Top #10 ❤️ Soạn Văn Bản Phá Vây Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Sachkhunglong.com

Nhà Văn Phù Thăng Và Những Ngày… “phá Vây”

Xuân Sách Nói Về Phá Vây Của Phù Thăng

Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng (Ngắn Gọn)

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Ngắn Gọn Và Hay Nhất

Soạn Bài: Phương Pháp Thuyết Minh

Niềm vui dù đến với bác Phù Thăng thật muộn màng, nhưng đó cũng là nỗi niềm chung của nhiều tác giả. Trong số 38 tác giả khối văn học được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2012 có đến 14 tác giả đã qua đời. Phù Thăng cũng nằm trong số ấy.

Trước đây tiểu thuyết “Phá vây” mang đến cho Phù Thăng nhiều phiền lụy thì nay chính tác phẩm đó lại mang về cho ông vinh quang lớn. Khi xem Đài truyền hình tường thuật trực tiếp cuộc trao giải, nước mắt tôi ứa tràn. Phải chi cuộc trao giải này diễn ra 5 năm về trước thì bác Phù Thăng được bước lên bục vinh dự cùng bao tác giả khác. Nay bác đã đi xa rồi…

Nhớ lại những lần về thăm vợ chồng bác Phù Thăng, hình ảnh tôi nhớ nhất là nụ cười đôn hậu của cả hai bác khi mời chúng tôi thưởng thức những món “cây nhà, lá vườn”. Ngôi nhà cấp bốn của hai bác tọa lạc ngay bìa làng, dù đường vào chỉ là đường đất nhưng ôtô vẫn có thể vào tới cổng. Ngôi nhà có 3 gian chính. Một gian được ngăn làm buồng, một gian kê tủ thờ và chiếc bàn nhỏ tiếp khách, một gian vừa kê giường, vừa kê giá sách và bàn làm việc của bác Phù Thăng. Những lần về thăm bác, chúng tôi thường uống nước xong là ra ngồi trên chiếc giường cạnh bàn làm việc của bác. Gọi là bàn làm việc nhưng đó cũng chỉ là chiếc bàn uống nước bằng kính kê cạnh chiếc ghế đi văng. Trên tường là giá sách với nhiều cuốn sách bạn bè bác gửi tặng. Những năm chúng tôi thường xuyên về thăm bác (khoảng từ năm 1997 đến năm 2004) thì ở Hải Dương chưa phổ cập vi tính, càng chưa có mạng Internet, nhà bác chỉ có điện thoại bàn. Nhưng chúng tôi cũng chẳng bao giờ gọi điện trước, cứ nhớ bác thì về hoặc đi công tác tiện đường là tạt qua. Chưa lần nào chúng tôi đến mà bác vắng nhà. Khi chúng tôi nói chúng tôi đã đọc bài về bác trong “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa, bác tủm tỉm cười và bảo: “Ôi dào, những chuyện đã qua cứ để cho qua, các bạn còn trẻ cứ viết đi, viết theo sự thôi thúc của trái tim mình là được”. Chúng tôi hiểu rằng bác không muốn khơi lại chuyện buồn, nhưng tôi vẫn cố hỏi thêm hai chi tiết, một là bản thảo của bác bọc lá chuối để trong chum; hai là truyện ngắn “Hạt thóc” đã in ở đâu. Bác bảo đúng là mình có cho bản thảo vào chum như Khoa viết, còn truyện “Hạt thóc” thì mình mới có ý tưởng như thế rồi kể cho bạn bè nghe chứ chưa viết ra. Rồi bác kể về những bạn bè của bác những ai thường đến thăm, những ai lâu không gặp, nếu các bạn có gặp thì cho mình gửi lời thăm…

Nhà văn Phù Thăng trên khai sinh là nguyễn Trọng Phu, sinh ra và lớn lên tại làng Phù Tinh, xã Trường Thành, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1940 bác cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại thôn Tất Lại, xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ cùng trong tỉnh. Phụ thân của bác Phù Thăng là một chức dịch hàng Tổng, nhưng cụ không theo phong cách làm việc của đa phần chức sắc lúc bấy giờ – họ thường hách dịch, vơ vét của dân. Cụ thì hiền lành, nhân hậu, luôn làm việc vì dân và thương những người nghèo. Cụ hiền hậu đến mức cụ tên là Nguyễn Trọng Bật, đáng lẽ dân làng gọi cụ là Tổng Bật thì mọi người thường gọi chệch đi là Tổng Bụt, ý nói cụ hiền như Bụt và cũng kính trọng cụ như Bụt. Cũng vì luôn yêu quí bà con trong làng, trong tổng nên năm 1955, khi cải cách ruộng đất, nhân dân thôn Phù Tinh đã cứu cụ thoát khỏi án oan, dù lúc đó gia đình cụ đã chuyển sang làng Tất Lại, huyện Tứ Kỳ. Bác Phù Thăng rất yêu quí cha mình và thể hiện tình yêu ấy một cách khác thường. Khi cha mất rồi, trên chiếc ghế ngồi của Phù Thăng luôn vắt tấm áo của cha. Thân mẫu của Phù Thăng là người hiền thục, tuy không được học chữ nhưng tâm hồn rất phong phú và đa cảm. Cụ thường dành dụm tiền đưa cho con trai đi thuê những cuốn truyện cổ về đọc cho mình nghe. Có đoạn quá thương cảm, cả hai mẹ con cùng khóc. Chính người cha đức độ và người mẹ tinh tế ấy đã truyền lại cho Phù Thăng một tính cách ngay thẳng, một bản lĩnh vững vàng và một tâm hồn lãng mạn. Tất cả những phẩm chất đó tạo nên một nhà văn, nhà biên kịch Phù Thăng sau này.

