Top 8 # Việt Nam Luật An Ninh Mạng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Dự Luật An Ninh Mạng Của Việt Nam

Dự Luật An Ninh Mạng Của Việt Nam, Bài Viết Về An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Luật An Ninh Mạng, Dự Luật An Ninh Mạng, Luật An Ninh Mạng Pdf, Dự Luật An Ninh Mạng Thuvienphapluat, Gợi ý Đáp án Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng, Quy Định Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng Facebook, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng Thuvienphapluat, Thông Tư Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Online Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng 2018, Nghị Định Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Khoản 4 Điều 34 Dự Thảo Luật An Ninh Mạng, Tài Liệu Tham Khảo Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Nghị Định Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Nghiên Cứu Cải Tiến Tập Luật Trong Hệ Thống Giám Sát An Ninh Mạng, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Giấy Xuất Xưởng Xi Măng Tháng 10 Năm 2020 Xi Măng Bỉm Sơn Ninh Bình, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề Đường Lối Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trận An Ninh Nh, Đồ án An Ninh Mạng, Vấn Đề An Ninh Mạng, Báo Cáo An Ninh Mạng ở Đâu, Báo Cáo An Ninh Mạng, An Ninh Mang, Đề Tài An Ninh Mạng, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Bài Thu Hoạch An Ninh Mạng, Bài Thu Hoạch Về An Ninh Mạng, Tài Liệu An Ninh Mạng, Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Ninh Mạng, Dự Thảo An Ninh Mạng, Trách Nhiệm Bản Thân Về An Ninh Mạng, Chương Trình Đào Tạo An Ninh Mạng, Tiểu Luận Bảo Vệ An Ninh Mạng, Nghị Định An Ninh Mạng, Nghị Quyết 29 Về An Ninh Mạng, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Tiểu Luận An Ninh Mạng, Tiểu Luận Bảo Mật An Ninh Mạng, Phân Tích Nhật Ký An Ninh Mạng, Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng Trong Quân Đội, An Toàn An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Liên Hệ Bảo Vệ An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Tìm Hiểu Chung Về Phân Tích Nhật Ký An Ninh Mạng, Sử Dụng Không Gian Mạng Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia, Yêu Cầu, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Trong Bảo Vệ An Ninh Mạng, Nhận Thức, Trách Nhiệm Về An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Trách Nhiệm Quân Nhân Trong Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Tiểu Luận Đảm Bảo An Ninh Mạng Trong Trường Học, Nghị Quyết Số 30-nq/tw Ngày 25/7/2018 Của Bộ Chính Trị Về Chiến Lược An Ninh Mạng Quốc Gia, Lý Luận Nào Sau Đây Đã Được Cán Bộ Của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên Truyền Bá Vào Việt Nam, Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Trách Nhiệm Của Cấp ủy Trong Việc Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Liên Hệ Trách Nhiệm Của Quân Nhân Trong Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Ninh Mạng, Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Trong An Toàn An Ninh Mạng, Yêu Cầu Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Cách Mạng 4.0 ở Việt Nam, Cách Mạng Việt Nam, An Ninh Việt Nam , Vai Trò Của Đảng Đối Với Cách Mạng Việt Nam, Bài Viết Về An Ninh Quốc Gia, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vên An Toàn, An Ninh Mạng, Bài Thu Hoạch Về Đối Tác, Đối Tượng Của Cách Mạng Việt Nam, Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc ở Việt Nam, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Những Yêu Cầu, Gi, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Những Yêu Cầu, Gi, Yêu Cầu Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Pdf, Lợi Dụng Vấn Đề Dân Tộc Tôn Giáo Chống Phá Cách Mạng Việt Nam, Đường Lói Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Luật Mang Thai Hộ, Hiệp ước An Ninh Việt Nam – Liên Xô Năm 1978, Vị Trí ý Nghĩa Tầm Quan Trọng Của Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Vị Trí, ý Nghĩa, Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng Trong Quân Độ, De Thi Duong Loi Cach Mang Cua Dang Cong San Viet Nam 2016, De Thi Duong Loi Cach Mang Dang Cong San Viet Nam 2017, Mức Độ Sẵn Sàng Tham Gia Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Của Việt Nam, Hãy Chứng Minh Khí Hậu Việt Nam Mang Tính Chất Nhiệt Đới Gió Mùa ẩm, Duong Loi Cach Mang Cua Dang Cong San Viet Nam 2016, Nguyên Nhân Điều Kiện Xảy Ra Cách Mạng Màu Việt Nam, Câu Hỏi Tự Luận Môn Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đề Cương Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tuyển Tập Truyện Viết Cho Thiếu Nhi Từ Sau Cách Mạng Tháng Tám, Phuong Pháp Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đề Cương ôn Tập Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Luật An Toàn Thông Tin Mạng,

