Top 11 # Vai Trò Của Luật Sư Trong Xã Hội Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Khẳng Định Vị Trí, Vai Trò Của Luật Sư Và Nghề Luật Sư Trong Xã Hội

Khẳng định vị trí, vai trò của luật sư và nghề luật sư trong xã hội

Ngày 14/1/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10/10 hàng năm là Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam. Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn luật sư Việt Nam cho biết, đây là một vinh dự hết sức to lớn cho đội ngũ luật sư Việt Nam, không chỉ khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội về nghề luật sư, mà còn là mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của Luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam.

Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL về Tổ chức đoàn thể luật sư. Trải qua gần 70 năm, đội ngũ luật sư Việt Nam đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây dựng nhà nước pháp quyền và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

Năm 1987, Pháp lệnh Tổ chức luật sư ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, tuy nhiên thời điểm này mới chỉ có 400 luật sư hành nghề. Song, con số này tăng lên gần 2.000 luật sư sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh luật sư 2001. Đặc biệt, kể từ khi Nhà nước ban hành Luật Luật sư 2006 và được sửa đổi, bổ sung một số điều vào 2012, tạo căn cứ pháp lý ngày càng cao và quan trọng, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động luật sư và hành nghề luật sư phát triển thì đến nay, 63/63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đều có Đoàn luật sư hoạt động. Cả nước có trên 8.000 luật sư với trên 3.000 tổ chức hành nghề luật sư.

Năm 2009, Liên đoàn Luật sư Việt Nam được thành lập, trở thành ngôi nhà chung của luật sư cả nước. Liên đoàn Luật sư Việt Nam ra đời và được củng cố, phát triển tạo đà cho hoạt động luật sư và hành nghề luật sư tại Việt Nam.

Một buổi trợ giúp pháp lý miễn phí của Đoàn luật sư Hà Nội .

Theo đó, đội ngũ luật sư ngày càng tham gia tích cực vào các vụ án chỉ định theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng; cũng như trợ giúp pháp lý miễn phí. Hoạt động của luật sư dần mang tính chuyên nghiệp, hình thành đội ngũ luật sư tranh tụng các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính; tham gia tư vấn cho doanh nghiệp, xây dựng và tuyền truyền pháp luật. Đặc biệt là việc hình thành đội ngũ luật sư tham gia tư vấn và tranh tụng quốc tế. Tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa của đội ngũ luật sư đã được khẳng định và từng bước được củng cố, tạo lập sự uy tín trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý với cộng đồng xã hội.

Đội ngũ luật sư ở tất cả các cấp từ Trung ương tới địa phương cũng đã được tin tưởng mời tham gia vào các ban soạn thảo và tổ biên tập để góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Năm 2012, Liên đoàn luật sư Việt Nam cũng đã đóng góp tích cực trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư 2006, Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, tham gia vào Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn III với việc rà soát thủ tục hành chính ở 3 lĩnh vực: chứng thực, quốc tịch, xuất nhập cảnh… Qua đó, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ công lý, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn khó khăn, thách thức, trong đó phải kể đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ luật sư không đồng đều, dẫn tới việc cung cấp dịch vụ pháp lý vẫn còn ảnh hưởng tới chất lượng chung. Trên thực tế, công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư ở một số địa phương còn lỏng lẻo, một bộ phận đội ngũ luật sư chưa chủ động, tích cực trong việc tự nâng cao trình độ, kỹ năng hành nghề cũng như việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, có hành vi vụ lợi… dẫn đến vi phạm pháp luật. Mô hình tố tụng hiện nay vẫn còn một số tồn tại chưa tạo thuận lợi cho các luật sư hành nghề. Còn có nơi, có vụ việc luật sư còn bị cản trở trong quá trình hành nghề từ một số các cơ quan và người tiến hành tố tụng, đặc biệt trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.

Đáng lưu tâm, có một bộ phận cán bộ và cộng đồng dân cư chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư và nghề luật sư; về những đóng góp âm thầm, tích cực của họ trong các hoạt động tố tụng và tư vấn pháp lý cho người dân để bảo vệ công lý và công bằng xã hội.

