Top 12 # Quyết Định Số 15 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Nghị Định Số 15 Thay Thế 209 / 2023

Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định Số 24/2014/nĐ-cp, Nghị Định 10/2020/nĐ-cp Thay Thế Nghị Định 86/2014/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thể Nghị Ddingj 32/2006, Nghị Định Số 15 Thay Thế 209, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 101, Dự Thảo Thay Đổi Nghị Định 20, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 24, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 43/2006, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 46/2015/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 24, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 12/2009, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 32/2015, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 59/2015, Nghị Định Nào Thay Thế Nghị Định 59/2015, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 32/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 15/2013/nĐ-cp, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 24/2014/nĐ-cp, Mẫu Giays Đề Nghị Thay Đổi Mục Đính Sử Dụng Điện, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 121, Nghị Định Nào Thay Thế Nghị Định 209, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 15, 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày, 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày, Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/, Uy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-, Uy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-, Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57, Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/, Đơn Đề Nghị Thay Đổi Màu 02/mtk, Văn Bản Đề Nghị Thay Đổi Con Dấu, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Mẫu Dấu Mẫu Chữ Ký, Mẫu Đơn Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin, Giấy Đề Nghị Thay Lốp Xe, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Mẫu Chữ Ký, Đề Nghị Thay Đổi Ngừng Kết Nối @, Suy Nghĩ Của Em Về Hai Câu Tục Ngữ “không Thầy Đó Mày Làm Nên” Và ” Học Thầy Không Tày Học Bạn”, De Nghi Thay Doi Thong Tin Tai Khoan, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Chủ Thể HĐmbĐ, Đề Nghị Thay Đổi Kế Toán Trưởng, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Đăng Ký Niêm Yết, Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Dịch Vụ Bsms, Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Agribank, Đơn Đề Nghị Thay Đổi Công Suất Điện, Mẫu Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Agribank, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Tổ Chức, Mẫu Giấy Đề Nghị Thay Đổi, Bổ Sung Thông Tin Kh Của Seabank, Giấy Dề Nghị Thay Đổi Thong Tin Khách Hàng, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Doanh Nghiệp, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Vietcombank, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Mục Đích Sử Dụng Điện, Thay Thế Quyết Định Số 09/2015/qĐ-ttg, Quyết Định Bổ Nhiệm Thay Thế, Thông Tư Nào Thay Thế Cho Quyết Định 48, 3 Quyết Định Thay Đổi Tài Chính Của Bạn, Don Xin Trich Luc Quyet Dinh Thay Doi So Nha, Giấy Đề Nghị Chỉnh Sửa, Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Tổ Chức Bidv, Văn Bản Đề Nghị Thay Đổi Của Khách Hàng Có Ta Kiến Đồng Ta Của Chủ Thể HĐmbĐ Củ, Quy Trình Đề Nghị Thay Đổi Thời Khóa Biểu Lớp Học Phần, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Eximbank, Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Khách Hàng Tổ Chức, Văn Bản Đề Nghị Thay Đổi Của Khách Hàng Có ý Kiến Đồng ý Của Chủ Thể HĐmbĐ Cũ, Giấy Đề Nghị Chỉnh Sửa, Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Mẫu 08, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Con Dấu Doi Bo Sung Thong Tin Khach Hang, Mẫu Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Trên Hợp Đồng Mua Bán Điện, Tiểu Luận Sự Thay Đổi Về Lượng Dẫn Đến Sự Thay Đổi Về Chất, Quyết Định Trong Tay Đổi Thay Số Phận, Mẫu Giấy Đề Nghị Thay Đổi, Bổ Sung Thông Tin Khách Hàng Tổ Chức, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Cá Nhân Eximbank, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Con Dấu Doi Bo Sung Thong Tin Khach Hang Agibank, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Thanh Toán Vietinbank, Giấy Đề Nghị Chỉnh Sửa, Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Agribank, Nhận Định Nào Sau Đây Em Thấy Không Đúng Dế Mèn Phiêu Lưu Kí Là, Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày 03/5/2007 Của Bộ C, Kiểm Định Phương Sai Thay Đổi Trong Stata, Nhận Định Nào Sau Đây Em Thấy Không Đúng Dễ Mèn Phiêu Lưu Ký Là, Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày 03/5/2007 Của Bộ C, Quyết Định Về Việc Thay Đổi Đăng Ký Kinh Doanh Chuyển Trụ Sở, Quy Định 126 Thay Thế Quy Định 57, Quy Định 104 Thây Thế Quy Định Nào, Quy Dinh 126 Thay Quy Dinh 57, Quyết Định Về Việc Thay Đổi Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệ, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Ngân Hàng Agribank, Dự Thảo Nghị Định Sửa Đổi Các Nghị Định Thi Hành Luật Đất Đai, Được Thay Thế Bởi Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết, Được Thay Thế Bởi Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết, Nghị Định Của Chính Phủ Quy Định Tiêu Chuẩn Định Mức Sử Dụng Xe ô Tô, Nghị Định Quy Định Về Định Danh Và Xác Thực Điện Tử, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện Chỉ Tri, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện, Giấy Đề Nghị Gia Hạn Nộp Thuế Theo Nghị Định 41/2020, Điều 8 Nghị Định 103 Về Nghỉ Hưu Trước Tuổi, Nghị Định Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Y Tế, Dự Thảo Nghị Định Quy Định Giảm Phí Trước Bạ Cho ôtô Sản Xuất Trong Nước, Nghị Định Quy Định Trách Nhiệm Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục,

Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định Số 24/2014/nĐ-cp, Nghị Định 10/2020/nĐ-cp Thay Thế Nghị Định 86/2014/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thể Nghị Ddingj 32/2006, Nghị Định Số 15 Thay Thế 209, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 101, Dự Thảo Thay Đổi Nghị Định 20, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 24, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 43/2006, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 46/2015/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 24, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 12/2009, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 32/2015, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 59/2015, Nghị Định Nào Thay Thế Nghị Định 59/2015, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 32/2015/nĐ-cp, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 15/2013/nĐ-cp, Dự Thảo Thay Thế Nghị Định 24/2014/nĐ-cp, Mẫu Giays Đề Nghị Thay Đổi Mục Đính Sử Dụng Điện, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 121, Nghị Định Nào Thay Thế Nghị Định 209, Nghị Định Thay Thế Nghị Định 15, 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày, 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/tw, Ngày, Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/, Uy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-, Uy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-, Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57, Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Đảng Thay Thế Quy Định Số 57-qĐ/, Đơn Đề Nghị Thay Đổi Màu 02/mtk, Văn Bản Đề Nghị Thay Đổi Con Dấu, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Mẫu Dấu Mẫu Chữ Ký, Mẫu Đơn Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin, Giấy Đề Nghị Thay Lốp Xe, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Mẫu Chữ Ký, Đề Nghị Thay Đổi Ngừng Kết Nối @, Suy Nghĩ Của Em Về Hai Câu Tục Ngữ “không Thầy Đó Mày Làm Nên” Và ” Học Thầy Không Tày Học Bạn”, De Nghi Thay Doi Thong Tin Tai Khoan, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Chủ Thể HĐmbĐ, Đề Nghị Thay Đổi Kế Toán Trưởng, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Đăng Ký Niêm Yết, Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Dịch Vụ Bsms, Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Agribank, Đơn Đề Nghị Thay Đổi Công Suất Điện, Mẫu Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Khách Hàng Agribank, Giấy Đề Nghị Thay Đổi Thông Tin Tài Khoản Tổ Chức, Mẫu Giấy Đề Nghị Thay Đổi, Bổ Sung Thông Tin Kh Của Seabank, Giấy Dề Nghị Thay Đổi Thong Tin Khách Hàng,

Nhìn Lại 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 33 / 2023

Tính từ ngày Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến nay đã gần 15 năm.

Khi Nghị quyết số 33-NQ/TW ra đời, người viết bài này đang giữ chức Bí thư Quận ủy Thanh Khê, cảm nhận rất rõ nghị quyết quan trọng này đã trở thành động lực như thế nào trong quá trình phát triển của một quận nội thành.

