Top 2 # Quy Định Pháp Luật Phá Sản Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Phá Sản Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Phá Sản

Phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Theo cách nói thông thường phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn.

Dưới góc độ pháp lí, phá sản là hiện tượng con nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của con nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định.

Thuật ngữ phá sản được hình thành từ thời La Mã cổ đại, bắt nguồn từ chữ “zuin” trong tiếng Latinh có nghĩa là sự khánh tận – tức là mất khả năng thanh toán.

Ở Việt Nam, thuật ngữ này được biết đến từ thời kì Pháp thuộc do người Pháp mang sang Việt Nam cùng với quá trình thực dân hoá.

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thuật ngữ này đường như không được biết đến. Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế sang cơ chế thị trường theo đó hiện tượng phá sản dưới tác động- của cạnh tranh trở thành hiện tượng bình thường và tất yếu.

Thuật ngữ phá sản tuy được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ hàng ngày và trong khoa học pháp lÍ song cho đến nay vẫn chưa được chính thức giải thích trong các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta. Thay vào đó, thuật ngữ “tình trạng phá sản” được sử dụng và giải thích.

Theo Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì doanh nghiệp lâm vào “tinh trạng phá sản” là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt đông kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp “tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Theo Luật phá sản năm 2004 thì doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì bị coi là lâm vào tình trạng phá sản.

Luật phá sản năm 2004 tiếp tục quy định đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật khi lâm vào tình trạng phá sản. Riêng đối với các doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công thiết yếu, việc áp dụng Luật phá sản sẽ do Chính phủ quy định cụ thể. Quy định này hàm ý rằng do vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của các doanh nghiệp này, việc áp dụng Luật phá sản cần được điều chỉnh bằng những quy tắc có tính ngoại lệ, phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp ấy.

Quy Định Pháp Luật Về Phá Sản Doanh Nghiệp Mới Nhất

Đối với một doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản doanh nghiệp cần phải thực hiện các công việc chính như sau:

Thứ nhất: Xác định các dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Thứ hai: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và tiến hành thủ tục giải quyết vụ việc phá sản.

Các dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

1.Doanh nghiệp có nợ

Các khoản nợ này là nợ không có bảo đảm hoặc chỉ có bảo đảm một phần (bảo đảm của doanh nghiệp hoặc của người thứ 3, mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ); đã được xác định rõ ràng, được các bên xác nhận, không có tranh chấp. Cần phải xem xét về tính hợp pháp và có căn cứ của khoản nợ, về các chứng từ, hóa đơn, chứng cứ để chứng minh các khoản nợ như biên bản đối chiếu công nợ, biên bản thanh lý hợp đồng, văn bản doanh nghiệp thừa nhận mắc nợ….ngoài ra, cần phân biệt rõ và chỉ tính nợ của doanh nghiệp, có trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp, mà không tính nợ của các cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp (khoản 2.1 Điều 2 Mục 1 Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản – Gọi tắt là nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP)

2. Nợ đã đến hạn thanh toán

Khoản nợ phải là nợ đã đến hạn thanh toán, thì chủ nợ mới có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản. Việc này cần thể hiện trong các hồ sơ, giấy tờ như hợp đồng kinh doanh, thương mại, biên bản xác nhận công nợ,…(khoản 2.1 Điều 2 Mục I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP).

3. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Mặc dù chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán, nhưng doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Cần xác định rõ căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp,…) (khoản 2.2 Điều 2 Mục I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP).

4. Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

-Người có quyền nộp đơn: Những người sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở (khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán lương và các khoản khác đối với người lao động); cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên (hoặc sở hữu số cổ phần ít hơn theo quy định của điều lệ) trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng; thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (khoản 1, 2, 5,6 Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2014).

-Người có nghĩa vụ nộp đơn: Những người sau đây có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã (khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán); chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch hội đồng thành viên của CTTNHH 2 thành viên trở lên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh (khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán) (khoản 3, 4 Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2014).

-Nội dung đơn: Tùy theo đối tượng yêu cầu, đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Ngày, tháng, năm; Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết phá sản; Tên, địa chỉ của người làm đơn; Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản; khoản nợ đến hạn (tiền lương đến hạn) hoặc căn cứ yêu cầu mở thủ tục phá sản. Kèm theo đơn phải có chứng cứ để chứng minh khoản nợ đến hạn. Trường hợp có đề xuất chỉ định quản tài viên doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, thì đơn ghi rõ tên, địa chỉ của các đối tượng này (Điều 6 Luật Doanh nghiệp 2014).

5. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

-Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh: Tòa án nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc TW) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký tại vùng cấp tỉnh với Tòa án và thuộc một trong các trường hợp sau: Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố tỉnh khác nhau; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau; vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc (khoản 1, Điều 8, Luật Doanh nghiệp 2014).

-Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện: Tòa án nhân dân cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chi nhánh tại địa bàn cùng cấp huyện với Tòa án, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (khoản 2 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2014).

