Top 10 # Xây Dựng Pháp Luật Dân Sự Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự Trở Thành Luật Chung Của Hệ Thống Pháp Luật

Theo chương trình kỳ họp thứ 9, Quốc hội sẽ nghe Báo cáo kết quả lấy ý kiến nhân dân và dự kiến tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) và Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi). Đây là lần sửa đổi lớn với mục đích xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; qua đó ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

* Thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng

Tại kỳ họp thứ 9, dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) được Quốc hội xem xét lần thứ 2 sau khi tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp vào 10 vấn đề lớn của dự thảo. Theo Báo cáo kết quả lấy ý kiến nhân dân và tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), đa số ý kiến đánh giá dự thảo Bộ luật được xây dựng công phu, thể chế hóa được đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng đã được xác định tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và Chiến lược Cải cách tư pháp; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn đặt ra trong quá trình tổng kết việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005 về cơ bản đều đã có phương hướng giải quyết hợp lý trong dự thảo Bộ luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo bộ luật vẫn còn nhiều lỗi về mặt kỹ thuật văn bản; một số quy định có nội dung hoặc chưa rõ ràng, chưa hợp lý hoặc chưa giải quyết được triệt để các vấn đề phát sinh trong thực tiễn giao lưu dân sự.

Những vấn đề này cần được khắc phục để bảo đảm quy định của Bộ luật Dân sự thực sự trở thành những chuẩn mực pháp lý trong ứng xử của người dân, trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn, ít rủi ro hơn cho người dân, cho các hoạt động kinh tế nói riêng và cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung và trong hội nhập quốc tế.

* Cần ghi nhận sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu độc lập

Hình thức sở hữu là một trong 10 nội dung đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Vấn đề này tồn tại hai loại ý kiến cơ bản. Đa số ý kiến nhất trí với quy định như trong dự thảo Bộ luật, theo đó, bên cạnh sở hữu riêng, sở hữu chung thì cần ghi nhận sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu độc lập. Loại ý kiến này cho rằng, Bộ luật dân sự cần ghi nhận hình thức sở hữu toàn dân để phù hợp với Hiến pháp (Điều 53), phù hợp với tầm quan trọng về khách thể của sở hữu toàn dân cũng như cơ chế thực hiện quyền sở hữu này.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị, hình thức sở hữu được quy định trong Bộ luật dân sự chỉ bao gồm sở hữu riêng và sở hữu chung. Đối với sở hữu toàn dân, việc thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân mang yếu tố chính trị – kinh tế rất phức tạp nên cần được điều chỉnh ở các luật chuyên ngành.

Chính phủ nhất trí theo loại ý kiến đa số nêu trên và cho rằng, việc Bộ luật dân sự quy định hình thức sở hữu toàn dân là cần thiết để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân và trong tạo cơ chế pháp lý để Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ thể đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong các quan hệ dân sự.

* Xác định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Hiện có ba loại ý kiến cơ bản về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đa số ý kiến nhất trí với quy định như trong dự thảo Bộ luật, theo đó, chủ thể quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, còn về hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì Bộ luật dân sự quy định như là những thực thể pháp lý để thông qua đó, cá nhân thay mặt, đại diện cho các thành viên tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị, dự thảo bộ luật cần tiếp tục ghi nhận hộ gia đình và tổ hợp tác là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự như Bộ luật dân sự hiện hành vì đây là những thực thể đang tồn tại trong xã hội, tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật dân sự, như quan hệ sử dụng đất, điện, nước…; phù hợp với các điều kiện đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình và lịch sử của nước ta. Các hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về hộ gia đình, tổ hợp tác hiện nay là có thật nhưng có thể khắc phục được trong quá trình hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho hộ gia đình, tổ hợp tác tồn tại và phát triển.

Chính phủ nhất trí theo loại ý kiến đa số nêu trên. Về hộ gia đình, Chính phủ cho rằng, xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của nước ta, hộ gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong việc tham gia sản xuất, kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.