Năm 2008, được tham gia Ban Thường vụ Thành ủy và nhờ vậy được dự buổi làm việc giữa Bộ Chính trị/Ban Bí thư với tập thể Ban Thường vụ Thành ủy vào giữa tháng 10 năm 2013, được lắng nghe ý kiến đánh giá của cấp trên về 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW để chuẩn bị ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Bộ Chính trị khóa XI, người viết bài này càng nhận thức rõ hơn về những tác động tích cực của Nghị quyết số 33-NQ/TW đối với con đường đi tới/đi lên của thành phố quê hương mình.

Có thể nói từ đầu năm 1997 cho đến trước tháng 10 năm 2003, mặc dầu đã được tách ra để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đã thoát khỏi “chiếc áo chật” của một thành phố cấp huyện, nhưng vị trí của Đà Nẵng vẫn còn quá mờ nhạt trong một nước Việt Nam thống nhất chạy dài từ bắc chí nam.

Cho nên khi Bộ Chính trị khóa IX – trong Nghị quyết số 33-NQ/TW – định hướng phát triển Đà Nẵng “trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế-xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính-viễn thông và tài chính-ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa-thể thao, giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng-an ninh của khu vực miền Trung và cả nước” thì đấy cũng chính là lúc Đà Nẵng được những nhà lãnh đạo cao cấp của quốc gia hình dung là một cực phát triển mới bên cạnh hai cực phát triển – và chỉ hai cực mà thôi – trong hơn phần tư thế kỷ là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Và với tư cách là một trong ba cực phát triển của đất nước thống nhất mà trong 15 qua, tầm vóc quốc tế của Đà Nẵng đã được khẳng định. Điều đó được chứng minh qua hai lần Đà Nẵng được chọn là nơi đăng cai tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương năm 2006 và năm 2017.

Đặc biệt, Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 đã nâng tầm vóc quốc tế của Đà Nẵng lên một chiều kích mới. Còn nhớ năm 2016, Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick từng tiên đoán: “Sự chú ý của cả thế giới sẽ đổ dồn về Đà Nẵng trong tháng 11 năm 2017 khi các nhà lãnh đạo, các bộ trưởng và các CEO đến từ 21 nền kinh tế APEC tụ họp tại thành phố này.

Đây sẽ là một cơ hội lớn để Đà Nẵng thể hiện cho thế giới thấy tiềm năng của thành phố như một cửa ngõ trung tâm quan trọng cho du lịch và đầu tư”. Và trong diễn văn kéo dài hơn 35 phút ở Hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo doanh nghiệp APEC trong khuôn khổ Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng nhấn mạnh hình ảnh một Đà Nẵng đang hội nhập quốc tế:

“Thành phố này từng là nơi Mỹ đặt một căn cứ quân sự, tại một đất nước nơi rất nhiều người Mỹ và người Việt Nam đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh vô cùng đau thương năm xưa.

Ngày nay, chúng ta không còn là kẻ thù nữa, chúng ta là bạn. Và thành phố cảng này ngày càng tấp nập, nhộn nhịp với tàu thuyền từ khắp nơi trên thế giới đổ về”. Không có những động lực từ Nghị quyết số 33-NQ/TW, Đà Nẵng khó lòng có được cơ hội để quảng bá thương hiệu của mình đầy ấn tượng như thế.

Mười lăm năm nhìn lại, nếu chọn trong Nghị quyết số 33-NQ/TW một số mục tiêu cụ thể mà Đà Nẵng phải về đích sớm thì có lẽ mục tiêu mà Đà Nẵng về đích sớm nhất chính là đã đưa dịch vụ lên tuyến đầu ngay từ giữa nhiệm kỳ Đại hội XX Đảng bộ thành phố – năm 2008.