Dự Luật An Ninh Mạng Của Việt Nam, Bài Viết Về An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Luật An Ninh Mạng, Dự Luật An Ninh Mạng, Luật An Ninh Mạng Pdf, Dự Luật An Ninh Mạng Thuvienphapluat, Gợi ý Đáp án Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng, Quy Định Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng Facebook, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng Thuvienphapluat, Thông Tư Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Online Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng 2018, Nghị Định Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Khoản 4 Điều 34 Dự Thảo Luật An Ninh Mạng, Tài Liệu Tham Khảo Luật An Ninh Mạng, Dự Thảo Nghị Định Hướng Dẫn Luật An Ninh Mạng, Nghiên Cứu Cải Tiến Tập Luật Trong Hệ Thống Giám Sát An Ninh Mạng, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Giấy Xuất Xưởng Xi Măng Tháng 10 Năm 2020 Xi Măng Bỉm Sơn Ninh Bình, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề Đường Lối Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trận An Ninh Nh, Đồ án An Ninh Mạng, Vấn Đề An Ninh Mạng, Báo Cáo An Ninh Mạng ở Đâu, Báo Cáo An Ninh Mạng, An Ninh Mang, Đề Tài An Ninh Mạng, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Bài Thu Hoạch An Ninh Mạng, Bài Thu Hoạch Về An Ninh Mạng, Tài Liệu An Ninh Mạng, Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Ninh Mạng, Dự Thảo An Ninh Mạng, Trách Nhiệm Bản Thân Về An Ninh Mạng, Chương Trình Đào Tạo An Ninh Mạng, Tiểu Luận Bảo Vệ An Ninh Mạng, Nghị Định An Ninh Mạng, Nghị Quyết 29 Về An Ninh Mạng, An Ninh Mạng Trong Quân Đội, Tiểu Luận An Ninh Mạng, Tiểu Luận Bảo Mật An Ninh Mạng, Phân Tích Nhật Ký An Ninh Mạng, Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng Trong Quân Đội,

Toàn Văn Luật An Ninh Mạng Việt Nam 2022

Lĩnh vực: Quốc phòng & An ninh

Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Công an

Ủy ban thẩm tra: Ủy ban Quốc phòng & An ninh

Dự kiến thông qua tại: Kỳ họp thứ 5 – Khóa XIV

Trạng thái: Đã thông qua

Dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, tháng 5/2018

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Điều 3. Chính sách của Nhà nước về an ninh mạng

1. Ưu tiên bảo vệ an ninh mạng trong phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. 2. Xây dựng không gian mạng lành mạnh, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 3. Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia. Áp dụng các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. 4. Xử lý nghiêm minh các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 5. Ưu tiên xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; nâng cao năng lực cho các lực lượng bảo vệ an ninh mạng và các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng. 6. Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng và phối hợp với cơ quan chức năng trong bảo vệ an ninh mạng. 7. Tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng. 8. Ưu tiên đầu tư, bố trí kinh phí để bảo vệ an ninh mạng.

Điều 4. Nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng. 3. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng. 4. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, làm thất bại mọi hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sẵn sàng ngăn chặn các mối đe dọa chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia trên không gian mạng. 5. Bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo nguyên tắc thẩm định, chứng nhận đủ điều kiện về an ninh mạng trước khi đưa vào vận hành, sử dụng; thường xuyên giám sát, kiểm tra về an ninh mạng trong quá trình sử dụng và kịp thời ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng. 6. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Biện pháp bảo vệ an ninh mạng