Chúng ta đều biết rằng, uy tín của mỗi một luật sư được gắn với nghề luật sư và giới luật sư, do đó trách nhiệm của mỗi một luật sư và cả đội ngũ luật sư với cộng đồng xã hội là phải nhất quán trong việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng cho xã hội. Đạo đức nghề nghiệp luật sư luôn là cái gốc để tạo lập sự phát triển vững bền cho mỗi luật sư và nghề luật sư.

Các luật sư được vinh danh tại Lễ trao tặng danh hiệu luật sư tiêu biểu 2012.

Theo Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam,luật sư và nghề luật sư đang là một nghề trỗi dậy, trở thành một trong các yếu tố không thể thiếu được trong phát triển kinh tế thị trường cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền; ít có một nghề nghiệp nào lại có được vị trí và vai trò như vậy trong xã hội. Trong bối cảnh đó, Liên đoàn luật sư Việt Nam và giới luật sư cũng cần nhận thức đúng và đầy đủ vị trí vai trò của mình. Muốn vậy, giới luật sư phải nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất chính trị đạo đức để tạo lập niềm tin với Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội về khả năng cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng cho cộng đồng xã hội.

Liên đoàn luật sư và giới luật sư cũng cần phải xây dựng các giá trị chuẩn mực của nghề luật sư, quán triệt sâu sắc và đầy đủ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư trong từng vụ việc cụ thể và trong cả cuộc đời hành nghề của mình; hạn chế tối đa các vi phạm, rủi ro trong quá trình hành nghề; tích cực tham gia hỗ trợ pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, người nghèo…

Nhân dịp Ngày truyền thống luật sư 2013, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam Đỗ Ngọc Thịnh bày tỏ mong muốn và tin tưởng trong thời gian tới, giới luật sư sẽ tiếp tục đoàn kết, phấn đấu góp sức xây dựng ngôi nhà chung Liên đoàn Luật sư Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh. Qua đó, tạo lập niềm tin với Đảng, nhà nước và nhân dân, để xã hội có thể thừa nhận nghề luật sư là một nghề cao quý, cần được tôn trọng và được tôn vinh trong xã hội./.

Vai Trò Của Pháp Luật Trong Đời Sống Xã Hội

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội đồng thời bảo vệ địa vị giai cấp thống trị hay giai cấp cầm quyền. Vậy […]

Nội dung chi tiết

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội đồng thời bảo vệ địa vị giai cấp thống trị hay giai cấp cầm quyền. Vậy Đặc điểm và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội là gì? Luật Thiên Minh xin chia sẻ như sau.

Đặc điểm của pháp luật

Pháp luật có 03 đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản sau đây:

 Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Pháp luật do Nhà nước ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt ché, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội.

 Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu loorrich rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

 Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức:

Pháp luật luôn được thể hiện dưới những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật … Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng thời, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật.

Ngoài các đặc điểm cơ bản nói trên, pháp luật còn có những điểm khác nữa như tính ổn định, tính hệ thống …

Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội

Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội:

Không có pháp luật, xã hội sẽ không có trật tự, ổn định, không thể tồn tại và phát triển được.

Nhờ có pháp luật, nhà nước phát huy được quyền lực của mình và kiểm tra, kiểm soát được các hoạt động cá nhân, tổ chức.

Pháp luật sẽ bảo đảm dân chủ, công bằng, phù hợp lợi ích chung của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau.

Pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hê xã hội một cách thống nhất trong toàn quốc và được đảm bảo bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước nên hiêu lực thi hành cao.

Pháp luật là phương tiện để công dân thưc hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cùa mình:

Hiến pháp quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong từng lĩnh vực cụ thể.

Công dân thực hiên quyền của mình theo quy định của pháp luật.

Pháp luật là phương tiên để công dân bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

www.luatthienminh.vn

Trân trọng !

Vai Trò Của Luật Sư Trong Tố Tụng Hình Sự

7028

Luật sư với tư cách là người bào chữa trong TTHS

Lựa chọn và thay đổi luật sư

Những trường hợp luật sư không được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa

Vai trò của luật sư trong các giai đoạn khác nhau của TTHS

Quyền tố tụng của luật sư khi bào chữa cho bị can, bị cáo

1. Luật sư với tư cách là người bào chữa trong tố tụng hình sự

Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS thì người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.