Nhà văn Phù Thăng bắt đầu đến với văn chương khi hòa bình lập lại trên miền Bắc. Bấy giờ, bác đang là giáo viên Trường Bồi dưỡng văn hóa của Quân khu III. Truyện ngắn đầu tiên “Con những người du kích” bác gửi đến tạp chí Văn nghệ Quân đội đúng lúc tạp chí đang có cuộc thi viết về “Những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội”. Và truyện ngắn ấy đã đoạt giải Nhì của cuộc thi (cuộc thi không có giải nhất). Sau thành công bước đầu này, lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện và dành thời gian cho Phù Thăng sáng tác. Năm 1960, trường ca “Hoa vạn thọ” của Phù Thăng đoạt giải B trong cuộc thi thơ của tạp chí Văn học (cùng đoạt giải B với Phù Thăng là nhà thơ Nguyễn Bính). Hiếm có tác giả nào trong một thời gian ngắn lại đoạt 2 giải cao cả về văn lẫn thơ như Phù Thăng. Thời gian này, Phù Thăng là một trong số rất ít tác giả có nhiều đầu sách ra đời. Tiểu thuyết “Trận địa mới”, NXB Quân đội nhân dân in năm 1960; tập truyện ngắn “Chuyện kể cho người mẹ”, NXB Văn học in năm 1960; truyện vừa “Thử lửa”, NXB Quân đội nhân dân in năm1961; tiểu thuyết “Phá vây”, NXB Quân đội nhân dân in năm 1962; truyện vừa “Con nuôi trung đoàn”, NXB Kim Đồng in năm 1965.

Theo nhà thơ Xuân Sách thì chỉ trong vòng hơn 1 tháng dự trại viết do Tổng cục Chính trị mở, Phù Thăng đã viết xong cuốn tiểu thuyết “Phá vây” có độ dài trên 600 trang in. Những ai từng dự trại sáng tác chắc đều biết người viết văn xuôi khổ cực như thế nào. Ngày nay, thông thường với thời gian hơn một tháng, dù có máy vi tính trợ giúp thì tác giả chỉ hoàn thành một, hai truyện ngắn hoặc vài chương tiểu thuyết đã được coi là tích cực rồi. Thế mà ngày ấy bác Phù Thăng viết bằng bút thường, vài chữ lại phải chấm vào lọ mực, trong thời gian ngắn ngủi ấy bác đã viết hàng ngàn trang (thì mới có hơn 600 trang in). Tiểu thuyết “Phá vây” đã gây được tiếng vang lớn, nhưng rồi sau đó tác giả gặp phiền hà vì một số quan niệm quá ngặt nghèo lúc đó. Trước tiểu thuyết “Phá vây”, Phú Thăng được điều chuyển từ Trường Bồi dưỡng văn hóa của Quân khu III lên Phòng Văn nghệ của Tổng cục Chính trị và được thăng quân hàm Thiếu úy. Sau “Phá vây”, bác được điều chuyển xuống Xưởng phim Quân đội, rồi lại chuyển sang Xưởng phim truyện cho đến lúc về hưu (1980). Thời gian làm việc ở hai xưởng phim, bác đã viết kịch bản và biên kịch nhiều phim, tiêu biểu như: Kịch bản phim “Quê nhà”, kịch bản phim “Nguyễn Văn Trỗi”, kịch bản phim truyện “Biển lửa”, biên kịch phim “Tiếng gọi phía trước”. Các phim này đều được tặng giải Bông sen Vàng, Bông sen Bạc trong các kỳ liên hoan phim Việt Nam từ lần thứ nhất đến lần thứ tư.

Thời gian nghỉ hưu ở quê nhà, bác được mời tham gia viết lịch sử Trung đoàn 42, rồi bác viết bản thảo cuốn tiểu thuyết “Tấn công” là phần tiếp theo của cuốn “Phá vây”, vẫn viết về những người lính dũng cảm của Quân khu III. Thời gian nghỉ hưu ở quê, một phần do tuổi cao, một phần do hoàn cảnh, bác Phù Thăng không còn “cày” nhiều trên trang giấy như trước mà bác dành sức lực và thời gian cày trên cánh đồng thực thụ, để lấy thóc, lấy ngô, khoai nuôi các con. Dù tuổi cao, sức yếu (cơ thể chưa đầy 40 kg), vậy mà bác nhận tới 7 sào ruộng khoán, rồi lại nhận chinh phục những con trâu ngang ngược, dữ dằn nhất như con trâu Sứt, đến nỗi dân làng quen gọi là ông Phu Sứt. Có lần tôi hỏi bác, sao bác phải làm nhiều như vậy, có phải vì gia đình quá khó khăn không? Bác cười bảo, lý do đó chỉ là một phần thôi, cái chính là mình thích lao động, mình yêu cây lúa, cây ngô, cũng như yêu những con chữ trên trang giấy vậy. Mình đã về làng quê thì cũng phải làm một lão nông ra trò chứ.