Điều 6. Xác lập và bảo vệ không gian mạng quốc gia

1. Chính phủ xác lập phạm vi không gian mạng quốc gia. 2. Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.

Điều 7. Hợp tác quốc tế về an ninh mạng

1. Hợp tác quốc tế về an ninh mạng được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. 2. Nội dung hợp tác quốc tế về an ninh mạng, bao gồm: a) Nghiên cứu, phân tích xu hướng an ninh mạng; b) Xây dựng cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh hợp tác giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động về an ninh mạng; c) Chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ đào tạo, trang thiết bị, công nghệ bảo vệ an ninh mạng; d) Phòng, chống tội phạm mạng, các hành vi xâm phạm an ninh mạng, ngăn ngừa các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; đ) Tư vấn, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng; e) Tổ chức hội nghị, hội thảo và diễn đàn quốc tế về an ninh mạng; g) Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về an ninh mạng; h) Thực hiện chương trình, dự án hợp tác quốc tế về an ninh mạng; i) Hoạt động hợp tác quốc tế khác về an ninh mạng. 3. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về an ninh mạng. Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện hợp tác quốc tế về an ninh mạng trong phạm vi quản lý. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh mạng. 4. Hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh mạng của các bộ, ngành khác, của các địa phương phải có văn bản tham gia ý kiến của Bộ Công an trước khi triển khai, trừ hoạt động hợp tác quốc tế của Bộ Quốc phòng.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 9. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Điều 10. Thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

1. Thẩm định an ninh mạng là hoạt động xem xét, đánh giá những nội dung cần thiết về an ninh mạng để làm cơ sở cho việc quyết định xây dựng hoặc bổ sung, điều chỉnh, nâng cấp hệ thống thông tin. 2. Thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia tiến hành trong trường hợp sau đây: a) Đối với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, hồ sơ thiết kế thi công dự án đầu tư xây dựng hoặc đề án nâng cấp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia trước khi phê duyệt; b) Đối với dịch vụ an toàn thông tin mạng trước khi đưa vào sử dụng trong hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. 3. Nội dung thẩm định an ninh mạng, bao gồm: a) Sự phù hợp của phương án bảo vệ an ninh mạng; b) Sự phù hợp với phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; c) Sự tuân thủ quy định, điều kiện an ninh mạng trong thiết kế; d) Phương án bố trí nhân lực bảo vệ an ninh mạng. 4. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ hệ thống thông tin quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý và hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự. Ban Cơ yếu Chính phủ thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ.

Điều 11. Đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Điều 12. Kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Điều 13. Giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

1. Giám sát an ninh mạng là hoạt động thu thập, phân tích tình hình nhằm xác định các nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại để cảnh báo, khắc phục, xử lý. 2. Chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia chủ trì, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thẩm quyền thường xuyên thực hiện giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin do mình quản lý; xây dựng cơ chế tự cảnh báo và tiếp nhận cảnh báo về nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại và đề ra phương án ứng phó, khắc phục khẩn cấp. 3. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện giám sát an ninh mạng đối với các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia thuộc phạm vi quản lý; cảnh báo và phối hợp với chủ quản hệ thống thông tin trong khắc phục, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại xảy ra đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Điều 14. Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Điều 15. Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Điều 16. Phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng

Điều 17. Phòng ngừa, xử lý hành vi sử dung không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự

Điều 18. Phòng, chống tấn công mạng

Điều 19. Phòng, chống khủng bố mạng

1. Cơ quan nhà nước, chủ quản hệ thống thông tin áp dụng tất cả các biện pháp được pháp luật quy định để phòng, chống khủng bố mạng. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân căn cứ nhiệm vụ của mình thường xuyên rà soát, kiểm tra an ninh mạng nhằm loại trừ nguy cơ khủng bố mạng. 3. Khi phát hiện dấu hiệu, hành vi khủng bố mạng, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải kịp thời báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc cơ quan công an nơi gần nhất. Cơ quan tiếp nhận tin báo có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ tin báo về khủng bố mạng và kịp thời trao đổi lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thẩm quyền theo định tại khoản 5 Điều này. 4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của Luật này, Điều 29 Luật An toàn thông tin mạng và pháp luật về phòng, chống khủng bố để xử lý khủng bố mạng. 5. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai công tác phòng, chống khủng bố mạng, áp dụng biện pháp vô hiệu hóa nguồn khủng bố mạng, xử lý khủng bố mạng, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra đối với hệ thống thông tin, trừ hệ thống thông tin quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý và hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ; Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai công tác phòng, chống khủng bố mạng, áp dụng các biện pháp xử lý khủng bố mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin quân sự; Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai công tác phòng, chống khủng bố mạng, áp dụng các biện pháp xử lý khủng bố mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ.

Điều 20. Phòng, chống chiến tranh mạng

1. Phòng, chống chiến tranh mạng là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội, Nhà nước huy động mọi lực lượng tham gia phòng, chống chiến tranh mạng. 2. Bộ Quốc phòng chủ trì phòng, chống chiến tranh mạng.