Trong số những người tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa nói trên, có thể khẳng định luật sư là người tham gia có hiệu quả nhất vì:

Thứ nhất: Luật sư là người có trình độ, kiến thức pháp luật;

Thứ hai: Luật sư là người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động bào chữa;

Thứ ba: Luật sư là người được đào tạo không chỉ đơn thuần là kiến thức pháp luật mà họ còn được đào tạo về nghiệp vụ, tức kỹ năng hành nghề. Do vậy, họ là người giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý có hiệu quả nhất.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện và phương pháp hợp pháp thể hiện rõ nét nhất ở vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự.

Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếu được trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Không phải người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào cũng có khả năng tự bào chữa một cách có hiệu quả. Do vậy, pháp luật tạo điều kiện để họ thực hiện quyền bào chữa của mình bằng việc có thể nhờ người khác trong đó có luật sư bào chữa. Quyền nhờ người khác bào chữa là một trong những hình thức thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo thông qua sự giúp đỡ của những người được pháp luật quy định nhằm giúp bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình.

– Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;

– Có trình độ đại học luật;

– Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài được Việt Nam công nhận, trừ trường hợp được miễn;

– Có phẩm chất đạo đức tốt;

– Không là cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Lựa chọn và thay đổi luật sư

Theo quy định của BLTTHS thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Như vậy, luật sư chỉ có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo trong hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất: Khi được bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời;

Thứ hai: Khi được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS. Cụ thể là: “Đối với các trường hợp sau nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:

– Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS;

– Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Tuy nhiên, trong những trường hợp trên, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Như vậy, việc bắt buộc phải tham gia của người bào chữa ở đây là bắt buộc đối với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án chứ không phải bắt buộc đối với bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ. Do đó họ vẫn có quyền từ chối sự tham gia của người bào chữa. Trong trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng phải lập biên bản về việc từ chối người bào chữa có chữ ký của bị can, bị cáo.

3. Những trường hợp luật sư không được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa

Để việc bào chữa được khách quan, có hiệu quả, khoản 2 Điều 56 BLTTHS nước ta quy định những người sau đây không được bào chữa:

– Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;

Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn. Trong những trường hợp do pháp luật quy định, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đảm bảo sự tham gia của người bào chữa cho họ theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS.

Trong thực tiễn hiện nay, có quan điểm cho rằng quy định trên của BLTTHS không hợp lý và cần quy định: Một người bào chữa chỉ được bào chữa cho một bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.

Chúng tôi không thể đồng ý với quan điểm này, vì nó hạn chế hiệu quả của việc bào chữa ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, pháp luật cũng nên giới hạn số lượng người bào chữa cho một bị can, bị cáo trong vụ án hình sự để tránh tình trạng quá nhiều người bào chữa cùng bào chữa cho một bị can, bị cáo làm cho việc bào chữa không được tập trung, tràn lan không cần thiết hoặc bào chữa lặp lại, mất thời gian của HĐXX.

Về vấn đề này, theo LTTHS của Cộng hòa liên bang Đức thì bị can có quyền nhờ nhiều người bào chữa cho mình nhưng không được quá 3 người. Nếu bị can đồng thời mời nhiều người bào chữa hơn số người mà pháp luật cho phép (quá 3 người) thì Tòa án (từ chối) không chấp nhận tất cả những người đó.

Từ sự phân tích trên có thể thấy, để trở thành người bào chữa trong TTHS cần có hai điều kiện, đó là điều kiện về chủ thể và điều kiện về hình thức. Về chủ thể, họ phải là một trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS. Về hình thức, họ phải được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay người đại diện hợp pháp của họ mời hoặc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư cử; đồng thời họ phải được cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS.

4. Vai trò của luật sư trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của nghề luật sư trong những thế kỷ đã qua chúng ta thấy luật sư là những người luôn được ngưỡng mộ và kính trọng. Trong xã hội, khi mà tính thiêng liêng vô điều kiện của pháp luật đã được thừa nhận thì vai trò của luật sư càng trở nên quan trọng.

Platon, một nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng đã nói: “Những kiến thức chuyên môn của bác sỹ giúp họ cứu chữa cho người bệnh nhưng cũng có thể đầu độc người bệnh”. Nghề luật sư cũng như bất kỳ một nghề chuyên môn nào khác cũng có mặt trái của nó. Do vậy, luật sư cũng phải biết sử dụng kiến thức chuyên môn của mình sao cho vừa bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo lại vừa tôn trọng sự thật khách quan của vụ án.

