Top 2 # Vướng Mắc Luật Hải Quan Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Doanh Nghiệp Còn Gặp Vướng Mắc Về Tìm Hiểu Pháp Luật Hải Quan

Khảo sát mới đây của VCCI với 3.500 doanh nghiệp, đã có 47% doanh nghiệp cho biết, họ từng gặp vướng mắc trong quá trình tìm hiểu pháp luật hải quan.

Nhiều thủ tục hải quan đã được cung cấp các dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 3 và 4 và cơ chế một cửa quốc gia cũng đang được triển khai mạnh mẽ…

Tuy nhiên, theo một khảo sát mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) được tiến hành với 3.500 doanh nghiệp đánh giá và phản hồi về hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hải quan thì 47% doanh nghiệp được hỏi cho biết, họ từng gặp vướng mắc trong quá trình tìm hiểu pháp luật hải quan.

Mặc dù, tỉ lệ này đã giảm đáng kể so với mức 54% của năm 2015 và việc tiếp cận thông tin thủ tục hành chính của ngành hải quan là tương đối dễ dàng.

Đại diện VCCI, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch nhận định, ngành hải quan đã có nhiều nỗ lực cải cách quan trọng theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Bên cạnh những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính nói chung, ngành hải quan còn là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, theo ông Phòng, các quy định về kiểm tra chuyên ngành còn nhiều; trong đó, nhiều quy định không phù hợp thực tế. Thời gian kiểm tra chuyên ngành còn dài, các cơ quan phối hợp chưa tốt trong việc giải quyết các thủ tục cho doanh nghiệp. Đặc biệt, còn nhiều quy định pháp luật phức tạp nên mức độ hài lòng với kết quả phản hồi từ các cơ quan hải quan có sự khác nhau rõ rệt.

Đáng chú ý, kết quả khảo sát cho thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra sau thông quan, khó khăn hàng đầu đối với doanh nghiệp là nội dung kiểm tra bị chồng chéo, trùng lặp. Thời gian kiểm tra luôn bị kéo dài hơn so với kế hoạch đã thông báo cho doanh nghiệp.

Một Số Vướng Mắc Trong Quy Định Pháp Luật Về Thẩm Quyền Điều Tra Của Cơ Quan Hải Quan