Điều 21. Phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng

Điều 22. Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng

Điều 23. Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương

1. Nghiên cứu, ứng dụng, triển khai các phương án, biện pháp, công nghệ bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin và thông tin, tài liệu được lưu trữ, soạn thảo, truyền đưa trên hệ thống thông tin do mình quản lý. 2. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về an ninh mạng cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng cho đội ngũ làm công tác bảo vệ an ninh mạng. 3. Xây dựng, hoàn thiện quy định, quy chế sử dụng mạng máy tính nội bộ, mạng máy tính có kết nối mạng internet; phương án bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; phương án ứng cứu khẩn cấp sự cố an ninh mạng. 4. Quy hoạch, thiết kế, xây dựng mô hình mạng bảo đảm an ninh mạng. 5. Bảo vệ an ninh mạng trong các hoạt động: Cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng; cung cấp, trao đổi, thu thập thông tin với tổ chức, cá nhân; chia sẻ thông tin trong nội bộ và với cơ quan khác của nhà nước hoặc trong các hoạt động khác theo quy định của Chính phủ. 6. Đầu tư, xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất phù hợp với điều kiện bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ hệ thống mạng. 7. Tiến hành kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; phòng, chống tấn công mạng; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng. 8. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm về việc triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

Điều 24. Kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức

Điều 25. Bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế

Điều 26. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng

Điều 27. Nghiên cứu, phát triển an ninh mạng

Điều 28. Nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng

1. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm theo quy định của Chính phủ. 2. Các chương trình, đề tài nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng được sử dụng ngân sách nhà nước; ưu tiên phát triển các mô hình gắn kết nghiên cứu, đào tạo với sản xuất sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng. 3. Việc tổ chức thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.

Điều 29. Nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng

Điều 30. Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng

Điều 31. Lực lượng bảo vệ an ninh mạng

1. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. 2. Lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. 3. Tổ chức, cá nhân khác được huy động tham gia bảo vệ an ninh mạng.

Điều 32. Bảo đảm nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng

1. Công dân Việt Nam có kiến thức về công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng là nguồn lực cơ bản, chủ yếu bảo vệ an ninh mạng. 2. Nhà nước có chính sách, kế hoạch xây dựng, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng. 3. Khi xảy ra tình huống nguy hiểm về an ninh mạng, Nhà nước quyết định huy động nhân lực bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Đào tạo, phát triển lực lượng bảo vệ an ninh mạng

1. Ưu tiên đào tạo, phát triển lực lượng bảo vệ an ninh mạng chất lượng cao, có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo an ninh mạng đạt tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích liên kết, tạo cơ hội hợp tác về an ninh mạng giữa khu vực nhà nước và tư nhân, trong và ngoài nước.

Điều 34. Giáo dục, bồi dưỡng kiến thức về an ninh mạng

Điều 35. Phổ biến kiến thức về an ninh mạng

1. Nhà nước có chính sách phổ biến kiến thức an ninh mạng trong phạm vi cả nước, khuyến khích cơ quan nhà nước phối hợp với các tổ chức tư nhân, cá nhân thực hiện các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức về an ninh mạng. 2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức xây dựng và triển khai các hoạt động phổ biến kiến thức về an ninh mạng cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, tổ chức. 3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng và triển khai các hoạt động phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức về an ninh mạng cho tổ chức, cá nhân trong địa phương mình.

Điều 36. Bảo đảm trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng

Nhà nước bảo đảm trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tình hình an ninh mạng; huy động cơ sở hạ tầng không gian mạng của các cơ quan, tổ chức trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.

Điều 37. Kinh phí bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng

1. Kinh phí thực hiện hoạt động bảo vệ an ninh mạng của các cơ quan nhà nước do ngân sách nhà nước bảo đảm, được sử dụng trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm theo quy định của pháp luật về phân cấp ngân sách nhà nước. Việc quản lý, sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Kinh phí thực hiện hoạt động bảo vệ an ninh mạng cho hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức ngoài cơ quan nhà nước do cơ quan, tổ chức tự bảo đảm. 3. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bố trí kinh phí cho hoạt động bảo vệ an ninh mạng của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật.