Quá trình điều tra vụ án hình sự có những đặc thù riêng so với những hoạt động tố tụng khác. Những đặc thù của giai đoạn này có ảnh hưởng, tác động nhất định đến hoạt động bào chữa. Cụ thể là, trong giai đoạn này, hoạt động bào chữa được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can và kết thúc khi cơ quan này ra Quyết định đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 164 BLTTHS hoặc làm Bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố theo quy định tại Điều 162 và Điều 163 BLTTHS. So với các giai đoạn khác, hoạt động bào chữa trong giai đoạn này có những đặc điểm riêng, đó là không có sự cọ xát chứng cứ trực tiếp giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và giai đoạn xét xử phúc thẩm. Những thông tin, tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc xác định sự thật của vụ án đối với luật sư không nhiều nhưng lại rất quan trọng đối với việc bảo vệ quyền lợi cho bị can. Do vậy, luật sư phải biết tập trung thời gian, công sức và trí tuệ để nghiên cứu, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của những quyết định, những biên bản về hoạt động điều tra trong giai đoạn này, kịp thời đưa ra những kiến nghị phù hợp như triệu tập thêm người làm chứng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn…

Luật sư có vai trò quan trọng trong giai đoạn điều tra. Thông qua việc thực hiện các quyền năng tố tụng của mình theo quy định của pháp luật luật sư góp phần tích cực vào việc giúp cơ quan điều tra thu thập chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, không chỉ làm rõ chứng cứ có tội, tình tiết tăng nặng mà đặc biệt còn làm rõ những chứng cứ vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can; hạn chế việc oan sai và vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.

Giai đoạn xét xử khác với các giai đoạn điều tra ở chỗ, nó xác định một cách dứt điểm bị cáo có tội hay không có tội và mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Điều 9 BLTTHS đã xác định: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” được quy định tại Điều 9 BLTTHS và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 11 BLTTHS: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”, sự tham gia của luật sư trong TTHS là cần thiết. Bằng hoạt động của mình, luật sư giúp bị can, bị cáo thực hiện tốt hơn nữa quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vai trò của luật sư trong các giai đoạn khác nhau của TTHS nhìn chung có sự tương đồng. Điều đó được xác định bởi nhiệm vụ chung trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án là không chỉ bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn bảo vệ pháp luật, tức là bảo đảm việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, luật sư phát hiện những tình tiết có lợi cho bị cáo; nếu phát hiện có căn cứ để thay đổi kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch thì luật sư đề nghị HĐXX xem xét và quyết định, nếu những người này tiến hành hoặc tham gia sẽ làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan; trường hợp tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng mà sự vắng mặt của họ không có lợi cho bị cáo mà mình bảo vệ thì luật sư đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa.

Khi tham gia đối đáp tại phiên tòa, luật sư phải tận dụng cơ hội để đề nghị HĐXX không chấp nhận những chứng cứ buộc tội bị cáo do Viện kiểm sát đưa ra không có cơ sở. Luật sư phải lắng nghe để có thể đáp lại những ý kiến mà mình không đồng ý một cách linh hoạt, kịp thời, chính xác trên cơ sở của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, luật sư có thể giúp bị cáo làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Trường hợp bị cáo mà mình bảo vệ là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần thì luật sư có quyền kháng cáo độc lập theo quy định tại Điều 231 BLTTHS.

Đối với những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần; bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, sự tham gia của luật sư cũng là bắt buộc như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, trong thực tế, quy định này đôi khi vẫn chưa được Tòa án áp dụng một cách triệt để, dẫn đến tình trạng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa, luật sư có quyền bổ sung chứng cứ mới, chứng cứ cũ và mới đều phải được xem xét tại phiên tòa. Bản án của Tòa án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới. Để việc tham gia phiên tòa phúc thẩm có hiệu quả, luật sư cần phải tận dụng mọi khả năng, tùy theo từng vụ án cụ thể, tiến hành thu thập thêm hoặc củng cố chứng cứ có lợi cho bị cáo mà mình bảo vệ như những chứng cứ có thể làm cho Tòa án cấp phúc thẩm giảm mức hình phạt, giảm mức bồi thường, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn… so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, mặc dù bản án hoặc quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay, người bị kết án không có quyền kháng cáo nữa nhưng không phải vai trò của người bào chữa đã hết mà luật sư vẫn có thể giúp họ trong một số lĩnh vực nhất định và đôi khi cứu được cả sinh mạng của họ.

