Top 10 # Vướng Mắc Nghị Quyết 42 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

Biện pháp xử lý cũng đa dạng hơn trước khi có nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt nghị quyết đã cho phép các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu ngân hàng. Trong 2 năm qua NHNN Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan ra nhiều văn bản chỉ đạo nhằm hỗ trợ các ngân hàng xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên, theo phản ánh của các ngân hàng ở chúng tôi nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai Nghị quyết 42 còn chưa đầy đủ dẫn đến không thống nhất trong cách xử lý thủ tục thu hồi nợ xấu cho ngân hàng. Trong đó có thủ tục hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận phần diện tích đất trên đất chênh lệch so với giấy chứng nhận và diện tích đất thế chấp ngân hàng.

Ví như, thời điểm DN vay vốn thế chấp 1 ha, nhưng đến khi rơi vào nợ xấu số đất lại nở ra 1,2 ha. Nguyên do chủ đất đã mua thêm, nhưng phần mua thêm chưa phải đất thổ cư nên chính quyền cơ sở không chứng nhận cho ngân hàng thu hồi tài sản đảm bảo vì còn có phần đất nông nghiệp dính vào tài sản đảm bảo nợ vay.

Chưa kể các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của ngân hàng trước đây gần như không thể hiện được nội dung thỏa thuận cụ thể được quyền thu giữ tài sản đảm bảo hoặc có thỏa thuận nhưng sử dụng các thuật ngữ chung chung như TCTD được quyền phát mãi, quyền định đoạt… trong khi chưa có văn bản hướng dẫn nội dung quyền thu giữ tài sản đảm bảo được hiểu như thế nào là đầy đủ.

Việc bán nợ xấu và tài sản đảm bảo, theo ACB, Nghị quyết 42 không điều chỉnh giá thị trường được xác định trên cơ sở nào, đơn vị nào đủ năng lực, thẩm quyền xác định giá trị thị trường. TCTD có được tự xác định giá trị thị trường của khoản nợ, giá thỏa thuận của các bên mua bán có được xem là giá thị trường?

Một đại diện Sacombank cho biết, hoạt động mua bán nợ xấu của TCTD cho các tổ chức, cá nhân chưa có nhiều do bên mua nợ còn e ngại thủ tục xử lý nợ trên thực tế gặp nhiều khó khăn về thời gian, chi phí. Thực tế đến nay cũng không nhiều tổ chức, cá nhân có tiềm lực tài chính mạnh để hoạt động mua bán nợ xấu theo giá thị trường.

Theo NHNN chi nhánh chúng tôi các TCTD trên địa bàn mong muốn cần có hướng dẫn cụ thể Điểm b, Khoản 2, Điều 7 của Nghị quyết 42/2017/QH14. Trong đó, Điểm b, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Trong đó, giải thích rõ thỏa thuận về quyền thu giữ tài sản đảm bảo theo hợp đồng bảo đảm là như thế nào để có cơ sở cho TCTD áp dụng đúng quy định. Cần có văn bản hướng dẫn rõ việc xác định tài sản như thế nào là không tranh chấp theo Nghị quyết 42/2014/QH14.

Từ đó, có quy định cơ quan thuế và cơ quan đăng ký có trách nhiệm cập nhật, đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đảm bảo xử lý nợ xấu, kể cả trường hợp tài sản đảm bảo sau khi xử lý không đủ thanh toán nợ cho ngân hàng thì ngân hàng bên mua trúng đấu giá vẫn không phải đóng thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Hải Nam

Nguồn:

Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42

Thông tin tại cuộc họp cho biết, sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực, kết quả xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm và khách hàng tự trả nợ còn chưa cao.

Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến nay, tỷ trọng nợ xấu xử lý bằng hình thức khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết số 42 đã xử lý cao hơn nhiều.

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các TCTD đối với công tác xử lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng thời gian vừa qua.

Theo Phó Thống đốc, mặc dù công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng thời gian qua đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi sự chung sức, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương.

Để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 được triển khai có hiệu quả trên thực tế, các khó khăn, vướng mắc về cơ bản sẽ được xử lý, các TCTD và VAMC cũng đề xuất một số giải pháp, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tại cuộc họp, đại diện Vụ Pháp chế, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng cũng giải đáp và tiếp thu đối với các khó khăn, vướng mắc và đề xuất của các TCTD, VAMC đưa ra tại cuộc họp.

Đối với các khó khăn, vướng mắc, đề xuất của TCTD chưa hợp lý và các khó khăn, vướng mắc của TCTD đã được NHNN, các Bộ, ngành xử lý, Vụ Pháp chế, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng và VAMC sẽ cùng trao đổi cung cấp thêm thông tin cho TCTD về vấn đề này.