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Theo đó, Hải quan là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội quy định tại các Điều 188 Tội buôn lậu, Điều 189 Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm của Bộ luật Hình sự, thì cơ quan Hải quan có nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Nhiệm vụ và quyền hạn điều tra của cơ quan Hải quan được quy định trong các trường hợp sau: Trường hợp 1: Thực hiện khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là: (2) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; (4) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai bị hại, đương sự, người làm chứng; (5) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; (6) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra, Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan Hải quan chuyển hồ sơ vụ án đến Viện Kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Trường hợp 2: Thực hiện khởi tố vụ án đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiên trọng. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là: (2) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án; (4) Triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự. Sau khi khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, cơ quan Hải quan chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, ngành Hải quan đã quán triệt, chủ động trong việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đối với những vi phạm có dấu hiệu tội phạm của tội danh mà cơ quan Hải quan có thẩm quyền điều tra đối vưới những vi phạm có dấu hiệu tội phạm của 3 tội danh mà cơ quan Hải quan có thẩm quyền điều tra. Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác điều tra hình sự, có một số vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan như sau: Như vậy, có nhiều hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm được phát hiện trực tiếp qua hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, trong phạm vi địa bàn hải quan nhưng cơ quan Hải quan không có thẩm quyền điều tra ma phải chuyển hồ sơ đến cơ quan Cảnh sách điều tra để thực hiện kiến nghị khởi tố. Điều này ảnh hưởng đến tính kịp thời, tính hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Ba là, hạn chế trong quy định về người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan đối với chức danh Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy. Tại các Cục Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan, Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy là lực lượng chủ lực, chuyên trách trong hoạt động đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và kiểm soát phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành về cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan không có quy định đối với chức danh Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy. Mặt khác, lực lượng kiểm soát hải quan, bao gồm cả lực lượng kiểm soát phòng, chống ma túy thường là lực lượng được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác kiểm soát hải quan, điều tra hình sự nên khi phát sinh vụ việc, nếu không quy định cho các Đội này được thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh, khởi tố, điều tra vụ án theo quy định tố tụng hình sự sẽ là một bất cập lớn trong việc đào tạo, bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và đấu tranh phòng, chống ma túy. Bốn là, hạn chế về thời gian điều tra. Sau khi thực hiện khởi tố vụ án, pháp luật hiện hành quy định cho cơ quan Hải quan được tiến hành điều tra với một số hoạt động hạn chế cả về thẩm quyền và thời hạn. Trong trường hợp khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì thời hạn thực hiện các hoạt động điều tra là 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án để chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị truy tố; trong trường hợp khởi tố vụ án, thì thời hạn thực hiện các hoạt động điều tra chỉ được 7 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án để chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trong khi đó, tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể tử khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Như vậy, đối với 02 trường hợp nêu trên, đặc biệt với trường hợp cơ quan Hải quan thực hiện khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày thì thời hạn 7 ngày này đã bao gồm cả thời gian cơ quan Hải quan gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, đợi phía Viện kiểm sát phê chuẩn, kiểm sát hồ sơ và ban hành Quyết định chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra. Do vậy, quy định thời hạn điều tra chưa đảm bảo tính thực thi, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan cũng như chất lượng hồ sơ vụ việc khi chuyển giao. Năm là, bất cập trong quy định về giải quyết nguồn tin tội phạm: Theo quy định tại điểm d khoản1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự, nguồn tin về tội phạm gồm: Tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lời khai của người phạm tội tự thú; thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Tuy nhiên, cơ quan Hải quan chỉ có thẩm quyền điều tra trong trường hợp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc trực tiếp phát hiện hành vi phạm tội mà không có thẩm quyền điều tra đối với trường hợp kiến nghị khởi tố và trường hợp người phạm tội tự thú ngay cả với vi phạm có dấu hiệu tội phạm quy định tại các Điều 188, Điều 189 và Điều 190. Đây là bất cập trong quy định của pháp luật, làm hạn chế thẩm quyền điều tra với nguồn tin tội phạm thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan, đặc biệt trong trường hợp Hải quan có thể tiếp nhận được kiến nghị khởi tố từ các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra khác (như Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm lâm) đối với tội phạm xảy ra trong địa bàn hoạt động hải quan. Sáu là, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin. Hiện nay, hoạt động kiểm tra, theo quy định pháp luật hiện hành có quy định trình tự, thủ tục, thời hạn, biểu mẫu phân công thực hiện giải quyết đối với nguồn tin từ tin báo, tố giác tội phạm. Đối với nguồn tin từ việc trực tiếp phát hiện tội phạm (gồm bắt người phạm tội quả tang và phát hiện dấu hiệu tội phạm trong xử lý vi phạm hành chính) thì chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn, biểu mẫu phân công thực hiện giải quyết nguồn tin. Trong khi đó, qua thực tiễn công tác, vi phạm có dấu hiệu tội phạm cơ quan Hải quan chủ yếu trực tiếp phát hiện. Hiện pháp luật không có quy định cụ thể về biện pháp, thời hạn, biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra thực hiện giải quyết nguồn tin đối với bắt người phạm tội quả tang và từ vụ vi phạm hành chính. Qua số liệu thống kê các vụ án hình sự ngành Hải quan khởi tố, điều tra trong thời gian qua thì 100% vụ án hình sự do cơ quan Hải quan khởi tố đều chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để tiếp tục điều tra. Không có vụ án nào cơ quan Hải quan thực hiện việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra và chuyển Viện kiểm sát để thực hiện truy tố. Điều đó cho thấy, thực tiễn hiện nay, hoạt động chủ yếu trong thực hiện thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan chủ yếu là kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm để quyết định khởi tố vụ án. Việc áp dụng biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra thực hiện khởi tố, điều tra vụ án (theo Thông tư 61/2017/TT-BCA) cho giai đoạn kiểm tra, xác minh nguồn tin và bất cập, do lúc này chưa có quyết định khởi tố vụ án, nên không thể hiện đúng bản chất quy định của pháp luật về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin. Như vậy, những vướng mắc trong quy định của pháp luật về việc hạn chế thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan, hạn chế về thời hạn điều tra, hạn chế trong quy định về kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm làm ảnh hưởng đến tính thực thi của pháp luật tố tụng hình sự và ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của cơ quan Hải quan. Để nâng cao hiệu quả công tác điều tra hình sự của cơ quan Hải quan, các vướng mắc, hạn chế này cần được xử lý theo hướng đề xuất sử đổi bổ sung quy định của pháp luật với những nội dung: bổ sung thẩm quyền điều tra đối với Tội tàng trữ, vận chyển hàng cấm (Điều 191), Tội trốn thuế (Điều 200) và các tội có dấu hiệu định khung “qua biên giới” của hàng hóa xuất nhập khẩu; Bổ sung thẩm quyền điều tra cho cơ quan Hải quan đối với nguồn tin kiến nghị khởi tố và người phạm tội tự thú; Bổ sung quy định về kiểm tra, xác minh giải quyết nguồn tin (đối với nguồn tin từ việc trực tiếp phát hiện tội phạm trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan) và biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin trong những trường hợp này; Sửa đổi quy định về thời hạn điều tra sau khi khởi tố vụ án cho cơ quan Hải quan theo hướng tăng thời hạn để đảm bảo tính thực thi của quy định pháp luật trong thực hiện các hoạt động điều tra./.