Năm 1994, sau rất nhiều nỗ lực thuyết phục của bạn bè và lớp đàn em như Nguyễn Huy Khoát, Ngô Bá Thước, Nguyễn Ngọc San, bác Phù Thăng mới chịu trở thành Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Hải Hưng. Lúc đó bác đã sống ở quê đến 15 năm rồi. Không phải bác không biết tới Hội, cũng không phải bác coi thường Hội Văn nghệ địa phương như một số người lầm tưởng, mà bác ngại vốn cạn rồi, vào Hội lại không đóng góp được gì với Hội thì buồn lắm. Cũng vì cái tâm lý này mà chưa bao giờ bác làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Chỉ vì bác ngại mình không đóng góp được gì và cảm thấy mình hơi lạc lõng thôi. Hội Văn nghệ Hải Hưng trước kia và Hải Dương sau này luôn luôn kính trọng bác, yêu quí bác, coi bác như người anh cả trong số các hội viên.

Những năm nửa sau của cuộc đời, bác Phù Thăng viết ít và in càng ít (chỉ thỉnh thoảng in một bài thơ), nhưng bạn bè, độc giả lại dành tình cảm cho bác ngày một nhiều. Năm 2003, Nhà Xuất bản Hải Phòng đã cho tái bản tiểu thuyết “Phá vây”. Có lẽ đây là niềm vui lớn với bác Phù Thăng nói riêng và với bạn đọc nói chung. Nếu không tái bản thì ngày nay bạn đọc, nhất là các bạn trẻ khó lòng tìm được tác phẩm này. Khi bác Phù Thăng từ bỏ thế giới này, nhiều nhà văn, nhà thơ, bạn đọc đã đến tận thôn Tất Lại để đưa bác về nơi an nghỉ cuối cùng. Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh cũng đã mang vòng hoa đến tiễn đưa Phù Thăng ra tận cánh đồng làng, mặc dù chưa bao giờ bác Phù Thăng là hội viên Hội Nhà văn.

Một lần bác Phù Thăng yếu mệt, tôi đến thăm và muốn xin bác ghi cho vài điều gì đó, cũng là để lưu bút tích của bác. Tôi đưa bác cuồn sổ tay của mình. Chừng 15 phút sau bác đưa lại và nói: “Hiền Hòa xem, ý của mình là thế này, vừa là tặng riêng vừa là tặng chung cho các bạn viết trẻ”. Tôi đón nhận cuốn sổ và cảm động gai người khi đọc xong bài thơ. Tôi cố nói vui để ngăn nỗi nghẹn ngào “Xin cảm ơn đại ca”. Bài thơ đó như sau: “Rất mong em Hiền Hòa/ Trong đời như giọt nước/ Trong nhà như tiếng ru/ Trong tình như mật ngọt/ Nhưng văn chương cần lửa/ Và như thép xanh nòng/ Thơ cũng là bão tố/ Quét sạch những bất công/ Xua đi và bồi đắp/ Nỗi buồn và niềm vui/ Đời vẫn là như thế/ Yêu – yêu thật say mê/ Ghét – ghét cay ghét đắng/ Nhưng tình người phải thắm/ Giữ trong ta dài lâu”.

Nay bác Phù Thăng đã đi xa rồi, những vần thơ viết vội của bác đã trở thành món quà vô giá với tôi. Những vần thơ này cũng chính là phương châm của người cầm bút, yêu ghét phải rõ ràng, phải hết mình, phải sâu sắc. Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là tình người phải thắm và phải giữ dài lâu.

Nguồn: cand.com

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Phò Giá Về Kinh Của Trần Quang Khải

Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài ‘phò Giá Về Kinh’

Soạn Bài Phò Giá Về Kinh

Soạn Bài Phò Giá Về Kinh (Siêu Ngắn)

Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng Ngắn Gọn Nhất

Xuân Sách Nói Về Phá Vây Của Phù Thăng

Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng (Ngắn Gọn)

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Ngắn Gọn Và Hay Nhất

Soạn Bài: Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Ngắn Nhất

Xuân Sách viết về PHÁ VÂY của Phù Thăng

Thiếu úy Nguyễn Trọng Phu là lính trinh sát của Trung đòan 42 nổi tiếng, chiến đấu trong vùng địch hậu thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Anh có năng khiếu và máu mê văn chương. Tác phẩm đầu tay truyện ngắn “Con những người du kích” đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1958 được giải cao trong cuộc thi với bút danh ngồ ngộ: Phù Thăng, đó là cách nói lái “thằng Phu”. Thằng Phu có thân xác nhỏ thó, còm cõi, trọng lượng du di trong khỏang từ 37-42 kg. Vì sao anh trụ lại được trong bộ đội, lại là trinh sát vừa cực nhọc vừa nguy hiểm. Đấy là nhờ có cái đầu to quá khổ và cặp mắt sáng trưng. Nhờ cặp mắt và trí nhớ cực tốt mà anh làm được trinh sát.

