định rõ quyền hạn gắn với trách nhiệm người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị-xã hội.

Sách Bộ Luật Lao Động Chính Sách Tiền Lương Tiền Thưởng

Tóm tắt cuốn sách” Bộ luật lao động chính sách tiền lương tiền thưởng đối với công chức viên chức và người lao động” Nhằm giúp cho các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị và bạn đọc kịp thời nắm bắt những quy định mới

Tóm tắt cuốn sách” Bộ luật lao động chính sách tiền lương tiền thưởng đối với công chức viên chức và người lao động” Nhằm giúp cho các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị và bạn đọc kịp thời nắm bắt những quy định mới

Ngày 13/09/2018 Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương

Nghị quyết 107/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đã đưa ra lộ trình điều .

Ngày 21-5-2018 Trung ương đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW Về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Ngày 15-5-2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2018/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Quyết định số 172/QĐ-TTg ngày 02-02-2018 Về việc phê duyệt biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước và biên chế của các hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước năm 2018, Thông tư số 242/2017/TT-BQP ngày 05-10-2017 Hướng dẫn điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, Nhằm giúp cho các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị và bạn đọc kịp thời nắm bắt những quy định mới nêu trên

Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau đây:

Phần thứ nhất. Chính sách tăng lương, điều chỉnh tiền lương đối với công chức, viên chức, người lao động

Phần thứ ba. Các Nghị định mới nhất hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động

Phần thứ tư. Các Thông tư hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động & hướng dẫn thực hiện thương lượng tập thể, thỏa ước, giải quyết tranh chấp lao động

Phần thứ năm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động

Ngày 21-05-2018 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII đã ban hành Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, Ngày 23-05-2018 Nghị quyết 28-NQ/TW Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội cũng được thông qua. Hai nghị quyết này đã góp phần hoàn thiện hơn chính sách tiền lương cũng như bảo hiểm xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản pháp quy mới về lao động, như Nghị định 72/2018/NĐ-CP ngày 15-05-2018 Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Nghị định 24/2018/NĐ-CP ngày 27-02-2018 Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động… Để các cơ quan, doanh nghiệp và người lao động có được các tài liệu nói trên, Trung tâm Pháp luật Hà Nội Sài Gòn liên kết với Nhà xuất bản Lao Động cho phát hành cuốn sách: Bộ luật lao động – Labor Code chính sách mới về tiền lương, bảo hiểm xã hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động Việt- Anh – Hoa

Cuốn sách gồm những phần chính sau:

Phần thứ nhất. Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 (Việt – Anh – Hoa).

Phần thứ hai. Quy định mới nhất về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (Việt – Anh – Hoa).

Phần thứ ba. Quy định mới nhất về tiền lương, bảo hiểm xã hội năm 2018.

Phần thứ tư. Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động.

TRUNG TÂM SÁCH LUẬT VIỆT