Về lộ trình đưa dịch vụ lên tuyến đầu thì Nghị quyết số 33-NQ/TW chỉ nêu: “Có kế hoạch và bước đi trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nay đến năm 2010 theo hướng cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp, sau năm 2010 chuyển sang cơ cấu dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp”, nhưng Đà Nẵng đã phấn đấu hoàn thành mục tiêu này sớm hơn hai năm.

Thật ra sớm hay muộn hơn, nhanh hay chậm hơn thời điểm 2010 hoàn toàn phụ thuộc vào việc ngay từ khi có Nghị quyết số 33-NQ/TW, người Đà Nẵng làm dịch vụ, đúng hơn là chuẩn bị mọi tiền đề để phát triển dịch vụ theo một tầm cao mới, một chất lượng khác hẳn như thế nào. Và đến nay về cơ bản Đà Nẵng đã làm được như vậy.

Chính điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi để Đà Nẵng có thể thực hiện mục tiêu nêu trong Nghị quyết số 33-NQ/TW: “Phấn đấu trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020” bằng cách của riêng mình: sẽ góp phần vào diện mạo Việt Nam – nước công nghiệp với vị thế một Đà Nẵng – thành phố dịch vụ/thành phố công nghiệp có công nghệ cao.

Tuy nhiên, sau 15 năm nhìn lại, có thể thấy Đà Nẵng đã bỏ lại sau lưng rất nhiều thời cơ để có thể tận dụng các động lực và lợi thế do Nghị quyết số 33-NQ/TW mang lại. Chẳng hạn Nghị quyết số 33-NQ/TW đã “bật đèn xanh” cho Đà Nẵng:

“Thành phố có phương án trình Chính phủ phê duyệt thí điểm thực hiện một số cơ chế mới đối với những vấn đề mà thực tiễn thành phố đặt ra nhưng chưa có quy định hoặc đã quy định nhưng không còn phù hợp”, nhưng tiếc là Đà Nẵng chưa tranh thủ hoặc tranh thủ chưa đến nơi đến chốn lợi thế này suốt mười lăm năm qua.

Nói chung với Nghị quyết số 33-NQ/TW, Đà Nẵng vẫn chưa tạo được những khác biệt cần thiết đối với một trung tâm/một cực phát triển và do vậy cái yếu kém từng được nêu trong Nghị quyết số 33-NQ/TW: “Vai trò trung tâm, sức lan tỏa, lôi kéo các tỉnh lân cận và các tỉnh Tây Nguyên còn hạn chế” vẫn chưa thể khắc phục được bao nhiêu, dẫn đến vẫn còn tình trạng thế mạnh lớn nhất của khu vực này là… mạnh ai nấy làm!

Mặc dầu trong cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng từ năm 2008 đến nay, nông nghiệp – trong đó có nghề cá – được xếp sau cùng và chiếm tỷ lệ thấp trong nền kinh tế, nhưng không phải ngẫu nhiên mà trong Kết luận số 75-KL/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, Bộ Chính trị khóa XI nhấn mạnh yêu cầu: “Phát triển Đà Nẵng trở thành một trung tâm kinh tế biển, trung tâm nghề cá, gắn với bảo vệ an ninh và chủ quyền biển, đảo ở khu vực”.

Đây là một nội dung mà trước đó do chưa có Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nên Nghị quyết số 33-NQ/TW chưa có điều kiện để làm rõ, chỉ nói rằng “các lợi thế về kinh tế biển chưa được khai thác tốt” và đòi hỏi thời gian đến Đà Nẵng phải ra sức khai thác tiềm năng kinh tế biển – kinh tế biển của Đà Nẵng chỉ được hình dung dưới dạng tiềm năng.

Cho nên người Đà Nẵng ngày nay cần phải nghĩ tiếp nhiều chuyện lắm, cần phải làm tiếp nhiều việc lắm mới có thể phát triển đúng mức thế mạnh về kinh tế biển của một vùng đất từng có nhiều kinh nghiệm trên lĩnh vực này; mới có thể nhanh chóng thoát khỏi tình trạng – nói một cách hình ảnh là – tiến ra đại dương mênh mông bằng những chiếc thuyền thúng vừa nhỏ nhoi vừa mỏng mảnh; mới có thể đối diện đương đầu với những tranh cướp – chứ không phải tranh chấp – chủ quyền trên biển, với những hành động của ai đó coi thường công pháp quốc tế và tình hữu nghị giữa các nước láng giềng.