-Lệ phí, chi phí và thụ lý: Sau khi Tòa án đã chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ sẽ thông báo cho các bên thương lượng việc rút đơn. Nếu các bên không thương lượng được, thì Tòa án thông báo cho người nộp đơn nộp lệ phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản. Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ khi nhận được biên lai nộp lệ phí và tạm ứng phá sản, trừ trường hợp được miễn.

6. Thủ tục giải quyết vụ việc phá sản (sau khi đã được thụ lý)

-Mở thủ tục phá sản: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

-Tiến hành các thủ tục phá sản: Sau khi đã mở thủ tục phá sản, vụ việc phá sản được tiến hành thông qua rất nhiều thủ tục như: Chỉ định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; kiểm toán doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; giám sát hoạt động kinh doanh (trong đó có 1 số hoạt động bị cấm) của doanh nghiệp, hợp tác xã; thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; xác định nghĩa vụ tài sản (giá trị nghĩa vụ, tiền lãi, xử lý khoản nợ có bảo đảm, thứ tự phân chia tài sản); các biện pháp bảo toàn tài sản (áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời); tổ chức hội nghị chủ nợ; Phục hồi hoạt động kinh doanh.

-Tuyên bố phá sản: Sau khi Hội nghị chủ nợ không thành, thì Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản.

-Thi hành quyết định tuyên bố phá sản: Cuối cùng là thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của Luật Phá sản và Luật Thi hành án dân sự.

Kết luận: Bốn giai đoạn nêu trên là sự khái quát một cách tương đối về vấn đề “Quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp mới nhất” (sau khi đã được thụ lý). Thủ tục phá sản doanh nghiệp rất phức tạp và đã được luật phá sản 2014 quy định khá cụ thể, chi tiết, tuy nhiên, vẫn còn thiếu rành mạch, rõ ràng và khó phân biệt. Vì vậy, cần phải nghiên cứu thật kĩ luật phá sản 2014 và đặt vấn đề cần xử lý trong tổng thể nội dung tư vấn cho khách hàng.

Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào Về Phá Sản Tổ Chức Tín Dụng?

Câu hỏi: Mình ở Hà Nội. Cho mình hỏi: Pháp luật hiện nay quy định như thế nào về phá sản tổ chức tín dụng?

Điều 4 Nghị định 05/2010/NĐ-CP quy định:

“Tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản.”

Theo đó, Tổ chức tín dụng bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi:

-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt;

-Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản trên mà tổ chức tín dụng vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.

* Chủ thể yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 8 Nghị định số 05/2010/NĐ-CP như sau:

– Về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng:

+ Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần của tổ chức tín dụng;

+ Người lao động làm việc trong tổ chức tín dụng;

+ Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng nhà nước, cổ đông của tổ chức tín dụng cổ phần.

– Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng:

+ Đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy tổ chức mình lâm vào tình trạng phá sản.

+ Trường hợp tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đó.

* Trình tự, thủ tục phá sản tổ chức tín dụng:

-Chủ thể có quyền hoặc có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 Nghị định 05/2010/NĐ-CP;

-Nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;

-Tòa án hoặc là ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu có đủ điều kiện; hoặc là ra quyết định trả lại đơn yêu cầu nếu thuộc quy định tại Điều 13 Nghị định 05/2010/NĐ-CP;

-Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản;

-Kiểm kê tài sản của tổ chức tín dụng, lập danh sách chủ nợ;

-Tòa án tuyên bổ tổ chức tín dụng phá sản;

-Hoản trả các khoản vay đặc biệt;

-Thanh toán theo thứ tự thanh toán quy định tại Điều 101 Luật Phá sản năm 2014.

* Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt:

Đối với phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 có quy định về thủ tục như sau:

-Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Ban kiểm soát đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chủ trương phá tín dụng được kiểm soát đặc biệt;

-Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chủ trương phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt;

-Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chính phủ quyết định chủ trương phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Ban kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam xây dựng phương án phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt trình Ngân hàng Nhà nước xem xét;

-Sau đó việc phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt được thực hiện theo phương án phá sản.

Vai Trò Của Pháp Luật Phá Sản

Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ nợ. Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ.

Luật Phá sản còn bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ. Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ. Không một chủ nợ nào được con nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ. Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp).

b.Bảo vệ quyền lợi cho con nợ:

Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh. Chỉ khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản. Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ. Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội.

c. Bảo vệ người lao động:

Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống. Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp, ….

d. Góp phần bảo vệ trật tự kỷ cương trong xã hội:

Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản. Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau. Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội.

e. Tái tổ chức lại doanh nghiệp và cơ cấu lại nền kinh tế:

Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả về kinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực. Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tự nhiên đối với doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liều lĩnh, đồng thời, Luật Phá sản doanh nghiệp là cơ sở pháp lý để xóa bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư.

chứng minh vai trò của pháp luật phá sản

vai trò của pháp luật phá sản

,