– Chào anh, tôi đã đọc “Con những người du kích”

– Tôi cũng vừa đọc cái “Đứa con” của anh trên báo Quân đội nhân dân.

Phù Thăng hỏi tôi:

– Con có khóc mẹ mới cho bú, ta cũng phải trinh sát xem thực hư thế nào, nếu trời phù hộ hai thằng mình được về trại thì đúng là lên thiên đường. Tôi đã tích lũy được một số vốn kha khá trong cuộc chiến địch hậu, ông biết rồi đấy, ở đơn vị mình có viết một cái truyện ngắn cũng phải dấu giếm kín đáo, muốn viết dài hơi phải có thời gian và điều kiện. Xong việc công trường ông về Hà Nội vào Tạp chí Văn nghệ quân đội thăm dò xem sao. Nào ta cạn chén với niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng.

Sau đó chúng tôi được gọi về dự trại sáng tác của Tạp chí VNQĐ thật. Trại đặt ở Thanh Liệt ngoại thành. Ở trại Phù Thăng viết tiểu thuyết Phá vây khiến tiếng tăm nổi như cồn, nhưng cũng vì Phá vây mà anh phải hứng chịu một tai nạn cực kỳ vô duyên và đắng cay tới số.

Nhà văn Phù Thăng

Hồi đó chúng tôi còn trẻ, làm lính nếm mùi bom đạn nên bớt sợ súng, còn về văn chương thì đúng là “điếc không sợ súng”. Chúng tôi lao vào công việc như trâu bò, trời nóng, không có quạt, điện chập chờn chỉ có mấy bóng đèn đỏ quạch, đêm muốn viết phải chong đèn dầu, sáng ra thằng nào thằng nấy lỗ mũi đen xì vì hít muội khói. Hoàng Văn Bổn xương xẩu vêu vao cày đã ghê nhưng còn kém Phù Thăng một bậc. Trong vòng hơn một tháng hắn viết được hơn ba trăm trang bản thảo. Viết bằng bút thường chấm mực trên khổ giấy pơ luya mỏng đặt trên tờ bìa dày có kẻ hàng làm chuẩn. Chữ hắn đều tăm tắp đẹp mê hồn. Sau này đưa xuống nhà in công nhân cứ thế sắp chữ lên khuôn in ra trên 600 trang (có thể ghi vào kỷ lục Ghinet).

Phá vây bán chạy như tôm tươi, dư luận khen ngợi. Đề tài chiến tranh địch hậu còn mới, là quyển sách hay vào thời đó (1961). Tiền nhuận bút so với bây giờ là rất cao. Trên ba ngàn đồng, trừ ăn khao Phù Thăng còn xây được ngôi nhà ở quê cho cha mẹ, hắn khoe với tôi không kém gì nhà chánh tổng và coi như đã làm được việc báo hiếu.

Thời đó người viết ít, có sách được in càng hiếm. Thơ văn thường in chung, ai giỏi lắm mới được in riêng một tập trên dưới trăm trang có hàng chữ ngang trên đầu “Tác phẩm đầu mùa”. Năm 1962 tôi cũng được Nhà xuất bản Văn học cho in một tác phẩm đầu mùa chưa được trăm trang mà đã sung sướng lắm. Huống chi Phù Thăng xuất hiện với cuốn tiểu thuyết dày cộp, lại được dư luận chú ý thì quả là một hiện tượng. Cứ thế mà “phù nổi” mà “thăng thiên” thì cũng không có gì quá đáng. Khao bạn bè ở cửa hàng nổi tiếng với menu tám món trên phố Hàng Buồm giá cố định cứ 5 đồng một người. Khổ chủ Phù Thăng đặt vò ruợu nút lá chuối khô lên bàn tuyên bố :

– Tôi định chiêu đãi các ông suất 10 đồng, nhưng quy định ở đây chỉ có thế, vò ruợu này tôi lên tận làng Vân mua về mời các ông chiếu cố.

Một người nâng cốc:

– Nào chúng ta cùng cạn chén …phá vây cùng tác giả.

Vậy mà tai họa ập đến như tiếng sét giữa trời quang. Năm 1962 ở Liên Xô nảy nòi một bọn “xét lại”, chống đường lối xây dựng CNXH, xét lại chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Nước ta phải hưởng ứng việc ngăn chặn loại trừ tận gốc tư tưởng đó càng nghiêm càng tốt. Tôi không hiểu vì sao, lần này và nhiều lần sau nữa, cứ có biến động chính trị xã hội gì xảy ra thì người ta chọn ngay giới văn nghệ để tiến hành đấu tranh tư tưởng trước và ưu tiên cho các tác phẩm văn học. Và hai tác phẩm “điển hình” lần này là “Vào đời” của Hà Minh Tuân và “Phá vây” của Phù Thăng.