Cần thấy ngư dân Đà Nẵng đang hồn treo cột buồm để vừa mưu sinh kiếm sống vừa góp phần khẳng định chủ quyền thiêng liêng của đất nước trên Biển Đông và việc Đà Nẵng tập trung phát triển “trở thành một trung tâm kinh tế biển, trung tâm nghề cá, gắn với bảo vệ an ninh và chủ quyền biển, đảo ở khu vực” không chỉ là làm đúng theo Nghị quyết số 33-NQ/TW và Kết luận số 75-KL/TW mà còn là mệnh lệnh của trái tim!

BÙI VĂN TIẾNG

Một Số Điểm Mới Của Nghị Định Số 15/2018/Nđ / 2023

Ngày 02/02/2018, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (gọi tắt Nghị định 15) thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Nghị định 15 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/02/2018.

Nghị định 15 được xây dựng theo hướng tạo hành lang thông thoáng và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm do đã cắt giảm một số thủ tục hành chính so với quy định trước đây như đăng ký, công bố sản phẩm và chuyển hướng mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Trong đó, những điểm mới của Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm như sau:

1. Điểm mới đầu tiên trong Nghị định này là thay đổi phương thức công bố đối với sản phẩm thực phẩm (Điều 4 đến Điều 8):

Trước đây Nghị định số 38/2012/NĐ-CP quy định thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn; phụ gia thực phẩm; chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm (gọi chung là sản phẩm) phải được công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và đăng ký bản công bố với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xác nhận trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.

Nghị định 15 quy định thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm phải được công bố trước khi lưu thông trên thị trường. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện tự công bố sản phẩm, chịu trách nhiệm hoàn toàn về ATTP của sản phẩm đó và gửi bản tự công bố đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định.

2. Quy định cụ thể các trường hợp được miễn ghi nhãn đối với hàng hóa chứa sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen sử dụng làm thực phẩm, gồm: Thực phẩm biến đổi gen bao gói sẵn có thành phần nguyên liệu biến đổi gen nhưng không phát hiện được gen hoặc sản phẩm của gen bị biến đổi trong thực phẩm; thực phẩm biến đổi gen tươi sống, thực phẩm biến đổi gen chế biến không bao gói và trực tiếp bán cho người tiêu dùng; thực phẩm biến đổi gen sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh.

3. Mở rộng đối tượng cơ sở không thuộc diện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (Điều 12):

So với Nghị định số 38/2012/NĐ-CP thì Nghị định 15 mở rộng đối tượng không thuộc diện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP (Nghị định 38 là 4 đối tượng, Nghị định 15 là 10 đối tượng), cụ thể: Sản xuất ban đầu nhỏ lẻ; Sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định; Sơ chế nhỏ lẻ; Kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ; Kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn; Sản xuất, kinh doanh dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm; Nhà hàng trong khách sạn; Bếp ăn tập thể không có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm; Kinh doanh thức ăn đường phố; Cơ sở đã được cấp một trong các Giấy chứng nhận: Thực hành sản xuất tốt (GMP), Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (IFS), Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC), Chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC 22000) hoặc tương đương còn hiệu lực.

4. Thay đổi về kiểm soát an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu (Điều 13 đến Điều 22)

– Bổ sung thêm các trường hợp được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu bao gồm: Sản phẩm là quà tặng, quà biếu trong định mức miễn thuế nhập khẩu; Sản phẩm quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, tạm nhập, tái xuất, gửi kho ngoại quan; Sản phẩm nhập khẩu chỉ để sản xuất, gia công nội bộ trong cơ sở; Sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sản phẩm.

– Bổ sung quy định chi tiết đối với sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản, sản phẩm thực vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu (trước đây quy định tại Thông tư 25/2010/TT-BNNPTNT và Thông tư 12/2015/TT-BNNPTNT).