Điều 38. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng

Điều 39. Trách nhiệm của chủ thể cung cấp thiết bị số, dịch vụ mạng, ứng dụng mạng

1. Cảnh báo về khả năng, tình huống có khả năng mất an ninh mạng của thiết bị số, dịch vụ mạng, ứng dụng mạng và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa. 2. Tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp thiết bị số, dịch vụ mạng, ứng dụng mạng đối với tổ chức, cá nhân trong phạm vi không gian, thời gian nhất định khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 3. Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các biện pháp nhằm xác minh thông tin, xác định chủ thể đăng ký sử dụng tài khoản số.

Điều 40. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet

Điều 41. Trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Điều 42. Trách nhiệm của Bộ Công an

Điều 43. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng

Điều 44. Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông

Điều 45. Trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ

Điều 46. Trách nhiệm của bộ, ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện công tác bảo vệ an ninh mạng đối với thông tin, hệ thống thông tin do mình quản lý và phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về an ninh mạng ở bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 47. Hiệu lực thi hành

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018.

Việt Nam: Tranh Luận Nóng Dự Luật An Ninh Mạng

Theo bà Thuý, trong cam kết với WTO, dịch vụ viễn thông cung cấp qua biên giới không hạn chế tiếp cận thị trường, trừ một số trường hợp cụ thể, nhưng trong các trường hợp loại trừ đó không quy định phải có cơ quan đại diện trên lãnh thổ Việt Nam; cam kết của Hiệp định thương mại tự do EU – Việt Nam cũng nêu tương tự.

Ngoài ra, đại biểu Thuý cũng cho biết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP 12) mà Việt Nam từng ký kết, đã quy định “không bên nào được sử dụng hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi lãnh thổ của mình, để xem đó như điều kiện triển khai công việc kinh doanh trong lãnh thổ đó”.

Nữ đại biểu cho rằng, Việt Nam đang trong quá trình đàm phán TPP 11 (thời điểm tháng 11/2017), do đó dự Luật không nên đặt ra những quy định trái với quy định mà Việt Nam từng thống nhất.

“Việc bảo vệ an ninh quốc gia rất quan trọng, nên Quốc hội đã ban hành Luật An ninh quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng. Có thể coi hai luật như hai cái khóa rất chắc chắn. Nay thêm Luật An ninh mạng không khác gì thêm cái khóa thứ ba”, bà Thúy nói.

Thời điểm đó, ngoài hội trường Quốc hội, giới chuyên gia, doanh nghiệp cũng có những góp ý vào dự Luật trên. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thậm chí còn khuyến cáo, một số nhà cung cấp dịch vụ thà bỏ thị trường Việt Nam chứ không chấp nhận đặt máy chủ ở nước sở tại. Họ lo lắng người dân không còn được sử dụng dịch vụ tiện ích như: Gmail, Facebook, Youtube….

Đến ngày 26/3, có 58 đoàn đại biểu Quốc hội và 11 bộ, ngành gửi ý kiến tham gia về dự án Luật An ninh mạng. Trên cơ sở ý kiến góp ý, Thường trực Ủy ban Quốc phòng An ninh đã tổ chức cuộc họp với Thường trực Ban soạn thảo để tiếp thu, hoàn thiện bước đầu với dự thảo luật và dự thảo báo cáo giải trình.

Tranh luận trên nghị trường

Tại kỳ họp thứ 5 đang diễn ra, báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho hay, tiếp thu ý kiến của đại biểu, dự thảo Luật đã không quy định yêu cầu đặt máy chủ quản lý dữ liệu trên lãnh thổ Việt Nam. Song điều 26 dự Luật lại quy định các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ mạng viễn thông, internet phải lưu trữ dữ liệu người dùng, đặt văn phòng đại diện, trụ sở tại Việt Nam. Quy định này cũng áp dụng tương tự với doanh nghiệp trong nước.

Ủy ban thường vụ Quốc hội lý giải, quy định trên đáp ứng được yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia với dữ liệu điện tử và xử lý các tình huống, hành vi trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; gắn nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ điều tra, xác minh, xử lý vi phạm và ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin chống Đảng, Nhà nước trên không gian mạng…

Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, Phó Giám đốc bệnh viện Đại học Y cho rằng An ninh mạng là một luật mới không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới và khi trình Quốc hội ở kỳ trước thì còn nhiều ý kiến tranh luận, trong dư luận xã hội cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Vì vậy, ông mong Quốc hội “thận trọng xem xét trước khi quyết định thông qua tại kỳ họp này”.