                                                 Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Hải quan

Hải Quan Lên Tiếng Về Những Vướng Mắc Thực Hiện Nghị Định Của Chính Phủ Về Attp

Trước những phản ánh về những vướng mắc doanh nghiệp gặp khi thực hiện Nghị định 15 tại Hội nghị triển khai Nghị định số 15/2018/NQ-CP của Chính phủ về quản lý an toàn thực phẩm diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh do VCCI và 6 Hiệp hội ngành nghề phối hợp tổ chức, Tổng cục Hải quan cho biết, ngày 2-2-2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25-4-2012 của Chính phủ.

Trong thời gian đầu triển khai thực hiện Nghị định 15, cơ quan quản lý nhà nước (trong đó có cơ quan hải quan) và phía doanh nghiệp đều gặp một số vướng mắc tại một số điều khoản thi hành.

Để khẩn trương tháo gỡ vướng mắc, bất cập tại Nghị định 15, ngày 2-3-2018, Tổng cục Hải quan (Cục GSQL) đã chủ trì cuộc họp với Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế để trao đổi về vấn đề này. Tại cuộc họp, đại diện Bộ Y tế đề nghị Tổng cục Hải quan tổng hợp lại tất cả các vướng mắc gửi các Bộ quản lý chuyên ngành để có ý kiến trả lời.

Một số vướng mắc cần được tháo gỡ như: Cơ quan hải quan chưa nhận được danh sách các cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương chỉ định theo Nghị định 15; Cơ quan hải quan chưa có dữ liệu về doanh nghiệp/ mặt hàng được áp dụng phương pháp kiểm tra giảm để lựa chọn ngẫu nhiên tối đa 5% lô hàng để kiểm tra; 3 Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu có phải là liên tiếp hay hàng hóa có phải được sản xuất trong các cơ sở áp dụng hệ thống HACCP, GMP, ISO hay không…

Để thống nhất trong cách triển khai tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trên cả nước và giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp, ngày 9-3-2018 Tổng cục Hải quan đã có công văn số 1267/TCHQ-GSQL hướng dẫn các Cục Hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện Nghị định 15, cụ thể về sản phẩm, nguyên liệu được miễn thủ tục tự công bố sản phẩm và miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; về Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm.

Để có cơ sở xác định hàng hoá nhập khẩu thuộc diện được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 15/2018/ NĐ-CP ( sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm), khi làm thủ tục hải quan, người khai nộp bản chụp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm ( có xác nhận của doanh nghiệp).

Trường hợp dữ liệu về “Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm” được Bộ quản lý chuyên ngành cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, khi kiểm tra hồ sơ hải quan, công chức hải quan tự tra cứu trên hệ thống và giải quyết thủ tục hải quan theo quy định, không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp giấy Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm…

Trong công văn cũng nêu rõ, trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc phát sinh, đề nghị các Cục Hải quan tỉnh, thành phố tổng hợp, báo cáo Tổng cục để có hướng dẫn cụ thể.

Nhiều Vướng Mắc Về Luật Quy Hoạch

Việc đưa Luật Quy hoạch vào cuộc sống nhằm phát triển có định hướng, tránh đầu tư, phát triển theo phong trào dẫn đến khủng hoảng…

“Do đó hội nghị lần này nhằm lắng nghe ý kiến từ các bộ ngành, địa phương những thuận lợi, khó khăn khi triển khai. Những vướng mắc nào tôi trả lời được thì trả lời ngay, nếu không thì phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ”, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh.