– Quy định chi tiết phương thức kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu:

+ Phương thức kiểm tra giảm: Trước đây là kiểm tra hồ sơ đối với tất cả các sản phẩm thuộc diện kiểm tra giảm, Nghị định mới quy định chỉ kiểm tra xác suất tối đa 5% lô hàng do Cơ quan Hải quan chọn ngẫu nhiên và chuyển hồ sơ cho cơ quan kiểm tra nhà nước.

+ Phương thức kiểm tra thông thường: Là chỉ kiểm tra hồ sơ thay vì trước đây là kiểm tra hồ sơ, cảm quan và lấy mẫu kiểm nghiệm nếu có nghi ngờ. Ngoài ra, sau 3 lần kiểm tra thông thường đạt thì được chuyển sang phương thức kiểm tra giảm.

+ Phương thức kiểm tra chặt: Chỉ áp dụng đối với trường hợp sản phẩm có cảnh báo của Bộ quản lý chuyên ngành hoặc cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài hoặc của nhà sản xuất hoặc không đạt yêu cầu nhập khẩu tại lần kiểm tra trước đó.

– Về cơ quan kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu: Là cơ quan được Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT hoặc Bộ Công thương giao hoặc chỉ định so với quy định trước đây chỉ có Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện.

5. Về ghi nhãn thực phẩm: Miễn ghi nhãn phụ đối với một số sản phẩm thực phẩm nhập khẩu (Điều 25).

7. Bổ sung quy định về điều kiện đảm bảo ATTP trong sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe (Điều 28, Điều 29) và Quy định điều kiện đảm bảo ATTP trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng phụ gia thực phẩm (từ Điều 30 đến điều 33).

9. Quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (Điều 36 đến Điều 41):

– Quy định cụ thể nguyên tắc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP trong đó bổ sung:

+ Đối với cơ sở sản xuất nhiều loại sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên thì cơ quan quản lý sản phẩm có sản lượng lớn nhất trong các sản phẩm của cơ sở sản xuất là cơ quan quản lý.

+ Đối với cơ sở không thực hiện công đoạn sản xuất nhưng kinh doanh nhiều loại sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên (trừ chợ đầu mối, đấu giá nông sản) do ngành Công thương quản lý.

+ Đối với cơ sở vừa sản xuất vừa kinh doanh nhiều loại sản phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên thì tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm để thực hiện các thủ tục hành chính.

– Quy định các Bộ quản lý chuyên ngành có trách nhiệm ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm thuộc phạm vi đuợc phân công quản lý; Bộ Y tế ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc quy định về mức giới hạn an toàn đối với các nhóm sản phẩm theo đề nghị của các Bộ quản lý chuyên ngành; Các Bộ quản lý chuyên ngành có trách nhiệm xây dựng và gửi Bộ Y tế ban hành.

– Quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn, Chủ tịch UBND cấp tỉnh trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm. Quản lý điều kiện bảo đảm ATTP cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý.

(Có Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm kèm theo).

Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 37 / 2023

Ngày 20/6, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TƯ ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020. Dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Văn Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị; Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương; Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; Lê Sơn Hải, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; các đồng chí trong Ban chỉ đạo, Tổ Biên tập tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TƯ ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị.

Về phía tỉnh Thái Nguyên có đồng chí Trần Quốc Tỏ, Uỷ viên BCH trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Bùi Xuân Hoà, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Vũ Hồng Bắc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí trong BTV Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; Bí thư các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy; lãnh đạo các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh tham dự Hội nghị.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Báo cáo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 do đồng chí Vũ Hồng Bắc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày tại Hội nghị nêu rõ: Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết, tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, đảng viên từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Thông qua đó đã nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về quan điểm chỉ đạo, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong Nghị quyết. Trên cơ sở tình hình thực tiễn tại địa phương, tỉnh đã lồng ghép các nội dung chỉ đạo tại Nghị quyết vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn hằng năm, 05 năm và các chương trình, đề án phát triển lĩnh vực, các dự án đầu tư phát triển sản xuất lớn, các chương trình, đề án về bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh, làm cơ sở cho việc lập, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh. Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo, ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo; phân công các cấp, các ngành trong tỉnh khẩn trương triển khai thực hiện; tổ chức kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết. Kết quả, Thái Nguyên đã cơ bản hoàn thành, hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết. Kinh tế – xã hội tiếp tục phát triển, một số lĩnh vực có sự phát triển bứt phá; hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch hằng năm; văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường; các chính sách xã hội được quan tâm đúng mức; cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư hoàn thiện; diện mạo của tỉnh từ thành thị đến nông thôn có nhiều khởi sắc; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố.