Nhà văn Hà Minh Tuân lúc này đang là Giám đốc Nhà xuất bản Văn học. Trước Vào đời ông đã có hai tiểu thuyết là Trong lòng Hà Nội và Hai trận tuyến. Tiểu thuyết nghiêng về hồi ký. Ông họat động từ thời “tiền cách mạng”, là một trong những chỉ huy cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và bảo vệ Thủ đô thời 45-46. Nhưng ông rẽ sang đường văn, nếu không đã làm to. Ông được anh em nhà văn yêu mến tin cậy bởi quan niệm, cách làm việc và nhất là tư cách của ông. Khi viết xong “Vào đời” dù in ở “nhà mình” ông vẫn cẩn trọng đưa cho anh em biên tập đọc, còn có hàm ý muốn được góp ý vì các biên tập viên đều là bậc đàn anh trong nghề như chị Anh Thơ, anh Quang Dũng, anh Xuân Hoàng vv… Tác phẩm này ông viết về đề tài hiện đại, lớp thanh niên mới vào đời, tích cực là chính, tiêu cực so với thực tế lúc đó cũng chưa là gì cả, chỉ như gảy vài cái mụn ghẻ trên cơ thể. Ban biên tập đọc xong bàn riêng với nhau :

Văn chương của cụ như vậy cũng là được, suôn sẻ, chỉn chu, còn nội dung tư tưởng thì khỏi lo, cụ mà còn “mất lập trường” nữa thì cánh chúng ta đi tù cả nút.

– Cám ơn anh có lời hỏi thăm, tôi chuyển sang Bộ Thủy sản làm ở Vụ Cá nước lợ.

Lần đầu tiên trong đời tôi nghe tên một cơ quan như vậy. Rồi ông cầm tay tôi nói tiếp:

Và lần ấy tôi đã viết chân dung ông với dự cảm không lành đó :

Bốn mươi tuổi mới vào đời

Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ

Giữa hai trận tuyến ngu ngơ

Trong lòng Hà Nội bây giờ ở đâu

Còn “Phá vây” như tôi đã nói ở trại viết tất cả các bản thảo đều được tác giả đọc trước toàn thể trại viên để đóng góp ý kiến. Phá vây đọc ròng rã trong hai ngày. Trong buổi góp ý gần như mọi người đều đánh giá tốt, không có “vấn đề” về nội dung, chỉ có một số ý kiến về chi tiết để tác giả sửa chữa. Hôm đọc có cả đại biểu đặc biệt là biên tập viên Nhà xuất bản Quân đội. Sau khi sửa chữa lần cuối,bản thảo được đưa về Nhà xuất bản làm thủ tục rồi đưa luôn xuống nhà in không cần đánh máy. Thời bấy giờ in một cuốn sách dày như Phá vây mất rất nhiều thời gian, và đã xảy ra một chuyện ngoài dự đoán của mọi người.

Trong thời gian theo dõi và chữa bông ở nhà in, Phù Thăng được đọc cuốn “Tấc đất”, cuốn sách viết về chiến tranh vệ quốc của Liên Xô do Nhà xuất bản Quân đội dịch và in. Tác giả Phá vây rất thích cuốn này, bởi Liên Xô đã qua chiến tranh hơn một thập kỷ, tác giả Tấc đất với độ lùi thời gian đã thể hiện chiến tranh với những khía cạnh mặt trái. Từ cảm nhận đó Phù Thăng có ý muốn sửa chữa đôi chỗ trong tác phẩm của mình. Sách đã lên khuôn không thể sửa nhiều, anh chỉ thêm một đọan cho nhân vật chính của mình được đa dạng phong phú hơn trong tư tưởng. Đọan văn “oan nghiệt” đó lúc in ra chỉ được hơn chục dòng ở đọan cuối trang 147. Vậy mà trong chiến dịch kia người ta đã “soi” đúng những dòng đó và kết luận:

“Người chiến sĩ đi chiến đấu bảo vệ đất nước mà còn tính toán được mất thì đấy là tư tưởng của lái trâu”.

Và lão “lái trâu” Phù Thăng lập tức ăn đòn, anh bị ra khỏi quân đội chuyển sang xưởng phim. Đấy là kỷ luật không nhẹ thời đó. Phù Thăng là người có nghị lực không chịu gục ngã. Sang cơ quan mới anh viết kịch bản “Biển lửa” được dựng thành phim. Anh còn in tập truyện ngắn “Chuyện kể cho người mẹ” và tập sách cho thiếu nhi “Đứa con nuôi của Trung đoàn”. Người ta chưa quên Phá vây và lần này tập sách viết cho thiếu nhi cũng bị soi và tìm ra vết. Lúc này lại xảy ra một chuyện nữa, đạo diễn nổi tiếng Phạm Văn Khoa dựng phim Chị Dậu, ông chọn một số diễn viên là nhà văn. Cụ Nguyễn Tuân vai chánh tổng, Kim Lân vào vai Lý trưởng còn Phù Thăng vinh dự được nhận vai thằng Mõ. Một sự lựa chọn xác đáng, anh chàng có cái đầu to người nhỏ lại thiếu hai cái răng cửa, da đen đúa đánh một hồi mõ,há cái miệng rộng: Chiềng làng chiềng chạ y chang thằng mõ hết chê. Máy đã bấm không hiểu tại sao cái “tin dữ”đó bay về tận cái làng Tất Lại Thượng, Tứ Kỳ, Hải Dương quê anh.Và người nhà lên tận Hà Nội kéo Phù Thăng về quê.