Phó Thống đốc yêu cầu các TCTD rà soát nội dung báo cáo, để có đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm phối hợp, đồng hành với NHNN tiếp tục triển khai có hiệu quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 trong thời gian tới, đồng thời bày tỏ tin tưởng, cùng với sự nỗ lực, quyết liệt của cả hệ thống, ngành Ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu về xử lý nợ xấu nhằm góp phần giữ vững sự phát triển ổn định, an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng.

Những Vướng Mắc Trong Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Và Đề Xuất Tháo Gỡ

Thứ ba, một số kết quả cụ thể đã đạt được. Một là, cách thức quản lý, theo dõi, đánh giá nợ xấu có bước tiến rõ nét làm động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu theo hướng chủ động và thực chất hơn. Theo đó, tại Đề án 1058 về “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2020 đã được đưa ra thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây.

Một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ

Việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như TCTD đi vào thực chất hơn, tạo động lực và cả áp lực đối với hệ thống các TCTD tích cực, chủ động hơn trong xử lý nợ xấu. Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2017 và 2,46% cuối năm 2016) và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2016 và 7,36% cuối năm 2017. Trong đó, kết quả xử lý nợ xấu của VAMC cũng khá khả quan; tính đến hết tháng 8/2018, VAMC đã thu hồi gần 100.000 tỷ đồng trên 227.000 tỷ đồng nợ gốc đã mua. Đặc biệt là tác động của NQ 42 tương đối rõ nét. Theo số liệu mới nhất từ NHNN, tính từ giữa năm 2012 đến hết tháng 6/2018, toàn hệ thống đã xử lý được 785.930 tỷ đồng nợ xấu, riêng sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 42, toàn hệ thống đã xử lý được 138.290 tỷ đồng (tương đương tỷ lệ 17,5% của cả 6 năm qua); trong đó các TCTD đã xử lý được 58.800 tỷ đồng.

Với những bước tiến trong công tác xử lý nợ xấu thời gian qua, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu gộp về 3% đến cuối năm 2020 là khả thi.

Những kết quả xử lý nợ xấu thời gian qua là rất tích cực, nhưng vẫn còn một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ để Nghị quyết 42 phát huy hiệu quả cao hơn. Những vướng mắc đó tập trung vào 3 nhóm chính.

Thứ ba, vướng mắc trong thủ tục sang tên cho người mua TSBĐ. Theo quy định tại Nghị quyết 42, “Số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý TSBĐ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD… trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm…”. Tuy nhiên, thực tế triển khai lại không hề đơn giản. Khi chưa nộp đủ các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế khác của người phải thi hành án… thì cơ quan thuế sẽ không chuyển thông báo nộp thuế cho Văn phòng Đăng ký đất đai. Hệ quả là TCTD không thực hiện được thủ tục sang tên cho người mua TSBĐ.

Thứ tư, vướng mắc trong chuyển nhượng dự án bất động sản. Việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản theo Điều 10 Nghị quyết 42 gặp vướng mắc do ngoài việc tuân thủ theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, TCTD và bên nhận chuyển nhượng còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đầu tư. Điều này dẫn đến thực trạng là sau khi TCTD đưa tài sản bảo đảm là dự án bất động sản ra bán đấu giá công khai và xác định được người trúng đấu giá, nhưng lại không thực hiện được thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho người nhận chuyển nhượng, với lý do là chưa đáp ứng được tiêu chuẩn, năng lực theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ sáu, vướng mắc trong bán đấu giá TSBĐ thi hành án. Theo quy định tại Điều 102 khoản 2 Luật thi hành án dân sự (2014); người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản. Quy định này đã tước đi hoặc hạn chế quyền của TCTD trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có vi phạm pháp luật trong quá trình đấu giá tài sản.

Thứ nhất, mua-bán nợ xấu theo giá thị trường còn chậm. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 (Nghị quyết 42), tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được mua khoản nợ xấu với giá bằng giá trị định giá của tổ chức định giá độc lập; sau đó xử lý, thu hồi nợ và phân chia với TCTD số tiền chênh lệch giữa số tiền thu nợ được và giá mua nợ. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn rất khó khăn, trong đó nguyên nhân một phần là do VAMC chưa được cấp đủ vốn; một phần nữa là VAMC chưa mạnh dạn thúc đẩy phương thức mua nợ này do cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ trong xử lý nợ xấu chưa có tiền lệ; trong khi đó theo quy định đây là phương thức mua-bán nợ duy nhất mà VAMC được phép thực hiện, điều này làm cho hoạt động mua-bán nợ còn chậm.