Luật đất đai (từ năm 1993 đến nay) luôn quy định hộ gia đình là chủ thể được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự hiện hành đã cụ thể hóa vấn đề này bằng việc ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, pháp luật đang điều chỉnh hộ gia đình ở trạng thái “tĩnh”, trong khi đó các quan hệ trong hộ gia đình, thành viên của hộ gia đình, người đại diện, tài sản chung, trách nhiệm pháp lý của các thành viên… thường có sự biến động (do tách, nhập, sinh, tử, kết hôn…). Điều đó đã làm phát sinh rất nhiều bất cập, hạn chế trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình.

Tổng kết thi hành Bộ luật dân sự cho thấy, hộ gia đình cũng rất ít tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể của các quan hệ này. Mặt khác, thực chất đó là sự tham gia của cá nhân thành viên, vì họ (chủ hộ hoặc thành viên hộ gia đình) chính là người có quyền, nghĩa vụ dân sự và chịu trách nhiệm dân sự vô hạn bằng toàn bộ tài sản riêng của mình trong các quan hệ pháp luật dân sự mà hộ gia đình tham gia. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, hầu như không có nguyên đơn hoặc bị đơn là hộ gia đình.

Về tổ hợp tác, Chính phủ cho rằng, tổ hợp tác là thực thể pháp lý đã và đang tham gia giao lưu dân sự, đóng vai trò nhất định trong việc phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi, khu vực có khó khăn. Tuy nhiên, xét về phương diện chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì tổ hợp tác thực chất là một nhóm cá nhân liên kết và tham gia quan hệ dân sự thông qua hợp đồng.

Do đó, việc điều chỉnh pháp luật đối với thực thể này bằng chế định hợp đồng hợp tác là hợp lý, vừa phù hợp với bản chất pháp lý vừa phù hợp với thực tiễn giao lưu dân sự hiện nay. Dự thảo Bộ luật đã bổ sung hợp đồng hợp tác là một trong những loại hợp đồng thông dụng (từ Điều 520 đến Điều 528) để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của thực thể pháp lý này trong thực tiễn.

Đồng thời, tiếp thu ý kiến Nhân dân về việc dự thảo Bộ luật cần làm rõ hơn địa vị pháp lý của cá nhân thành viên, về tài sản chung của các thành viên và trách nhiệm dân sự phát sinh trong các quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, Chính phủ đã chỉ đạo chỉnh lý quy định về vấn đề này theo hướng: Xác định mỗi thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của các thực thể pháp lý này.

Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất tham gia quan hệ pháp luật dân sự thì việc xác định chủ thể được thực hiện theo quy định của Luật đất đai (Điều 102). Quy định căn cứ riêng, tách biệt về xác định tài sản chung của các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân (Điều 103)…

Các vấn đề khác về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự; quyền nhân thân của cá nhân; chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu; đ iều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu… cũng đã được lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.

