Top #10 ❤️ Nghị Quyết Trung Ương 7 (Khóa Xii) Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Sachkhunglong.com

Phổ Biến Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii

14 Mẫu Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 7 Khóa 12 Của Đảng Viên

Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương

Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 11

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi

Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc

Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 26-NQ/TW

– Đến năm 2022: (1) Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; (2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; (3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; (4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đến năm 2025: (1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; (2) Cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; (3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

– Đến năm 2030: (1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 27-NQ/TW

(1) Từ năm 2022 đến năm 2022

a) Đối với khu vực công

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2022 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

(2) Từ năm 2022 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

a) Đối với khu vực công

– Từ năm 2022, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.

– Năm 2022, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

– Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Từ năm 2022, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

– Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 28-NQ/TW

Giai đoạn đến năm 2022:

Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỉ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.

Giai đoạn đến năm 2025:

Phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 85%.

Giai đoạn đến năm 2030:

Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%.

Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii Về Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Các Cấp

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 8

Ghi Nhận Qua 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)

Ý Nghĩa Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 8

Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)

Nghị Quyết Trung Ương 04, Khóa Xii

Nghị Quyết 4 Về Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng

Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị Ngày 17 Tháng 12 Năm 1998

Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị

Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết 08 Về Đổi Mới Và Phát Triển Du Lịch

Nghị Quyết 08/bct Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia

Một là, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện rõ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; mối quan hệ giữa suy thoái về tư tưởng chính trị với suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hậu quả của nó.

Lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết đã chỉ ra cụ thể 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Có thể nêu một số biểu hiện như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng; nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; khi có khuyết điểm thì giấu giếm, thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh…

Cùng với việc chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, 9 biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cái mới của lần này là Trung ương thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng…

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa suy thoái về tư tưởng chính trị với suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hậu quả của nó. Nghị quyết cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực thù địch, phản bội lại lý tưởng cao đẹp của Đảng và sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc.

Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” là để làm tấm gương giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi mình; làm cơ sở để góp ý cho người khác và làm căn cứ để xử lý đối với những tập thể, cá nhân vi phạm. Hệ thống những biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống khi xem xét, đánh giá cán bộ.

Hai là, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Xác định rõ mục tiêu là nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, Nghị quyết chỉ ra các quan điểm: (1) Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. (2) Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. (3) Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. (4) Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Ba là, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã xác định rõ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với những điểm nhấn quan trọng.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 nêu lên gồm 4 vấn đề: Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội. Mỗi nhóm nhiệm vụ giải pháp này đều có những điểm nhấn quan trọng, trong đó có những nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, không thể trì hoãn mà đòi hỏi phải làm ngay như: Rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận; kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ… Nghị quyết cũng chỉ rõ một số giải pháp mới, mạnh mẽ, quyết liệt như đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa;” cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước…

Việc học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là nhiệm vụ quan trọng của từng tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Hiện nay, các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương cần nhanh chóng triển khai t hực hiện Kế hoạch số 04-KH/TW ngày 16/11/2016 của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong các tổ chức đảng và đảng viên về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nghiêm trọng…

Tạ Thanh Hương – Tạp chí CSND – T32 ​

Điện Biên: Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết 04

Án Lệ Là Gì ? Quy Trình Lựa Chọn Án Lệ ? Cách Thức Áp Dụng Án Lệ Hiện Nay ?

Mẫu Đề Nghị Bổ Sung Tài Liệu, Chứng Cứ Về Việc Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Cẩn Thận Với Lệnh Tạm Giam Của Tòa

Bàn Về Biện Pháp Ngăn Chặn Tạm Giam Theo Quy Định Của Bltths

Đề Cương Giới Thiệu Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 26

Đảng Ủy Tqn Triển Khai Đồng Bộ, Sáng Tạo Nghị Quyết Số 26

Hành Trình Đưa Nghị Quyết Về “tam Nông” Đi Vào Cuộc Sống

Kỳ Họp Thứ 29 Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh Khoá Xiv: Cho Ý Kiến Việc Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Kiểm Soát Chặt Chẽ Quyền Lực Trong Công Tác Cán Bộ Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 26

Ban Hành Nghị Quyết Số 04

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực

Đại tá Huỳnh Văn Mầm

Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Đây là Nghị quyết chuyên đề của Trung ương về công tác cán bộ, nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất trong nhiệm kỳ mà Đại hội XII của Đảng đề ra.