Đại diện các Bộ: Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng, Công thương, Giao thông vận tải… cũng đã nêu ra một số kiến nghị để tháo gỡ khó khăn khi triển khai luật này.

Về phía TPHCM, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Võ Văn Hoan cho biết, TPHCM có các quy hoạch đã lập mà chưa được phê duyệt, có các quy hoạch đã lập điều chỉnh và được phê duyệt TP cũng đã hoàn thành đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của TP đến năm 2020 tầm nhìn 2025 đã trình Ban Thường vụ Thành ủy và được thống nhất chủ trương lập quy hoạch mới thời kỳ 2021 – 2030 và tầm nhìn 2045.

Hiện nay TP đang triển khai thực hiện các bước để lập quy hoạch theo các căn cứ pháp lý được ban hành. Trong quá trình triển khai thực hiện TP luôn chủ động phối hợp với các bộ ngành để được hướng dẫn tháo gỡ khó khăn vướng mắc.

TP có 4 khó khăn, thứ nhất với việc bãi bỏ một số quy định của ngành, lĩnh vực trong khi chúng ta chưa có quy hoạch mới theo quy định của Luật Quy hoạch chưa được lập, chưa kịp thời bổ sung và điều chỉnh, do đó ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư khuyến khích và huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển của TP.

Vì việc triển khai các dự án đầu tư huy động nguồn lực của TP đều phải xem xét đến tính phù hợp của quy hoạch và việc này cần được hướng dẫn hết sức cụ thể.

TP kiến nghị Trung ương cho phép TP trong lúc chưa có quy hoạch mới theo Luật Quy hoạch mới thì cho phép tiếp tục thực hiện những nội dung đã có trong quy hoạch được duyệt khi nào có những quy hoạch chung và quy hoạch chuyên ngành thì chúng ta bãi bõ quy hoạch cũ. Như vậy chúng ta mới có thể giải quyết những bài toán hiện nay về đầu tư và huy động nguồn lực.

Thứ hai là từ khi Luật Quy hoạch 2017 có hiệu lực đến nay, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương vẫn chưa có nghị định và thông tư hướng dẫn hướng dẫn trình tự lập, phê duyệt chủ trương cũng như bố trí vốn cho việc lập quy hoạch. Việc này gây ra rất nhiều khó khăn, bất cập không chỉ cho TPHCM mà cho các địa phương khác trong việc bố trí nguồn ngân sách các dự án quy hoạch để thuê tư vấn lập quy hoạch dẫn đến chậm tiến độ báo cáo Thủ tướng Chính phủ đến cuối năm 2020.

Thứ ba, theo quy định Luật Quy hoạch lập quy hoạch của cấp tỉnh và thành phố thì bao gồm chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển ngành lĩnh vực trong cùng giai đoạn phát triển; căn cứ vào các quy hoạch cao hơn; căn cứ vào quy hoạch thời kỳ trước nội dung quy hoạch cấp tỉnh thể hiện quy hoạch các dự án cấp quốc gia, các dự án cấp vùng, dự án liên tỉnh đã được xác định quy hoạch vùng…

Như vậy, để có cơ sở lập mới quy hoạch của TP thời kỳ 2021 – 2030 và tầm nhìn 2045, TP phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước giai đoạn này, căn cứ vào quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch không gian quốc gia…

Nhưng đến nay các căn cứ quan trọng này chưa được ban hành chính thức. Đây cũng là khó khăn cho quá trình nghiên cứu xây dựng quy hoạch cấp tỉnh, cấp TP.

Thứ tư, hiện nay TP đang điều chỉnh lập quy hoạch tổng thể, quy hoạch chung TP theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Kinh phí thực hiện là nguồn cân đối từ kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm của địa phương. Tuy nhiên vừa rồi TP có hỏi ý kiến Bộ Tài chính để được hướng dẫn thì Bộ Tài chính cho rằng nguồn kinh phí được cân đối từ nguồn đầu tư công. Như vậy có sự hướng dẫn chưa rõ giữa Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính. Do đó TP kiến nghị Bộ Kế hoạch – Đầu tư tham mưu Chính phủ đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng thời kỳ 2021 – 2030 và tầm nhìn 2045 để các địa phương căn cứ vào đây xây dựng và lập quy hoạch; kiến nghị Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ sớm có quy định bố trí nguồn kinh phí cho công tác lập quy hoạch…

ĐỖ TRÀ GIANG