Bt Xây Dựng Tình Huống Luật Dân Sự 1_Thừa Kế

Tình Huống Ông A là cán bộ xã Cố Nghĩa, huyện Lạc Thủy, Tỉnh Hòa bình, cả cuộc đời ông sinh sống và làm việc đây. Năm 1962 ông kết hôn với bà B và có hai người con chung là chị C và chị D. Vào năm 1971, ông A do không còn tình cảm với bà B và muốn kiếm một đứa con trai để nối dõi tông đường nên đã bỏ mẹ con bà B để chung sống với bà T như vợ chồng và đã có với bà T hai người con chung là anh N và anh M. Vào tháng 3 năm 2007, chị C gặp tai nạn giao thông và đã chết trên đường đi cấp cứu. Trước đó, chị C đã kết hôn với anh H và có hai nguời con là E năm nay 19 tuổi và F 20 tuổi. Sau khi chị C chết toàn bộ tài sản do anh H nắm giữ. Vì vậy tháng 5 năm 2007, ông A đã kiện đến tòa án xin chia di sản của chị C. Tòa án đã xác định: Tài sản chung hợp nhất của chị C và anh H còn lại 240.000.000 đồng. Sau khi di sản của chị C được chia ông bà A, B đã đưa phần di sản được thừa kế của mình vào tài sản chung của hai vợ chồng. Tháng 9 năm 2009, ông A chết do tuổi già. Khi còn sống ông A rất quý E là đứa cháu trai, con của chị C. Vì vậy khi qua đời ông A đã để lại di chúc cho cháu E, và hai người con trai M,N mỗi người được 1/4 di sản, chị D là con gái nên không được ông A để lại di chúc. Còn 1/4 di sản còn lại, ông không định đoạt trong di chúc mà để lại, phòng khi có lúc dùng đến. Khi ông A chết bà B đã đứng ra làm mai táng cho ông hết 10.000.000 đồng, từ tài sản chung hợp nhất giữa hai vợ chồng. Tháng 12/2009, bà B đã kiện đến Tòa án xin được hưởng thừa kế của ông A, đồng thời bà đề nghị tòa xem xét lại việc chia di sản thừa kế của chị C vì bà cho rằng bà là mẹ của chị C nhẽ ra phải được hưởng nhiều hơn .Tòa án xác định được: 1) Tài sản chung hợp nhất của ông A và bà B còn lại là 710.000.000 đồng. 2) Tài sản của ông A và bà T chung nhau có 1.920.000.000 đồng. Giải quyết của Tòa án Tại thời điểm chị C chết: Trước hết, xác định di sản của chị C trong khối tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng: C = 240.000.000 đồng : 2 = 120.000.000 đồng. Chị C không để lại nghĩa vụ tài sản nào với người khác mà chưa thanh toán, do vậy di sản sản thừa kế của chị có trọn vẹn 120.000.000 đồng. Chị C chết mà không để lại di chúc nên di sản của chị được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của chị C gồm ông A, bà B, anh H hai người con là E và F. Trong đó không có ai bị vi phạm Điều 635,643 BLDS. Như vậy cả ông A, bà B, anh H và hai người con E,F đều được hưởng di sản của chị C mỗi người một phần bằng nhau. A=B=H=E=F= 120.000.000 đồng : 5 = 24.000.000 đồng. Như vậy bà B sẽ không được hưởng nhiều hơn như yêu cầu của bà. Tại thời điểm ông A chết: nhận thấy ông A đã có vợ là bà B nhưng sau đó lại chung sống với bà T như vợ chồng và đều sinh sống ở Miền Bắc. Như vậy theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ở miền Bắc thì quan hệ giữa ông A và bà T là quan hệ trái pháp luật, do vậy bà T không phải là vợ của ông A. Theo tình huống trên không có căn cứ để xác định công sức của ông A và bà T cùng tạo khối tài sản chung theo phần, thì coi như phần quyền tài sản của ông A và bà T là ngang nhau và phần tài sản của ông A chung với bà T vẫn thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng ông A và bà B mà không phải là tài sản riêng của ông A. Bà B mai táng cho ông A hết 10.000.000 đồng từ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Như vậy tài sản chung hợp nhất của vợ chồng ông A, bà B có được trong thời kì hôn nhân hợp pháp là: = 710.000.000 đồng + 10.000.000 đồng + ( 1.920.000.000 đồng : 2) = 1.680.000.000 đồng. Theo quy định của pháp luật thì di sản thừa kế của ông A được xác định từ tài sản chung hợp nhất với bà B là: A=1.680.000.000 đồng : 2 =840.000.000 đồng. Theo điều 683 BLDS thì mai táng phí được trừ vào di sản của người chết. Vậy phần di sản còn lại của ông A là: A =840.000.000 đồng -10.000.000 đồng = 830.000.000 đồng. Theo tình huống ông A để lại di chúc cho E, M, N mỗi người hưởng 1/4 di sản. Vậy E=M=N= 830.000.000 đồng : 4 = 207. 500.000 đồng. Phần di sản còn lại, ông A không định đoạt nên được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông A bao gồm bà B, và bốn người con C,D,M,N. (bà T không phải vợ ông A nên không được hưởng). Trong đó không có ai vi phạm Điều 635, 643 BLDS. Như vậy: B=C=D=M=N= 207.500.000 đồng : 5 = 41.500.000 đồng. Tuy nhiên vì C đã chết trước ông A nên không được nhận di sản, nhưng theo Điều 677 BLDS thì hai người con E, F của C sẽ được hưởng thừa kế vị thay phần di sản mà nhẽ ra C được hưởng. Vậy: E=F= 41.500.000 đồng : 2 = 20.750.000 đồng. Bà B đã được hưởng phần di sản là 41.500.000 đồng. Nhưng theo điều 669 BLDS thì bà B phải được hưởng phần di sản tối thiểu là B=(830.000.000 đồng : 5) x 2/3 = 110.666.000 đồng. Vậy bà B còn phải được nhận thêm một phần di sản nữa là: 110.666.000 đồng – 41.500.000 đồng = 69.166.000 đồng. Theo tình huống E, M,N mỗi người được hưởng theo di chúc 1/4 di sản, nên phần di sản còn thiếu của bà B được chia đều cho E,M,N mỗi người chịu một phần bằng 69.166.000 đồng : 3 = 23.055.000 đồng. Vậy phần di sản mà E,M,N được hưởng là: E= 207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng M=207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng N=207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng

Sang Nhật Bản Học Tập Kinh Nghiệm Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự

Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, hoạt động này nằm trong khuôn khổ hoạt động hợp tác giữa Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Bộ Tư pháp Việt Nam. Chuyến đi diễn ra từ ngày 1/3/2015 đến ngày 14/3/2015 do ông Đinh Trung Tụng – Thứ trưởng Bộ Tư pháp – dẫn đầu.

Bộ luật Dân sự hiện hành có hiệu lực từ năm 2006 với 777 điều.

Tham gia đoàn gồm có ông Trần Đình Long – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đại diện Thường trực Tổ biên tập dự án Bộ luật Dân sự, Văn phòng Quốc hội (Vụ Pháp luật, Vụ Tư pháp), Vụ Pháp luật của Văn phòng Chính phủ, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nhật Bản Yoko Kamikawa, ông Đinh Trung Tụng cho biết mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam quyết tâm xây dựng Bộ luật Dân sự và hệ thống pháp luật đáp ứng tốt hơn việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Ông Tụng đề nghị Bộ Tư pháp Nhật Bản, JICA, các giáo sư và chuyên gia Nhật Bản tiếp tục có những hỗ trợ Việt Nam để thực hiện mục tiêu nêu trên trong giai đoạn 3 của dự án hỗ trợ tư pháp.

Dự kiến đoàn công tác liên ngành sẽ tiếp tục làm việc, trao đổi với các giáo sư Nhật Bản xung quanh những nội dung quan trọng về vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sư, về cá nhân, pháp nhân, quyền sở hữu và các vật quyền khác, nghĩa vụ và hợp đồng.

Bộ luật Dân sự được lấy ý kiến rộng rãi tới hết ngày 5/4. Ba đầu mối tiếp nhận góp ý gồm: Chính phủ, UBND; Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; TAND Tối cao và VKSND Tối cao.

Theo đại diện Bộ Tư pháp, 10 vấn đề trọng tâm của bộ luật sửa đổi bao gồm: quyền nhân thân; bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu khởi kiện vụ việc dân sự, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác; điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi…

So với bộ luật hiện hành (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 gồm 777 điều), dự thảo Bộ luật Dân sự lần này giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 170 điều, bãi bỏ gần 150 điều.

Bộ Tư pháp khẳng định người dân sẽ được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp ý kiến. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ tổng hợp đầy đủ, chính xác để ban soạn thảo nghiên cứu và hoàn thiện dự thảo.