Theo ông, mặc dù điều luật trên liệt kê đủ những thông tin xấu cần ngăn chặn, gỡ bỏ, tuy nhiên trong cuộc sống hàng ngày ranh giới đúng, sai nhiều khi rất mong manh.

“Vậy ai là người quy định, đánh giá nội dung thông tin được coi là vi phạm? Một cá nhân, một phòng ban hay một cục, vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông hay Bộ Công an?”, ông Hiếu nêu câu hỏi và cho hay, kinh nghiệm của Indonesia khi sửa đổi Luật vào năm 2017 đã quy định rất rõ ràng “người đưa ra phán xét thông tin xấu là tòa án”.

Bấm nút tranh luận, Đại tá Nguyễn Hữu Cầu – Giám đốc Công an Nghệ An nói, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu “phân vân rất có lý”, tuy nhiên, trong thực tiễn những thông tin quy định tại điều 15 đều được cơ quan chức năng thông qua một cơ chế, đó là trưng cầu giám định.

Một quy định khác của dự thảo Luật gây nhiều tranh luận là việc kiểm tra an ninh mạng với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức (điều 24)

Đại biểu Tạ Văn Hạ đề nghị cân nhắc nội dung trên vì nếu không quy định chặt chẽ thì sẽ nảy sinh tiêu cực, lạm dụng quyền hạn ảnh hưởng tới hoạt động của cơ quan, tổ chức.

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, giải trình cuối phiên họp, Thượng tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng An ninh, ba lần đề nghị Quốc hội “cho giữ như dự thảo Luật”.

Nguồn: Vnexpress

Vì Sao Việt Nam Cần Có Luật An Ninh Mạng?

Tại kỳ họp này, công tác xây dựng pháp luật chiếm tới 2/3 thời gian. Kết thúc kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 8 dự án luật, trong đó có Luật An ninh mạng.

Luật An ninh mạng được các đại biểu Quốc hội lấy ý kiến cử tri từ tháng 3/2017.

Ngay tại kỳ họp, trước giờ biểu quyết, thông qua, một số điều còn có ý kiến khác nhau như Điều 10 và Điều 26 cũng được lấy ý kiến tại Quốc hội.

Trong thời gian diễn ra kỳ họp, các cơ quan soạn thảo Luật An ninh mạng và Quốc hội đã lắng nghe, tiếp thu nhiều ý kiến của các cơ quan, các nhà khoa học và người dân… chỉnh lý văn bản nên luật đã được Quốc hội thông qua với tỷ lệ cao (86,86% đại biểu tán thành).

Ngày 28/6/2018, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố Luật An ninh mạng cùng 6 luật khác vừa được Quốc hội thông qua.

Luật An ninh mạng sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2019.

Thế nhưng cho đến nay, nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây và nhiều website có máy chủ ở nước ngoài vẫn cố tình xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống.

Họ nói rằng: “Luật An ninh mạng mở đường cho một cuộc trấn áp mới!”; rằng “Luật An ninh mạng gây quan ngại về quyền con người và ảnh hưởng tới thương mại quốc gia”…

Sau khi Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua, từ thông tin mạng ở nước ngoài dẫn dắt, một số kẻ chống phá trong nước đã kích động người dân dẫn đến một số cuộc biểu tình gây rối ở một vài nơi.

Trong những cuộc biểu tình gây rối này, khẩu hiệu được in sẵn và tán phát từ trước.

Có thể nói, các thế lực thù địch đã có cả một kế hoạch khá chi tiết, bài bản nhằm xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống.

Vậy vì sao Việt Nam cần có Luật An ninh mạng?

Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không?

Mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ chống phá là gì?

Trước hết, vì sao Việt Nam cần phải có Luật An ninh mạng?

Khác với các thời kỳ lịch sử trước, bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ biên cương, bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển của đất nước, ngày nay, bảo vệ Tổ quốc còn phải bảo vệ không gian điện tử của Tổ quốc.

Thực tế cho thấy từ khi internet, mạng xã hội ra đời đến nay đã từng diễn ra việc lợi dụng internet, mạng xã hội để tập hợp lực lượng, kích động biểu tình, gây rối, kêu gọi lật đổ chính quyền.

Ngày nay, các thế lực thù địch đã có thêm một phương thức mới để chống phá nhà nước, đó là sử dụng internet, mạng xã hội để tấn công cơ quan, tổ chức, thậm chí còn có thể gây bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội.