Một là, vì sao Ban Chấp hành Trung ương phải ban hành Nghị quyết về công tác cán bộ?

Hai là, thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay.

Bốn là, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và những trọng tâm, nội dung đột phá.

Năm là, một số vấn đề về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết.

I. VÌ SAO BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG PHẢI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT MỚI VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ?

c án bộ và công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của cách mạng và sự phát triển của đất nước.

– Như chúng ta biết, xây dựng đường lối chính trị, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ là ba vấn đề cốt yếu, quyết định sự thành bại của một đảng cầm quyền. Song, suy đến cùng thì cán bộ có vai trò quyết định, bởi vì: đường lối chính trị của Đảng cũng do cán bộ xây dựng nên; tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị cũng do cán bộ thiết lập ra và khi đã có đường lối chính trị, tổ chức bộ máy thì cán bộ cũng là người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống.

– Từ kinh nghiệm và thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: ” Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém“. Người còn nói: “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.

– Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ ” then chốt” thì công tác cán bộ là ” then chốt” của nhiệm vụ ” then chốt “.

Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước: Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN; giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước – Thị trường – Xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với nền kinh tế số, kinh tế tri thức và sự biến đổi khí hậu; công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, khó và phức tạp, đòi hỏi Đảng ta phải xử lý, giải quyết một cách khoa học, hiệu quả cả về lý luận và thực tiễn.

Hơn nữa, chúng ta phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong bối cảnh khu vực và thế giới luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Sự tác động thường xuyên, mạnh mẽ, nhiều chiều từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội…

qua 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp đã trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Thứ ba, Tuy nhiên, cho đến nay Chiến lược cán bộ có một số nội dung không còn phù hợp, cần được điều chỉnh, bổ sung và phát triển để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, khuyết điểm và bất cập, trong đó có những khuyết điểm, yếu kém kéo dài, nhưng chậm được khắc phục, đổi mới như:

(1) Công tác cán bộ đổi mới còn chậm so với đổi mới kinh tế.

(2) Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh.

(4) Tình trạng chạy chức, chạy quyền , … còn diễn ra nhưng chậm được khắc phục.

Thứ tư , sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta đang đứng trước sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo, từ lớp cán bộ được rèn luyện, thử thách trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa; sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước có các thể chế chính trị khác nhau.

chúng ta luôn luôn phải động viên, khích lệ, lan tỏa những thành tựu đã đạt được sau 30 năm đổi mới nhưng không chủ quan, thỏa mãn, lơ là, mất cảnh giác, nhất là trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, Nhà nước ta bằng Chiến lược “Thứ năm , diễn biến hòa bình ” với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn; chúng lợi dụng triệt để những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước ta nói chung và về công tác cán bộ nói riêng để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta gây hoang mang, hoài nghi, phân tâm nhằm chia rẽ nội bộ, tác động xấu đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ các cấp.

Như vậy, trong tình hình, bối cảnh nêu trên và để cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tạo sự thống nhất, đồng bộ với thực hiện các nghị quyết 4, 5, 6 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, việc ban hành Nghị quyết “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” là rất cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của công tác xây dựng Đảng trong những năm tới.

Trên cơ sở Tổng kết 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:

– Đ ội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn. Số cán bộ có trình độ đại học, sau đại học tăng nhanh.

– Trình độ, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ có nhiều tiến bộ. Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, cơ bản, bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ.

– Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có phẩm chất, năng lực và uy tín. Cán bộ cấp chiến lược luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, dân tộc và CNXH; có tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược, có khả năng hoạch định đường lối, đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

– Hầu hết cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

– Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện còn nhiều khó khăn.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu xảy ra ở nhiều nơi.

– Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

– Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương còn cao.

– Còn thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số còn thấp.

– Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp.

Nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại khó, ngại khổ.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp; còn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có không ít cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật.

– Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, luật, nghị định và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để thực hiện. Các quy trình trong công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn.

– Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương có từ khóa IX đạt được kết quả bước đầu.

– Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ đã được coi trọng hơn; kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm, cả cán bộ đương chức hoặc đã nghỉ hưu và không có “vùng cấm“, không có ” ngoại lệ ” đã góp phần đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

– Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, nhìn chung chưa phản ánh đúng thực chất.

– Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”, còn dàn trải, khép kín, dựa nhiều vào tuổi.

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới về nội dung và phương pháp; chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Chủ trương bố trí một số chức danh (9 chức danh) lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương thực hiện chưa đạt yêu cầu.

– Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình còn xảy ra ở một số nơi, trong đó có cả người nhà, người thân của một số cán bộ lãnh đạo gây bức xúc trong dư luận xã hội.

– Công tác tuyển dụng còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa, thiếu trọng tâm, trọng điểm hiệu quả thấp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách tiền lương, nhà ở, thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.

– Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình ( Quy định 67-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị ban hành năm 2007, đến 2022 mới được bổ sung thành Quy định 105-QĐ/TW.

– Việc chỉ đạo, triển khai một số chủ trương thí điểm chưa thực sự quyết liệt, chậm sơ kết, tổng kết như việc đại hội đảng bộ cơ sở bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; việc sắp xếp tổ chức, kiêm nhiệm để tinh giản biên chế ...

– Việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, thiếu chủ động, mới chỉ tập trung được kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm; việc kiểm tra theo chuyên đề, chuyên ngành còn hạn chế. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định.

– Tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối (Hiện nay, Ban ổ chức của cấp ủy, cơ quan nội vụ của chính quyền các cấp, Ban Công tác đại biểu của Quốc hội có chức năng tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ. Nếu không phối hợp chặt chẽ, hiệu quả rất dễ xảy ra thiếu thống nhất, phát sinh nhiều thủ tục hành chính không cần thiết).

– Phẩm chất, năng lực và uy tín của một số cán bộ làm công tác cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Chậm sơ kết, tổng kết thực tiễn; thiếu nghiên cứu cơ bản và phát triển lý luận về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hiệu quả để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mứcThứ tư: .

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng các mối đe dọa truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. C ông cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao, Việt Nam ngày càng có vị thế và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Tuy nhiên: Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.

Nghị quyết Trung ương lần này xác định 05quan điểm sau:

cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “Một là, then chốt ” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành một cách khoa học, thận trọng, thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả. Đ ầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. C huẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Ba là t ôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và thu hút, trọng dụng nhân tài.

Thứ tư, q uán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa xây và chống; giữa đức và tài; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Các quan điểm chỉ đạo nêu trên hợp thành hệ thống quan điểm đồng bộ, toàn diện, thể hiện rõ tinh thần kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển; vừa mang tính nguyên tắc chỉ đạo, vừa định hướng cách tiếp cận, phương pháp khoa học cho việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong những năm tới.

có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đủ sức lãnh đạo Nghị quyết đề ra m ục tiêu tổng quát là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến l ược công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước), trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể, với 3 mốc thời gian:đến năm 2022, năm 2025 và năm 2030. Việc xác định các mục tiêu cụ thể trong Nghị quyết căn cứ vào kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận trước đây và tình hình thực tế hiện nay. Các mục tiêu đề ra cho từng giai đoạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng và có tính khả thi, nhưng đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu mới có thể đạt được. Cụ thể là:

– Đến năm 2025, Nghị quyết đề ra 03 mục tiêu lớn:

Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:

(Tại sao lại đặt ra mục tiêu làm việc trong môi trường quốc tế? Vì chúng ta đang tích cực, chủ động hội nhập (cả địa phương, Trung ương, các cấp, các ngành); nước ta có vị trí là thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế. Đủ k hả năng làm việc trong môi trường quốc tếhiểu biết rộng; sử dụng được một trong các ngoại ngữAnh, Pháp, Nga, Trung, Tây Ban Nha, Arab; sử dụng thành thạo máy tính có kỹ năng, chuyên môn phù hợp , hiểu biết về thông lệ và luật pháp quốc tế, có khả năng làm việc độc lập, làm việc nhóm…

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 – 25% dưới 40 tuổi; từ 50 – 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc phù hợp với cơ cấu dân cư.