Họ Nguyễn Trọng họp chất vấn:

– Cái họ này đã đến nỗi nào mà anh đang tâm bôi xấu, tưởng anh đã làm ông này ông nọ, sao lại đổ đốn đi làm thằng mõ?

– Cái số thằng mõ của tôi bị hãm từ thơì còn trẻ. Hồi còn ở trinh sát tôi đã bị nghi ngờ là có tư tưởng Trốtkít.

– Tôi không rõ ,nhưng có lẽ ông Vũ dính đòn vì thằng Xuân “tóc đỏ”

Tôi nắm tay Phù Thăng :

– Cảm ơn ông đã cho tôi một ý hay.

Về Hà Nội tôi viết liền hai chân dung, một về Phù Thăng:

Chuyện kể cho nguời mẹ nghe

Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang

Đứa con nuôi của Trung đoàn

Phá vây xong lại chết mòn trong vây

Và bài thứ hai về Vũ Trọng Phụng:

Đã đi qua một thời giông tố

Qua một thời cơm thầy cơm cô

Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ

Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ

Trích thư Phù Thăng gửi Xuân Sách ngày 23 /10 /1992 (khi ” Chân dung nhà văn” được xuất bản):

“Mình chưa được đọc nó, nên không biết phải nghĩ thế nào trước dư luận khen chê hiện nay (có khi bản thân ông thì cũng cóc cần các thứ dư luận ấy), nhưng vì tôi là bạn từ thuở hàn vi, đã cùng ông trải bao điều cay đắng nên không thể “mũ ni che tai” được. Tôi thực sự lo ngại cho những ngày còn lại trên cuộc đời bão giông trong lúc lưng ông đã còng, chân ông đã mỏi, mà tôi không biết phải làm gì cho bạn trong hoàn cảnh “ốc còn chưa mang nổi mình ốc”.

Có bao giờ ông trở lại mảnh đất của thời thanh niên sôi nổi nữa không? Mình khao khát được trông thấy ông một lần trước khi ra đi mãi mãi

Mình đang sống “yên phận chăng”? Đúng và không đúng!Mình vẫn muốn đổi thay, vẫn muốn lồng lên đấy, nhưng lực bất tòng tâm rồi. Càng thấm thía câu thơ của Trần Huyền Trân trong “Độc hành ca”2 :

Ngựa hồ thôi gió bấc nào đạp chân. Phải có con ngựa nào không đạp chân khi gió bấc về? Có con ngựa nào không muốn tung vó khi gió của thảo nguyên đang gọi?…

Trích thư Xuân Sách gửi Phù Thăng ngày 15/11/1992

…Từ khi cái “của quí” của tôi ra đời, tôi đã nhận được nhiều thư từ, nhiều bạn cũ bạn mới đến thăm, nhiều cuộc gặp gỡ nhưng khi nhận thư ông tôi thực sự xúc động. Nói cho cùng đời vẫn đáng sống ông ạ. Dĩ nhiên so với ông tôi có khấm khá hơn, điều đó làm tôi càng thương ông .

Chuyện về tập chân dung thì dài lắm, đến nỗi tôi có đủ tư liệu để viết một quyển sách về nó. Thư, tài liệu trong nước ngoài nước, nhưng hay nhất là thái độ của mọi người đối với nó, qua đó có nhiều ngẫm nghĩ về sự đời sự người thật thú vị. Có thể tóm tắt cho đến lúc này sự phản đối thấp hơn so với dự kiến của tôi, sự hoan nghênh thì ngược lại, đến nỗi tôi phải luôn tâm niệm câu thơ:

“Vị tướng không chết ở chiến trường, nhưng có thể chết vì tiếng kèn chiến thắng”. Tôi cũng không đánh giá tập thơ có gì “ghê gớm”, nhiều người thích nó bởi cái xu hướng người ta muốn biết sự thật, thích sự trung thực và can đảm. Có đứa em cọc chèo viết thư cho tôi vẻn vẹn một câu : ” Anh Sách ơi anh có thể chết được rồi.” Nhưng tôi làm sao chết được. Tôi định nghỉ công việc nhà nước, dùng thời gian để viết, để đi ngao du Nam Bắc một chuyến đi ấy nhất định tôi sẽ chấm cái “điền trang” của ông là một điểm dừng trong cuộc hành trình mới thỏa .

Chú thích: Di cảo của nhà văn Xuân Sách, được con trai ông, anh Ngô Nhật Đăng cung cấp cho chúng tôi

Nhà Văn Phù Thăng Và Những Ngày… “phá Vây”

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Phò Giá Về Kinh Của Trần Quang Khải

Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài ‘phò Giá Về Kinh’

Soạn Bài Phò Giá Về Kinh

Soạn Bài Phò Giá Về Kinh (Siêu Ngắn)

Luật Chơi Cờ Vây Từ A

Bốc Bát Họ Là Gì? Khái Niệm Cũng Như Luật Chơi Ra Sao?