Chẳng hạn, chúng sử dụng hacker (tin tặc) gây ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội.

Còn nhớ tháng 3/2017 xảy ra vụ việc tin tặc tấn công hàng loạt website sân bay trong nước, khiến cho nhiều chuyến bay bị gián đoạn, đảo lộn.

Internet, mạng xã hội từng là phương thức tán phát thông tin thất thiệt vì những mục tiêu hiểm độc, đê hèn, như:

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến khủng bố tinh thần-đe dọa đưa lên mạng những thông tin cá nhân, đời tư, khiến nhiều gia đình tan nát, cuộc sống bị xáo trộn, thậm chí không ít người còn tìm đến cái chết…

Tuy nhiên, điều nguy hiểm hơn là các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội để thực hiện kế hoạch lật đổ chế độ, Nhà nước bằng việc kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình “bất bạo động” gây bất ổn chính trị xã hội, gây ra hậu quả khôn lường.

Vì vậy, Nhà nước Việt Nam cần có chế tài nghiêm minh đối với tội phạm mạng là điều hết sức cần thiết.

Thứ hai, Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không?

Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều. Nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng là:

(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

(2) Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; …

(3) Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng… bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng…” (Điều 4).

Luật An ninh mạng chỉ quy định các chế tài đối với việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi chống Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đó là những hoạt động: (1) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

(2) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…;

(3) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội… xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

(4) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc…;

(5) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội…

(6) Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi” (Điều 8).

Luật An ninh mạng có vi phạm các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay không và các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook sẽ rời khỏi Việt Nam?

Theo Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các hiệp định WTO và CPTPP đều có điều khoản ngoại lệ về an ninh.

Theo đó, Việt Nam có quyền yêu cầu các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, internet và các dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu quan trọng của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam-đặt máy chủ ảo tại Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp.

Được biết, cho đến nay đã có hơn 18 quốc gia thành viên của WTO (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Australia, Đức, Pháp) có quy định bắt buộc các doanh nghiệp mạng phải lưu trữ dữ liệu trong lãnh thổ nước mình.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hiện nay, Google và Facebook đang lưu trữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt ở Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore.

Luật An ninh mạng có hiệu lực thì các doanh nghiệp này phải chuyển lưu trữ dữ liệu về Việt Nam là hoàn toàn khả thi.

Còn các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook đã có mặt tại Việt Nam thì sao?

Việt Nam hiện là một thị trường lớn của họ. Hơn nữa, cung cấp các dịch vụ mạng hiện nay cũng là một thị trường mà các quốc gia có thể lựa chọn theo quan điểm của mình.

Với Việt Nam, bảo vệ, bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng luôn được đặt lên hàng đầu.

Đây là điều mà Google và Facebook chắc chắn phải cân nhắc.

Gần đây, ngày 5/7, khi mạng xã hội facebook ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào vùng biển của Trung Quốc đã nhận được sự phản ứng mạnh mẽ của cư dân mạng Việt Nam và của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Cuối cùng, mạng xã hội lớn nhất thế giới này đã phải sửa sai và xin lỗi Việt Nam.

Xét về quyền và lợi ích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, Luật An ninh mạng hoàn toàn không hạn chế về quyền và lợi ích của nhóm đối tượng trên, vì chế tài của Luật An ninh mạng chỉ áp dụng đối với những hành vi phạm tội (thông qua lợi dụng internet, mạng xã hội-Điều 8).

Mặt khác, Luật An ninh mạng còn bảo vệ người dân và doanh nghiệp luôn có một môi trường thông tin chân thực, lành mạnh, thoát khỏi tình trạng bị ô nhiễm như đối với không khí, nước uống và thực phẩm sạch cho tinh thần.

Thứ ba, mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ xấu là gì?

Khác với Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin mạng…, Luật An ninh mạng đã có những quy định cụ thể nhằm loại bỏ thông tin xấu độc, độc hại ngay tại gốc, từ những trang mạng mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước Việt Nam.

Đồng thời, Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học xử lý những kẻ lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước và làm tổn hại đến cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp của Việt Nam.

Căn cứ vào luật này, các cơ quan chức năng có quyền yêu cầu các nhà mạng phải cung cấp đầy đủ thông tin của những tài khoản tán phát thông tin độc hại… và đây là nỗi lo lớn của những kẻ xấu.