Căn cứ vào các quan điểm, mục tiêu nêu trên và tình hình thực tế,Nghị quyết đề ra 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn chủ yếu; đồng thời xác định 02 trọng tâm và 05 đột phá để thực hiện.

Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm mới sáng tạo, có hiệu quả(2) .

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc.

(4) Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài.

Các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình t hể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ b ảo đảm đ ồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế.

Đánh giá đa chiều (360 độ) là c ấp trên đánh giá cấp dưới; đồng cấp đánh giá; cấp dưới đánh giá cấp trên; bản thân tự đánh giá.

Đánh giá bằng tiêu chí là đánh giá trên các mặt: chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm; chiều hướng phát triển.

Đánh giá bằng “sản phẩm” là lượng hóa kết quả làm việc của cán bộ mà có thể “cân, đong, đo, đếm” được và được cấp có thẩm quyền ghi nhậnánh giá phải có sự so sánh với các chức danh tương đương: Vụ trưởng so với vụ trưởng; giám đốc sở so với giám đốc sở; trưởng phòng so với trưởng phòng…

thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm và khảo sát nhân sự trước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử. Đánh giá người đứng đầu phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị nơi công tác và công khai kết quả đánh giá ).

(3) Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực, theo ngành.

(8) Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp ủy các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp ủy viên.

Xây dựng chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức theo hướng: Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách công khai, minh bạch đối với từng đối tượng; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua nhà ở.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộvà tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

Tiếp tục mở rộng thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng. Đồng thời, thực hiện các thí điểm: (16) Một, người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm các nguyên tắc của Đảng và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình.Hai, giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới (với 6 nội dung chủ yếu).

(Đây là giải pháp nhằm khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý cán bộ ở một số nơi như vừa qua

(6) K iểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm , không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cán bộ cấp chiến lược, nhất là nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành và các tỉnh, thành phố.

Vấn đề kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền đang là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong dư luận. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức đảng phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả vấn nạn này. Trong mục tiêu đã xác định rất cương quyết, phần giải pháp xin giới thiệu với các đồng chí nội dung cơ bản:

( Quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn thì càng phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã nói “phải kiểm soát quyền lực bằng cơ chế” và “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”).

Thể chế hóa, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

(2) Thường trực cấp ủy các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ và cấp ủy viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

Thường xuyên chăm lo, xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan tổ chức cán bộ.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

(1) Cụ thể hóa, hoàn thiện các văn bản về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc, nhất là phương hướng công tác nhân sự.

(2) Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc cán bộ và vấn đề chính trị của cán bộ; tăng cường thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ và phải có các phương án phù hợp, hiệu quả để thực hiện việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra.

(3) Tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn trong quy hoạch để chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp.

hực hiện tốt 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, Nghị quyết xác định hai trọng tâm và năm đột phá sau:

(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa , siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung .

(2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấpđi đôi vớiphân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

(2) K iểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm ; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền.

1. Về học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết

(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải tổ chức học tập, quán triệt nghiêm túc Nghị quyết và Kế hoạch thực hiện để cán bộ, đảng viên nhận thức rõ thực trạng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay; nắm vững các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết.

(2) Trên cơ sở Nghị quyết của Trung ương, Kế hoạch của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Quân ủy Trung ương, xây dựng Kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết của cơ quan, đơn vị mình phù hợp với thực tiễn; xác định rõ trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân; thời gian thực hiện và hoàn thành từng nhiệm vụ.

(3) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả ; tăng cường kiểm tra, giám sát, định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện theo Kế hoạch để kiểm soát nội dung và tiến độ.

Khi có Kế hoạch của Đảng ủy Quân khu c ăn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến rõ nét về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình./.