5. Quyền tố tụng của luật sư khi bào chữa cho bị can, bị cáo

* Luật sư có quyền được tham gia tố tụng khi khởi tố bị can

Theo quy định của BLTTHS thì khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với bị can theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố được tiến hành một cách có hiệu quả. Luật sư tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can là cần thiết nhằm bảo đảm cho việc khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp đồng thời bảo đảm việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bị can chỉ có thể được tiến hành khi có căn cứ pháp lý, tránh tình trạng bắt giam bị can trong trường hợp không cần thiết. Tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, luật sư có điều kiện nghiên cứu quyết định khởi tố bị can, từ đó có thể tiếp cận vụ án một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Tuy nhiên, đối với những trường hợp cần phải nắm giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XI BLHS) thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để luật sư tham gia từ khi kết thúc điều tra. So với quy định của BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS 2003 đã mở rộng hơn thời điểm tham gia tố tụng của luật sư. Cụ thể là trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 BLTTHS ( bắt người trong trường hợp khẩn cấp) và Điều 82 BLTTHS (bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã) thì luật sư được tham gia từ khi có quyết định tạm giữ.

Thời điểm tham gia tố tụng của luật sư được quy định trong luật tố tụng hình sự của các nước không giống nhau. Luật TTHS Trung Quốc quy định thời điểm tham gia tố tụng của luật sư muộn hơn so với Luật TTHS Việt Nam. Khoản 2 Điều 110 BLTTHS Trung Quốc quy định: “Chậm nhất là 7 ngày trước khi mở phiên tòa phải đưa bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân cho bị cáo và thông báo để bị cáo tìm người bào chữa hoặc chỉ định người bào chữa cho bị cáo khi cần thiết”. Ở Mỹ, quyền có luật sư bắt đầu được thực hiện từ khi những người bị tình nghi đã trở thành bị cáo, có nghĩa là bắt đầu các thủ tục xét xử. Ngược lại, BLTTHS Nhật Bản quy định thời điểm tham gia của người bào chữa sớm hơn so với Luật TTHS của nước ta. Điều 30 BLTTHS Nhật Bản quy định: “Bị cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào”.

* Luật sư có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác.

Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, đó là quyền của luật sư để trực tiếp nghe người bị tạm giữ, bị can khai báo, mặt khác trong quá trình hỏi cung nếu luật sư phát hiện ra những tình tiết có lợi cho bị can và cần thiết cho việc bào chữa như để minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can thì luật sư đề nghị với điều tra viên lưu ý tình tiết đó. Luật sư có mặt trong khi hỏi cung sẽ làm cho bị can yên tâm hơn và khai báo chính xác sự việc, đồng thời ngăn ngừa việc vi phạm pháp luật của điều tra viên trong trường hợp bị can bị mớm cung, bức cung hoặc dùng nhục hình. Nếu phát hiện điều tra viên có vi phạm pháp luật trong quá trình hỏi cung, luật sư có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền theo Điều 144 BLTTHS.

Khi tham dự việc hỏi cung bị can, nếu được điều tra viên đồng ý luật sư có quyền hỏi bị can về những tình tiết có lợi cho bị can mà điều tra viên chưa đề cập tới hoặc đã đề cập nhưng chưa làm rõ. Quy định này giúp điều tra viên cũng như luật sư tiếp nhận cũng như làm sáng tỏ thêm một số tình tiết quan trọng đối với việc bảo vệ quyền lợi cho bị can và từ đó đánh giá khách quan, công bằng hơn đối với vụ án.

* Luật sư có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (NTHTT), người giám định, người phiên dịch

Trước đây, khi BLTTHS chưa có hiệu lực pháp luật, pháp luật chỉ có quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, … chứ không có quyền đề nghị thay đổi điều tra viên. BLTTHS ra đời, quyền bào chữa của bị can, bị cáo được mở rộng và bảo đảm thực hiện hơn nữa. Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng quy định tại Điều 14 BLTTHS; từ việc luật sư được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, tới khi khởi tố bị can như đã phân tích ở trên và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo BLTTHS quy định luật sư có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch là cần thiết để bảo vệ bị can và góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

Khi có căn cứ thay đổi người tiến hành tố tụng quy định tại Điều 42 và căn cứ quy định tại các điều từ Điều 44 đến Điều 47 BLTTHS; căn cứ thay đổi người giám định quy định tại khoản 4 Điều 60 BLTTHS; căn cứ thay đổi người phiên dịch quy định tại khoản 3 Điều 61 BLTTHS thì luật sư đề nghị thay đổi những người nói trên. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch là một trong những quy định thể hiện tính dân chủ trong TTHS Việt Nam. Trong quá trình bảo vệ bị can luật sư cần chú ý sử dụng để tránh việc oan sai hoặc xử lý vụ án không khách quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can.