Luật Chơi Bida Chi Tiết, Đầy Đủ Mà Game Thủ Bida Cần Biết

Lao Động Đặc Thù Là Gì Theo Quy Định?

Daca Là Gì? Tại Sao Trump Muốn Hủy Bỏ Daca?

Visa Đặc Định Là Gì? 10 Vấn Đề Quan Trọng Phải Biết Về Visa Tokutei Ginou Nhật Bản!

1. Giới thiệu về bàn cờ vây

Bàn cờ hình vuông có kích thước tiêu chuẩn là 19×19, các đường này kết hợp với nhau tạo thành 361 giao điểm đại diện cho 361 ngày âm lịch.

9 chấm đen trên bàn cờ gọi là sao, sao chính giữa gọi là thiên nguyên – trung tâm của vũ trụ

4 góc trên bàn cờ còn biếu tượng cho 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông

Có tất cả 361 quân cờ đen trắng đại diện cho ngày và đêm, trong đó có 181 quân đen và 180 quân trắng.

Người chơi phải đặt các quân cờ vào những nút giao còn trống, không được đặt trong các ô vuông trên bàn cờ.

Sau khi một quân cờ được đặt lên bàn, quân cờ đó sẽ không thể di chuyển

Quân cờ có thể bị bắt, loại ra khỏi bàn cờ khi nó đã hết khí và bị bao vây bởi cờ đối thủ

Khi đến lượt đánh, 1 bên bỏ lượt thì quyền đánh thuộc về đối phương. Ván cờ kết thúc khi có một bên chịu thua hoặc hai bên không muốn thực hiện thêm nước đi nào nữa

Ở mỗi lượt đánh các bên đều có thời gian quy định, nếu hết thời gian mà người chơi không không bỏ lượt và đánh quân cờ thì sẽ bị xử thua do hết thời gian

Xác định thắng thua bằng cách đếm vùng lãnh thổ cùng với quân cờ bị bắt và điểm komi (số điểm thêm vào tổng điểm quân trắng tạo thế cân bằng khi cho quân đen nhiều quân hơn và được đi trước). Bên nào có tổng điểm cao hơn sẽ giành chiến thắng

Vùng đất: Là các giao điểm trống trên bàn cờ

Khí: Là các giao điểm trống nằm cạnh quân cờ

Tù binh: Là các quân cờ bị đối phương bao vây và hết khí. Các quân cờ nãy sẽ được đưa ra khỏi bàn và làm căn cứ tính điểm thắng thua cuối ván đấu.

Điểm hết khí: Quân cờ vẫn còn một vài giao điểm trống nhưng lại bị cờ đối phương bao vây không có đường thoát.

luật chơi cờ vây

Categorised in: Tin tức

This post was written by cadoadmin

Luật Chơi Baccarat Dành Cho Người Nhập Môn

Quy Luật Cung Cầu Là Gì? Tìm Hiểu Về Quy Luật Quy Cung Cầu

Qui Luật Cung (The Law Of Supply) Là Gì?

Qui Luật Cung Cầu (Law Of Supply And Demand) Là Gì? Xây Dựng Qui Luật Cung Cầu

Khái Niệm Quy Luật Cung Cầu Là Gì?

Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản

Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản Văn Học

Soạn Bài Vượt Thác (Võ Quảng)

Soạn Bài Vượt Thác Ngắn Nhất

Soạn Bài Vượt Thác, Ngữ Văn Lớp 6 Trang 37 Sgk

Soạn Bài Vượt Thác (Siêu Ngắn)

Soạn văn 10 bài: Văn bản

Soạn văn lớp 10 ngắn gọn

VnDoc mời bạn đọc tham khảo tài liệu , tài liệu đã được chúng tôi tổng hợp và đăng tải để phục vụ các bạn học sinh lớp 10 học tập hiệu quả hơn môn Ngữ văn. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

I. Khái niệm, đặc điểm

Câu 1 (trang 24 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.

– Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm… với người đọc.

– Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau ; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi.

Câu 2 (trang 24 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Mỗi văn bản đã cho đề cập đến vấn đề sau:

+ Văn bản (1): một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè).

+ Văn bản (2): thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ.

+ Văn bản (3): vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người chống Pháp).

– Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghĩa rất rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

Câu 3 (trang 24 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von) được liên kết với nhau bằng ý nghĩa và phép lặp từ (thân em). Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn được nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài.

– Mở bài: Gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

– Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

– Kết bài: Phần còn lại.

Câu 4 (trang 24 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “lời kêu gọi”. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi (Hỡi đồng bào toàn quốc!) để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, gây sự chú ý.

– Phần kết thúc là hai khẩu hiệu (cũng là hai lời hiệu triệu) để khích lệ ý chí và lòng yêu nước của “quốc dân đồng bào”.

Câu 5 (trang 24 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Mục đích của việc tạo lập:

– Văn bản (1) nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân).

– Văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

– Văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

Các loại văn bản

Câu 1 (trang 25 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị.

– Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều các từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hàng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị (kháng chiến, hòa bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc…)

– Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng, văn bản (3) chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận

Câu 2 (trang 25 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a. Phạm vi sử dụng của các loại văn bản:

– Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị.

– Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học.

– Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính.

b. Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản

– Văn bản (2) nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc.

– Văn bản (3) nhằm kêu gọi, hiệu triệu toàn dân đứng lên kháng chiến.

– Các văn bản trong SGK nhằm truyền thụ các kiến thức khoa học ở nhiều lĩnh vực.

c. – Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội.

– Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học.

– Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính.

d. Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản:

– Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát.

– Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng mạch lạc.

– Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục…

– Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung.

Luyện tập

Câu 1 (trang 37 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Đọc đoạn văn sau và thực hiện những yêu cầu nêu ở dưới

a. Có thể coi đoạn văn như một văn bản nhỏ bởi:

– Câu 2: Câu phát triển ý cho câu 1

– Câu 3: Câu chuyển tiếp, vừa giải thích cho câu 2 và tạo tiền đề cho sự xuất hiện của các câu (4), (5)

– Câu 4: Nêu dẫn chứng 1 (cây đậu Hà Lan và cây mây)

– Câu 5: Nêu dẫn chứng 2 (Cây xương rồng và cây lá bỏng)

c. Có thể đặt tiêu đề cho văn bản là: Mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường hoặc Sự ảnh hưởng của môi trường đến cơ thể sống,…

Câu 2 (trang 38 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Sắp xếp các câu thành văn bản:

– Có thể sắp xếp theo hai cách, thứ tự của các câu là:

+ Cách 1: Câu (1), (3), (5), (2), (4)

+ Cách 2: Câu (1), (3), (4), (5), (2)

– Có thể đặt cho văn bản trên tiêu đề là: Hoàn cảnh ra đời bài thơ “Việt Bắc”, Giới thiệu bài thơ “Việt Bắc”

Câu 3 (trang 38 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Viết tiếp câu để hoàn tạo thành văn bản

Môi trường sống của loài người hiện nay đang bị huỷ hoại ngày càng nghiêm trọng. Hàng năm có hàng triệu tấn rác thải không phân hủy bị vứt bừa bãi khắp nơi làm ô nhiễm môi trường đất và nước. Việc làm này khiến đất đai không còn trồng trọt được, đầu độc và giết chết các sinh vật đang sống trong lòng đất và ở các nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người. Những cánh rừng ở đầu nguồn bị chặt phá bừa bãi khiến lũ lụt, lở đất ngày càng trở nên dữ dội hơn. Không chỉ vậy, bầu không khí của chúng ta cũng bị ô nhiễm nặng nề. Khí thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp xả ra quá mức cho phép làm cho tầng ôzôn bị thủng, tăng hiệu ứng nhà kính, gia tăng thêm các bệnh về da và hô hấp cho con người.

– Có thể đặt tên cho văn bản là: “Ô nhiễm môi trường sống”

Câu 4 (trang 38 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Xác định những nội dung của một đơn xin phép nghỉ học:

– Đơn thường gửi cho giáo viên chủ nhiệm lớp (hoặc có thể cho Ban Giám hiệu nhà trường nếu thời gian nghỉ học quá dài). Người viết đơn thường là học sinh hoặc sinh viên.

– Mục đích của việc viết đơn là: báo cáo việc nghỉ học và xin phép được nghỉ học.

– Nội dung cơ bản của đơn thường có:

+ Tên họ của người viết đơn.

+ Nêu lí do nghỉ học.

+ Thời gian xin nghỉ học (bao lâu?)

+ Lời hứa thực hiện đầy đủ các công việc học tập trong thời gian nghỉ học.

– Kết cấu của đơn:

(1) Quốc hiệu

(2) Ngày, tháng, năm viết đơn

(3) Tên đơn

(4) Họ tên, địa chỉ người nhận.

(5) Họ tên, địa chỉ lớp của người viết

(6) Nội dung đơn (lí do nghỉ học, thời gian xin nghỉ, lời hứa.

(7) Kí và ghi rõ họ tên

– Viết một lá đơn đáp ứng yêu cầu của văn bản hành chính:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN NGHỈ HỌC

Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp …, Trường THPT ….

Tên em là: Nguyễn Quang Vinh, học sinh lớp ….

Em viết đơn này xin trình bày với cô việc như sau: Hôm nay, thứ … ngày … tháng … năm …, em bị cảm không thể đi học được. Em làm đơn này kính xin cô cho em nghỉ buổi học hôm nay.

Em xin hứa sẽ thực hiện việc chép bài và học bài nghiêm túc và đầy đủ.

Em xin chân thành cảm ơn!

…, ngày…tháng…năm…

Người làm đơn

Nguyễn Quang Vinh

Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Tường Trình (Chi Tiết)

Soạn Bài Luyện Tập Về Văn Bản Tường Trình

Soạn Bài: Luyện Tập Làm Văn Bản Tường Trình

Soạn Bài Văn Bản Tường Trình Ngắn Gọn Và Hay Nhất

Soạn Bài Sang Thu (Chi Tiết)

🌟 Home
🌟 Top