Tuy nhiên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế, yếu kém: Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Ngân sách dành cho đầu tư chưa đáp ứng được các nhu cầu triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án, công trình trọng điểm. Sản xuất nông nghiệp phát triển chưa thật sự bền vững. Nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quy hoạch chưa đồng bộ, chất lượng một số quy hoạch chưa cao, thiếu tính khả thi; công tác quản lý quy hoạch còn chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào các ngành, lĩnh vực kinh tế-xã hội còn hạn chế. Chưa có chính sách liên kết vùng, hạn chế trong việc nghiên cứu, dự báo xu thế phát triển Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh còn hạn chế. Các “tà đạo”, tổ chức bất hợp pháp tự xưng; tội phạm về ma túy, tệ nạn xã hội còn diễn biến phát sinh. Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị chưa tinh gọn; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đề ra mục tiêu đến năm 2030: Phấn đấu Thái Nguyên là tỉnh công nghiệp phát triển, là một trong những trung tâm kinh tế của vùng Trung du và miền núi phía Bắc với nền kinh tế hiện đại; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; tốc độ tăng trưởng GRDP cao hơn mức bình quân chung của cả nước. GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 265 triệu đồng (theo giá thực tế). Cơ cấu kinh tế năm 2030: Công nghiệp – Xây dựng – Dịch vụ chiếm trên 90%.

Tỉnh Thái Nguyên cũng kiến nghị với Trung ương một số nội dung: Đề nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư tiếp tục có Nghị quyết về phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, làm cơ sở để Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của vùng, sớm đưa vùng đạt được sự phát triển bằng mức bình quân chung của cả nước, góp phần vào sự phát triển chung của cả nước. Đề nghị Quốc hội nghiên cứu xây dựng Luật Dân tộc; đồng thời sửa đổi, bổ sung một số nội dung còn vướng mắc giữa các luật như: Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường… để bảo đảm tính thống nhất trong việc triển khai, thi hành luật. Đề nghị Chính Phủ, các bộ ngành Trung ương có chính sách đầu tư để tạo mối liên kết vùng, trong đó ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối các địa phương trong vùng và liên vùng; xử lý các vấn đề môi trường của vùng như vấn đề bảo vệ nguồn nước lưu vực Sông Cầu, xử lý rác thải…

Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe các báo cáo tham luận của các địa phương đơn vị: Công an tỉnh, Sở Giao thông Vận Tải, Đại học Thái Nguyên, Đảng bộ thành phố Thái Nguyên, huyện Định Hóa Sở Công Thương, Sở Văn hoá Thể Thao và Du lịch. Đồng thời nghe ý kiến tham gia đóng góp của các đồng chí Thứ trưởng các bộ Giao thông Vận tải, Công Thương, Ủy ban Dân tộc… vào nội dung báo cáo.