Kế thừa và phát triển những quy định của pháp luật TTHS trước đây, BLTTHS đã quy định luật sư có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Khi làm nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho bị can trong giai đoạn điều tra luật sư có thể phát hiện ra tài liệu, đồ vật mà Cơ quan điều tra chưa phát hiện được. Trong trường hợp này, luật sư có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra xem xét nhưng chỉ khi chứng cứ đó có lợi cho bị can và không làm xấu đi tình trạng của bị can như chứng cứ chứng minh sự vô tội của bị can nếu thực sự bị can không thực hiện hành vi phạm tội; chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can không đến mức nguy hiểm như tài liệu trong hồ sơ thể hiện; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can mà Cơ quan điều tra chưa thể hiện trong hồ sơ.

Trong quá trình điều tra, cùng với việc đưa ra chứng cứ, luật sư cũng có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục những thiếu sót trong hoạt động điều tra khi cần thiết như đề nghị triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định…

Khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát, luật sư có thể đưa ra những chứng cứ mà họ đã đưa ra ở giai đoạn điều tra nhưng không được Cơ quan điều tra chấp nhận hoặc đã chấp nhận nhưng chưa được xem xét, sử dụng. Luật sư cũng có thể đưa ra những chứng cứ mới, yêu cầu mới như yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng; yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ sung… Việc luật sư đưa ra những chứng cứ, những yêu cầu mới có lợi cho bị can không chỉ có tác dụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can mà còn giúp Viện kiểm sát xem xét, đánh giá chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện hơn khi lập cáo trạng truy tố bị can trước Tòa án. Trong giai đoạn truy tố, khi đọc hồ sơ vụ án nếu thấy hồ sơ thiếu những chứng cứ quan trọng để xác định hành vi phạm tội mà Cơ quan điều tra vẫn đề nghị truy tố, có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác nhẹ hơn tội danh mà Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can; hoặc phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, luật sư yêu cầu Viện kiểm sát xem xét hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Nếu thấy có một trong những căn cứ sau, thì luật sư đề nghị Viện kiểm sát xem xét và ra quyết định đình chỉ vụ án:

– Không có sự việc phạm tội;

– Hành vi không cấu thành tội phạm;

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

– Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật;

– Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

– Tội phạm đã được đại xá;

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

– Bị can đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm;

– Do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

– Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, bị can đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm;

– Bị can là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Khi thấy bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo; bị can trốn không biết bị can đang ở đâu thì luật sư yêu cầu Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.

Quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu của luật sư có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, đồng thời giúp Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá khách quan hành vi mà bị can đã thực hiện để kết luận và giải quyết vụ án.

* Luật sư có quyền gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam

Đọc hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra giúp luật sư hiểu rõ hơn diễn biến hành vi phạm tội trong Bản kết luận điều tra từ đó xác định các chứng cứ mà cơ quan điều tra sử dụng vào việc chứng minh tội phạm có đảm bảo không; ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra có căn cứ không. Đồng thời, qua việc đọc hồ sơ, luật sư có thể tổng hợp các tài liệu để xác định: quá trình điều tra có vi phạm pháp luật không; có cần thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không; có đủ chứng cứ để kết tội không; bị can, bị cáo có phải là người thực hiện hành vi phạm tội đó không. Nếu xét thấy cần thiết, luật sư có thể trao đổi với Viện kiểm sát hoặc Tòa án để cung cấp thêm chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo (nếu có) và đề xuất với Viện kiểm sát, Tòa án xem xét khi tiến hành giải quyết vụ án. Trường hợp có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo thì luật sư đề nghị cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định. Khi đọc hồ sơ vụ án, luật sư phát hiện những chứng cứ có lợi, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo; phát hiện những vi phạm tố tụng trong hồ sơ vụ án, từ đó đưa ra những chứng cứ mới, những yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét, khắc phục.