Thế Kha

Bộ Luật Dân Sự Pháp

Posted on by Civillawinfor

: Code Civil) còn gọi là Bộ luật Napoléon là bộ luật về dân sự được kiến lập bởi Napoléon Bonaparte vào năm . Với Code Civil có lẽ Napoléon đã tạo nên một tác phẩm luật quan trọng nhất của thời kỳ Hiện đại. Tại , về nhiều phần cơ bản, bộ luật Napoléon này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.

Lịch sử

Các phác thảo đầu tiên cho một bộ luật dân sự đã được tiến hành ngay từ trong những năm 1793 đến 1797 của cuộc Cách mạng Pháp. Năm 1800 Napoléon chỉ định một ủy ban bốn người dưới sự lãnh đạo của Jean-Jacques Régis de Cambacérès để tạo thống nhất trong luật pháp. Cho đến thời điểm đó trong miền Nam nước Pháp Luật La Mã vẫn còn hiệu lực, trong miền Bắc là luật theo tập quán được truyền lại cũng như là luật tạm thời của Cách mạng Pháp trong một vài năm. Mục đích của ủy ban là tạo nên một gạch nối giữa Luật La Mã và luật theo tập quán và đặc biệt là giữa Luật La Mã và luật cách mạng. Tư tưởng của cuộc Cách mạng Pháp thể hiện trước tiên là trong nguyên tắc tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ và sự tự do của cá nhân và của sở hữu cũng như là chia cắt nghiêm ngặt giữa nhà thờ và quốc gia. Một tác phẩm 5 tập của luật sư Jean Domat được xem như là nguồn quan trọng cho bộ luật.

Bộ luật cũng được đưa vào áp dụng trong các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của Pháp trong thời gian từ 1807 đến 1814 (thí dụ như Đại công quốc Warszawa ( tiếng Anh: Warsaw), Đại công quốc Luxembourg, Mexico, Ai Cập, một số bang của Hoa Kỳ hay Vương quốc Hà Lan). Tại Đức bộ luật này có hiệu lực trực tiếp trong các vùng tả ngạn sông Rhein do nước Pháp chiếm đóng, trong một số quốc gia của Liên minh Rhein ( tiếng Đức: Rheinbund) ( Vương quốc Westfalen, Frankfurt am Main, Berg, Anhalt-Köthen) bộ luật được đưa vào sử dụng không có thay đổi lớn.

Chỉ trong vòng vài năm bộ luật đã có hiệu lực từ Lissabon đến Vacsava và từ Hà Lan cho đến bờ biển Adria. Thất bại của Napoléon tại Waterloo đã không kìm hãm được việc truyền bá bộ luật này: đặc biệt là ở Tây Âu và Nam Âu cũng như là ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ các bộ luật đều hướng về Code Civil. Tuy vậy một vài quy định có nguồn gốc từ cuộc cách mạng cũng là điểm yếu: tại nhiều vùng quyền kế thừa ngang nhau của tất cả các người con dẫn đến việc chia cắt sở hữu đất đai thành những mảnh đất nhỏ không còn mang lại lợi tức; phụ nữ bị đặt dưới quyền của một người giám hộ và vì vậy đã bị đặt vào một vị trí bất lợi chưa từng có, việc li dị ưu tiên một phía cho người đàn ông.

Tại Pháp trong số 2.285 điều khoản hiện đang có hiệu lực của bộ luật là vẫn còn 1.200 điều khoản phù hợp với tác phẩm nguyên thủy.

Năm 2004 tại 22 quốc gia đã có lễ kỷ niệm 200 năm ngày thành lập tác phẩm này.

Nội dung

Từ khi có hiệu lực vào năm 1804 Bộ luật Dân sự Pháp được chia thành 3 quyển:

Livre I: Des personnes (Cá nhân)

Livre II: Des biens et des différentes modifications de la propriété (Tài sản và thay đổi khác của sở hữu)

Livre III Des différentes manières dont on acquiert la propriété (Các cách khác nhau để đạt được sở hữu)

Năm 2000 quyển thứ tư ( Dispositions applicables à Mayotte) được thành lập quy định về việc áp dụng của bộ luật trên lãnh thổ hải ngoại Mayotte.

*********************************