Thứ ba, thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài. Theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử của một vụ án dân sự là từ 4-6 tháng, tuy nhiên thực tế thì quá trình giải quyết tại Tòa án thường mất rất nhiều thời gian, chi phí. Nhiều vụ việc Tòa án đã nhận được Đơn khởi kiện hợp lệ nhưng không có thông báo hay phản hồi cho các TCTD. Ngoài ra, việc cơ quan Tòa Án, Thi hành án thường không nhận đơn từ thời gian tháng 6 đến tháng 9 do thời điểm 30/9 hàng năm là lúc tổng kết số án tồn của các đơn vị. Thực tế này khiến TCTD phải thêm thời gian chờ đợi khi khởi kiện và thi hành án.

Thứ tư, thứ tự ưu tiên xử lý trong vụ việc có nhiều tài sản thi hành án được hiểu và áp dụng khác nhau. Về nguyên tắc, các hợp đồng bảo đảm có hiệu lực pháp lý như nhau khi phải xử lý để thực hiện nghĩa vụ của các bên. Do đó, các TSBĐ cho nghĩa vụ của người phải thi hành án cần được xử lý đồng thời khi người được thi hành án yêu cầu. Tuy nhiên, một số cơ quan thi hành án có quan điểm phải xử lý xong tài sản của khách hàng vay rồi mới tiến hành xử lý tài sản thi hành án của bên thứ ba hoặc có văn bản đề nghị Tòa án xác định thứ tự xử lý tài sản trong bản án. Cách làm này khiến quá trình thi hành án và xử lý nợ xấu bị kéo dài.

Thứ năm, việc thực hiện theo phán quyết của Tòa án còn chậm do cách hiểu khác nhau. Vẫn còn trường hợp quan điểm của Cơ quan Thi hành án theo hướng chỉ thụ lý và tổ chức thi hành phần bên vay phải trả nợ, mà không thi hành cả phần xử lý tài sản thế chấp, do không đúng nội dung của Bản án đã được Toà án tuyên bố trước – đó là TCTD được quyền phát mại để thu hồi nợ nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ. Cách hiểu khác nhau này khiến việc thi hành án đối với nợ xấu chậm và không nhất quán.

Lời kết

Thứ tư, thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ. Sau khi mua các khoản nợ, bên mua nợ phải thực hiện quản lý các khoản nợ đó, trong đó có quản lý, khai thác và vận hành tài sản bảo đảm cũng như rủi ro thanh khoản của các tài sản này. Trường hợp bên mua nợ muốn bán, chuyển nhượng hoặc ủy thác quản lý các khoản nợ này đều rất khó khan vì chưa có thị trường thứ cấp. Tương tự, các hoạt động phái sinh như nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản, chứng khoán hóa nợ thường và nợ xấu …đều chưa có, dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ rất thấp, làm giảm mức độ hấp dẫn, tăng chi phí quản lý, chi phí chuyển nhượng đối với các khoản nợ đã mua.

Những vướng mắc nêu trên chỉ những vấn đề nổi cộm nhất trong quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD nói chung và triển khai Nghị quyết 42 nói riêng. Theo đó, để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu đề ra, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Đồng thời, cần nghiêm túc thực hiện đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ vào thời điểm cuối năm 2019. Hy vọng, Nghị quyết 42 sẽ thực sự đi vào cuộc sống và tạo tiền đề hình thành hành lang pháp lý xử lý nợ xấu lâu dài tại Việt Nam.

Những Vướng Mắc Của Nghị Định 167/2013/Nđ

Trangtinphapluat.com tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong 5 năm thi hành Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

+ Việc xác định thiệt hại do cháy, nổ gây ra, để làm căn cứ xử lý theo Điều 47, 48 Nghị định số 167 chỉ dựa vào lời khai cùa những người bị thiệt hại, vì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn xác định giá tài sản thiệt hại do cháy, nổ gây ra.

+ Một số hành vi còn chưa cập nhật với một số quy định mới ban hành như: Bộ Luật hình sự sửa đổi 2017, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ năm 2017, Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Nghị định số 99/2016/NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng con dấu.