* Luật sư có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục”.

Là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra, truy tố, người bào chữa có quyền khiếu nại đối với những việc làm trái pháp luật của Cơ quan điều tra trong những trường hợp như: bắt bị can để tạm giam khi không có căn cứ hoặc không đúng thủ tục theo quy định của pháp luật; tạm giam bị can khi không thuộc những trường hợp quy định tại Điều 88 BLTTHS; tạm giam bị can không có lệnh hoặc lệnh tạm giam không được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; khởi tố bị can khi không đủ căn cứ để xác định bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội… Nếu thấy quyết định của Viện kiểm sát không có căn cứ và việc ra quyết định này không có lợi cho bị can mà luật sư bảo vệ; nếu thấy hoạt động của Kiểm sát viên là không đúng hoặc vi phạm pháp luật thì luật sư có quyền khiếu nại. Khiếu nại được gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phải giải quyết khiếu nại trong thời hạn do pháp luật quy định. Nếu khiếu nại đúng thì cơ quan có thẩm quyền phải có những biện pháp khắc phục ngay những vi phạm pháp luật hay thiếu sót đã được khiếu nại. Nếu khiếu nại không đúng và bị bác bỏ thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải trả lời cho người khiếu nại biết rõ lý do.

* Luật sư có quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa

Xét hỏi và tranh luận là những hoạt động quan trọng trong trình tự xét xử vụ án tại phiên tòa. Thực chất của việc xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động tiến hành điều tra công khai với sự có mặt của những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhằm kiểm tra các chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án và thu thập thêm chứng cứ mới để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Do vậy, luật sư phải chú ý lắng nghe những câu hỏi và câu trả lời, so sánh và đối chiếu với các tình tiết của vụ án và phát hiện những tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo và những lời khai không phù hợp với các tình tiết trong vụ án để kịp thời đưa ra những câu hỏi yêu cầu những người tham gia tố tụng làm rõ. Một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp hiện nay là nâng cao hiệu quả của các cơ quan tư pháp mà chủ yếu là đổi mới hoạt động xét xử theo hướng tranh tụng. Vì thế, để phiên tòa thực sự được tiến hành theo hướng tăng cường yếu tố tranh tụng thì không chỉ phụ thuộc vào HĐXX và đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa mà còn phụ thuộc cả vào luật sư. Câu hỏi luật sư đưa ra phải: “sắc bén, ngắn gọn, tập trung vào những vấn đề quan trọng của vụ án chưa được làm rõ sao cho sự trả lời của người được hỏi sẽ có lợi nhất cho bị can, bị cáo” mình bảo vệ. Tùy theo diễn biến xảy ra tại phiên tòa mà luật sư có thể sử dụng các quyền khác mà pháp luật cho phép nhằm bảo vệ bị cáo có hiệu quả như yêu cầu HĐXX công bố những tài liệu trong hồ sơ có lợi cho bị cáo mà mình bảo vệ trong những trường hợp sau:

– Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai của họ tại Cơ quan điều tra;

– Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa;

– Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, luật sư được tham gia tranh luận tại phiên tòa.

Trong công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới thì vai trò của luật sư càng được tôn trọng và đề cao hơn nữa. Theo đó việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của luật sư… để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định.

Trong tranh luận tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, luật sư được trình bày lời bào chữa để bảo vệ bị cáo. Luật sư “đề xuất với HĐXX cách thức giải quyết vụ án, áp dụng điều luật về tội danh và hình phạt nhằm làm giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo”. Luật sư được đáp lại ý kiến mà mình không đồng ý, đề nghị HĐXX bác bỏ những chứng cứ buộc tội bị cáo không có cơ sở.

* Luật sư có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần

Sau khi tuyên án sơ thẩm, đối với bị cáo mà mình bảo vệ là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần thì luật sư có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231 BLTTHS. Trong những trường hợp này, bị can, bị cáo là người có năng lực hành vi hạn chế, họ không thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách có hiệu quả theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc BLTTHS quy định quyền kháng cáo của luật sư là cần thiết.

Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì? Vai Trò Của Doanh Nghiệp Xã Hội

1. Doanh nghiệp xã hội là gì?

Cùng tìm hiểu các quy định về DNXH và quyền và nghĩa vụ với loại hình doanh nghiệp này:

Luật Doanh nghiệp năm 2014

Theo quy định tại Điều 10, một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp xã hội cần đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;

b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

Doanh nghiệp xã hội (có lợi nhuận và không có lợi nhuận) giống với các doanh nghiệp khác vì đều tổ chức và quản lý dưới hình thức doanh nghiệp. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ DNXH được thành lập để giải quyết các vấn đề tồn tại của xã hội như đói nghèo, ô nhiễm môi trường, bảo vệ trẻ em…

2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội

Ngoài các quyền và nghĩa vụ giống như các doanh nghiệp thông thường khác, doanh nghiệp xã hội còn có các quyền và nghĩa vụ sau:

a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 10 Luật doanh nghiệp 2014 trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;

đ) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

3. Vai trò của doanh nghiệp xã hội

– Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mang tính sáng tạo phù hợp với nhu cầu của cộng đồng có hoàn cảnh đặc biệt (người khuyết tật, người có HIV/AIDS…)

– Tạo cơ hội hòa nhập xã hội cho các cá nhân và cộng đồng yếu thế thông qua các chương trình đào tạo phù hợp, tạo cơ hội việc làm

– Đưa ra các giải pháp mới cho những vấn đề xã hội chưa được đầu tư rộng rãi như biến đổi khí hậu, năng lượng thay thế, tái chế…

4. Các loại doanh nghiệp xã hội

Các loại DNXH có thể được phân chia như sau:

– DNXH phi lợi nhuận

Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường hoạt động dưới các hình thức như: trung tâm, hội, quỹ, câu lạc bộ, tổ/nhóm tự nguyện của người khuyết tật, người chung sống với HIV/AIDS, phụ nữ bị bạo hành…Họ đưa ra những giải pháp có tính cạnh tranh cao để giải quyết những nhu cầu xã hội cụ thể, do đó có thể thu hút nguồn vốn đầu tư của những cá nhân và tổ chức đầu tư vì tác động xã hội. Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận làm tốt vai trò xúc tác để huy động nguồn lực từ cộng đồng để cải thiện đời sống cho những cộng động chịu thiệt thòi

– DNXH không vì lợi nhuận

Đa số các doanh nghiệp loại này do các doanh nhân xã hội sáng lập, với sứ mệnh xã hội được công bố rõ ràng. Ngay từ đầu, doanh nghiệp đã xác định rõ sự kết hợp bền vững giữa sứ mệnh xã hội với mục tiêu kinh tế, trong đó mục tiêu kinh tế là phương tiện để đạt mục tiêu tối cao là phát triển xã hội.

Lợi nhuận thu được chủ yếu để sử dụng tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh nghiệp. Việc đưa ra các giải pháp sáng tạo và áp dụng đòn bẩy của thị trường để giải quyết vấn đề xã hội và các thách thức trong lĩnh vực môi trường là điểm khác biệt so với các tổ chức xã hội từ thiện hay các doanh nghiệp thông thường. Phần lớn các doanh nghiệp xã hội thuộc loại này có thể tự vững bằng nguồn thu từ hoạt động kinh doanh và dịch vụ của họ. 

– Doanh nghiệp có định hướng xã hội, có lợi nhuận

Khác với mô hình doanh nghiệp phi lợi nhuận và không vì lợi nhuận, các doanh nghiệp xã hội ở loại hình thứ ba này ngay từ ban đầu đã nhìn thấy cơ hội và chủ trương xây dựng mình trở thành doanh nghiệp có lợi nhuận với sứ mệnh tạo động lực cho những biến đổi mạnh mẽ trong xã hội hoặc bảo vệ môi trường. Mặc dù có tạo ra lợi nhuận và cổ đông được chia lợi tức, nhưng các doanh nghiệp xã hội này không bị chi phối bởi lợi nhuận.

5. Chính sách phát triển đối với doanh nghiệp xã hội

– Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập DNXH có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng.

– Doanh nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật.

– Doanh nghiệp xã hội thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với từng loại hình doanh nghiệp và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Công ty TNHH tư vấn LawKey Việt Nam

Phòng 1605 tầng 16 tòa B10B, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại: (024) 665.65.366    Hotline: 0967.59.1128

Email: contact@lawkey.vn        Facebook: LawKey