Phát biểu chỉ đạo, thay mặt Ban chỉ đạo Trung ương, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị đánh giá cao sự chuẩn bị Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37 một cách nghiêm túc, công phu, có trách nhiệm của tỉnh. Đồng chí cũng bày tỏ ấn tượng và đánh giá cao về các kết quả tỉnh Thái Nguyên đạt được trong giai đoạn triển khai thực hiện Nghị quyết 37. Đánh giá cao sự chủ động, sáng tạo, quyết liệt trong chỉ đạo của Tỉnh ủy, BTV Tỉnh ủy; việc triển khai bài bản của UBND tỉnh trong thực hiện Nghị quyết thể hiện trong một số nội dung như: Chính sách cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; công tác quy hoạch đồng bộ, bài bản; chính sách liên kết vùng được triển khai trong phát triển hạ tầng, du lịch, bảo vệ môi trường; chính sách phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, bố trí lại dân cư, xây dựng nông thôn mới. Đồng chí cũng gợi mở một số vấn đề để Tỉnh ủy Thái Nguyên tiếp tục đánh giá và bổ sung vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn tiếp theo: Cần đánh giá sâu sắc vị trí, vai trò, chức năng của tỉnh với tư cách là “cực tăng trưởng” của vùng, làm rõ hơn quy mô của khu vực FDI trong quy mô nền kinh tế của tỉnh, sự phát triển của kinh tế tư nhân và việc tạo lập môi trường để kinh tế tư nhân “khởi nghiệp” và phát triển trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Cần xác định các ngành chủ lực, các sản phẩm chủ lục (đột phá và mũi nhọn); đồng thời cần nhấn mạnh hơn về chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào đổi mới, sáng tạo và tăng năng suất. Mạnh dạn đề xuất trở thành trung tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của vùng trên cơ sở lấy Đại học Thái Nguyên làm trụ cột.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Trần Quốc Tỏ, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh khẳng định: Nghị quyết số 37 và Kết luận số 26 của Bộ Chính trị đã thực sự đi vào cuộc sống và trở thành một chủ trương lớn, một định hướng mang tầm chiến lược, một động lực quan trọng làm thay đổi nhiều về kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh và đổi mới theo hướng tích cực. Thay mặt Thường trực Tỉnh ủy, BTV Tỉnh ủy, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cần thống nhất cao về nhận thức: Xác định địa bàn vùng trung du và miền núi Bắc Bộ trong đó có tỉnh Thái Nguyên có vị trí chiến lược, cần có sự phát triển nhanh, toàn diện và bền vững. Tiếp tục tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực, sức chiến đấu trong toàn đảng bộ. Huy động tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế một cách đồng bộ, toàn diện; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh. Tập trung nguồn lực đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm, cấp bách; các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy lợi thế địa bàn, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân khép kín, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng, Trưởng Ban Kinh tế TW trao Bằng khen cho các cá nhân xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TƯ của Bộ Chính trị

Nhân dịp này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đã tặng Bằng khen cho 23 tập thể, 10 cá nhân vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 37.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2004 – 2018.– Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân giai đoạn 2004-2018 tăng 12,8%/năm, giai đoạn 2004-2008 là 10,73%, giai đoạn 2009-2013 là 7,9%, giai đoạn 2014 đến nay là 20,13%; trong đó năm 2015 tăng cao nhất là 33,2%. – Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp. Năm 2018, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng chiếm 57,2%; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm còn 10,9%. – GRDP bình quân đầu người tăng từ 5,9 triệu đồng năm 2004 lên 77,7 triệu đồng năm 2018 (gấp 13 lần); tương đương 3.370 USD/người/năm (mục tiêu đến năm 2020 theo Nghị quyết 37-NQ/TW là 2.000 USD/người/năm). – Kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt 25.066,2 triệu USD, gấp 857 lần năm 2004; là tỉnh đứng đầu vùng trung du và miền núi Bắc Bộ và đứng thứ 4 cả nước về kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 10,2% vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước. – Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2018 đạt 15.023 tỷ đồng (gấp 34,7 lần năm 2004), tăng bình quân trên 26,3%/năm. – Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2018 đạt 55.188 tỷ đồng (gấp 15,7 lần năm 2004). – Số xã đạt chuẩn nông thôn mới đến hết năm 2018 là 88 xã, dự ước đến hết năm 2019 có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 101 xã (về trước 01 năm so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX). – Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội khác về cơ bản đều hoàn thành và vượt kế hoạch giao hàng năm và kế hoạch 5 năm.

Nguồn: chúng tôi Thu Hà – Thanh Hiếu