Thái Nguyên: Thay Đổi Toàn Diện Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Bài Thu Hoạch Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii

Mục Tiêu, Giải Pháp Của Ngành Công Thương Nghệ An Trong Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7, Khóa Xii

Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 7 (Khóa Xii) Bằng Những Giải Pháp Thiết Thực, Phù Hợp

Hội Nghị Cán Bộ Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 7 (Khóa Xii)

Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương

Hướng Dẫn Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii

Hội Nghị Trung Ương 7: Toàn Văn Nghị Quyết Số 26

Thứ trưởng Lê Tấn Dũng truyền đạt nội dung Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 19/5/2018.

Hội nghị được tổ chức tại 3 điểm cầu với sự tham dự của trên 600 đảng viên, trong đó, tại điểm cầu Trụ sở Bộ có sự tham dự của các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ; Cấp uỷ đảng các cấp (kể cả các chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở); Ban Thường vụ Công đoàn Bộ, Ban Thường vụ Đoàn thanh niên Bộ; Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ có tổ chức đảng trực thuộc địa phương mà trụ sở đóng trên địa bàn các tỉnh từ Thừa Thiên – Huế trở ra; các đồng chí đảng viên giữ chức vụ từ Trưởng phòng, đảng viên giữ ngạch từ chuyên viên chính trở lên ở các đảng bộ, chi bộ trực thuộc.

Hội nghị được tổ chức trực tuyến tại 3 điểm cầu Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh và Tòa nhà Liên cơ Bộ thuộc D25.

Tại điểm cầu Hội trường tầng 3, trụ sở liên cơ quan Bộ (D25, số 3, ngõ 7, Tôn Thất Thuyết) có sự tham dự của hơn 200 đảng viên các đơn vị: Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội; Cục việc làm; Cục An toàn lao động; Báo Lao động và Xã hội; Tạp chí Lao động và Xã hội; Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo; Văn phòng Ủy ban quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam; Văn phòng Làng trẻ em SOS Việt Nam; Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Lao động – Xã hội; Ban Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng và Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp.

Tại điểm cầu TP Hồ Chí Minh có sự có mặt của 80 đảng viên trong Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ; Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ có tổ chức đảng trực thuộc địa phương mà trụ sở đóng trên địa bàn các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào; toàn thể đảng viên của Đảng bộ Trung tâm kiểm định kỹ thuật an toàn KV II; toàn thể đảng viên chi bộ Đại diện VP bộ tại TP Hồ chí Minh và Chi bộ nhà khách Người có công.

Hình ảnh các đại biểu tại điểm cầu tòa nhà làm việc khu liên cơ Bộ LĐ-TB&XH – D25

Sau Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành 3 Nghị quyết, cụ thể là: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Đồng chí Lê Văn Hoạt nhấn mạnh: “Ngày 29/6/2018, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương đã tổ chức hội nghị học tập, quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đến các đồng chí Ủy viên Ban cán sự Đảng và Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ.

Quang Cảnh hội nghị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII; Kế hoạch số 10 – KH/TW ngày 06/6/2018 của Ban Chấp hành Trung ương; Hướng dẫn số 65-HD/BTGTW ngày 28/5/2018 của Ban Tuyên Giáo Trung ương và Kế hoạch số 106-KH/ĐUK ngày 19/6/2018 của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương ban hành Kế hoạch học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Thực hiện Quy chế phối hợp công tác giữa Ban cán sự Đảng với Đảng ủy Bộ, hôm nay, Đảng ủy Bộ LĐ-TB&XH phối hợp với Ban Cán sự Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII”.

Buổi sáng, Hội nghị được Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Tấn Dũng truyền đạt nội dung Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đến toàn thể Hội nghị.

Sau đó, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp truyền đạt nội dung Nghị quyết 27- NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Buổi chiều, Hội nghị nghe đồng chí Phạm Trường Giang, Vụ Trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 28 – NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

THANH MẠNH

Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 7 (Khóa Xii)

Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 (Khóa Xii) Của Đảng

Hướng Dẫn Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa 12

Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương

Bài Thu Hoạch Nqtw 7 Khóa Xii

🌟 Home
🌟 Top