+ Việc xử lý hành chính đối với hoạt động cho vay này cũng không hiệu quả, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP chỉ quy định xử phạt đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản mà không có quy định xử phạt với hành vi cho vay lãi nặng không cầm cố tài sản. Điều này dẫn đến việc xử phạt hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng rất khó thực hiện. Từ đó dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này trong giai đoạn hiện nay hầu như là không thực hiện được

2.Về mức phạt:

Một số hành vi còn thiếu biện pháp khắc phục hậu quả và có mức phạt tương đối thấp chưa có tính răn đe; đặc biệt trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy; dẫn đến tình trạng một số tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hiện đang tồn tại tâm lý chấp nhận nộp phạt vi phạm hành chính vẫn có lợi hơn so với việc chấp hành đúng quy định của pháp luật hoặc vẫn có tư tưởng xem nhẹ sai phạm đó.

Vấn đề thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền (Từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC): Luật XLVPHC quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền làm phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới bị dồn lên cơ quan cấp trên giải quyết, không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt.

3. Về thẩm quyền:

Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 167 đã phân định thẩm quyền khá cụ thể tuy nhiên, hiện nay nhiều chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã thay đổi hoặc không còn nữa hoặc phát sinh thêm một số chức danh do việc phân, tách, thành lập mới các cơ quan quản lý nhà nước.

Điều 54, Điều 87, Điều 123 Luật XLVPHC quy định vấn đề giao quyền xử phạt cho cấp phó, nhưng lại chưa có quy định cũng như hướng dẫn việc cấp phó được giao quyền có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau. Đồng thời, Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa có hướng dẫn cụ thể xác định trường hợp cấp trưởng “vắng mặt” (Điều 87) là như thế nào, gây lúng túng trong việc áp dụng trên thực tế.

(Hướng dẫn về giao quyền xử phạt vi phạm hành chính )

Khoản 2 Điều 71 Nghị định số 167 quy định người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình còn chung chung, dẫn đến áp dụng không thống nhất.

( Hướng dẫn cách lập biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất)

Nghị định chưa quy định thẩm quyền xử phạt của quản lý thị trường đối với các hành vi vi phạm về phòng cháy nổ và kinh doanh nghành nghề có điều kiện về an, trật tự. Thực tế nhiều trường hợp lực lượng quản lý thị trường phát hiện hàng hóa dễ cháy nổ như xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng… vận chuyển trên đường không có hóa đơn, không đủ điều kiện về phòng cháy, chữa cháy nhưng vì không được giao thẩm quyền xử phạt nên không thể xử lý được.

Việc cưỡng chế thi hành đối với những đối lượng chây ì chưa có chế tài cụ thể, gây khó khăn trong công tác xử lý, hạn chế tính nghiêm minh của pháp luật. Công tác đôn đốc nộp phạt với các đối tượng không có khả năng, điều kiện về tài chính còn hạn chế, nhất là theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì chỉ những Quyết định nào có mức phạt trên 3.000.000 đồng mới được đề xuất miễn, giảm hình phạt. Điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc xử lý đối với những Quyết định có mức phạt thấp hơn.

( Hướng dẫn cưỡng chế khấu trừ tiền phạt của người vi phạm tại ngân hàng thương mại)

Có nhiều trường hợp người vi phạm bị xử lý hành chính không nộp tiền phạt. Theo quy định sau 10 ngày giao quyết định nếu người vi phạm không chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, quy trình thực hiện cưỡng chế hành chính chưa có quy định cụ thể nên khó khăn cho việc thi hành cưỡng chế hành chính. Do đó, nhiều trường hợp vi phạm hành chính đến 2 lần vẫn không chấp hành việc nộp phạt.

5. Một số vướng mắc khác

Việc thực hiện các hình thức phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn, tịch thu giấy phép, tiêu hủy đồ vật tài sản bị thu giữ còn chưa được chú trọng. Đặc biệt việc tịch thu, tiêu hủy các đồ vật có giá trị không lớn hoặc không có giá trị như bộ tú để chơi đánh bạc, ma túy… thủ tục còn phức tạp nên nhiều đơn vị mới chỉ xử lý vi phạm mà không quan tâm nhiều đến vấn đề này.

(Tổng hợp quy định pháp luật quy định về nơi công cộng)

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định chỉ được áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay nhưng hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác. Việc quy định quá hạn hẹp những trường hợp được áp dụng biện pháp giữ người theo thủ tục hành chính đã gây khó khăn trong quá trình áp dụng, trong nhiều trường hợp đối tượng có nhiều hành vi vi phạm khác nhau như đánh bạc, trộm cắp tài sản…, cần có thời gian đế xác minh, làm rõ hành vi, hậu quả, thiệt hại, đặc biệt là xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm (nhất là đối với những tội có quy định đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trên) nhưng đối tượng lại không có nơi cư trú ổn định, nếu không tạm giữ hành chính thì đối tượng bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý về sau.

Rubi