Top 4 # Xử Lý Kỷ Luật Hành Chính Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính được đặt ra nhằm bảo đảm sự công bằng, minh bạch, đúng pháp luật của chủ thể thi hành quy định về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 22 Nghị định 19/2020/NĐ-CP quy định 19 hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đó là các hành vi:

1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính.

3. Không xử phạt vi phạm hành chính; không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật.

4. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật.

5. Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

6. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

7. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

8. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

9. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

11. Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra.

12. Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra.

13. Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức.

14. Không thực hiện kết luận kiểm tra.

15. Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra.

16. Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.

17. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.

18. Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.

19. Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.

Quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật theo một trong số các hình thức sau:

– Khiển trách;

– Hạ bậc lương;

– Giáng chức;

– Cách chứcchức;

– Buộc thôi việc.

Thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật.

Việc xem xét, tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật cũng được áp dụng trong trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do hoàn cảnh khách quan hoặc do lỗi của đối tượng vi phạm hành chính.

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Kiểm Tra, Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Mục đích kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhằm xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; động viên, khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phát hiện những hạn chế, vướng mắc, bất cập, sai sót, vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính để kịp thời chấn chỉnh, xử lý, khắc phục…  

Nổi bật, Điều 22 của Nghị định quy định 19 hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: 1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính. 2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính. 3. Không xử phạt vi phạm hành chính; không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật. 4. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật. 5. Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính. 6. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính. 7. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính. 8. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. 9. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính. 11. Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra. 12. Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra. 13. Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức. 14. Không thực hiện kết luận kiểm tra. 15. Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra. 16. Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện. 17. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính. 18. Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra. 19. Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.

Ngoài ra, việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc được quy định rõ từ Điều 23 đến Điều 29 của Nghị định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 31 tháng 3 năm 2020. Các quy định về xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại các Điều 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 và 29 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020./.

Ngoại Tình Có Bị Xử Lý Kỷ Luật Hoặc Xử Phạt Hành Chính Không?

“Ngoại tình bị xử phạt thế nào? kỷ luật đảng, phạt hành chính, hay phạt tù? Đáp: 1. Đối với cán bộ, công chức, đảng viên:

Hiện nay, Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể về mức phạt đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi ngoại tình hoặc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

Tuy nhiên, tùy theo nội quy, quy chế cụ thể của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định riêng. Vì vậy, việc công chức ngoại tình có bị xử lý kỷ luật hay không và mức kỷ luật như thế nào phụ thuộc vào quy chế nội bộ của từng cơ quan, đơn vị.

Người là đảng viên mà vi phạm chế độ hôn nhân gia đình như “ngoại tình” có thể bị khai trừ đảng mà không cần xem xét tới hậu quả như thế nào (Vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng).

2. Đối với công dân không phải là cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên:

Công dân có thể bị xử phạt hành chính theo điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP) quy định phạt từ 01 – 03 triệu đồng đối với người hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, cụ thể như sau:

– Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn với người khác; chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

– Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Lưu ý: Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm cũng bị xử phạt hành chính như một công dân, bên cạnh kỷ luật theo quy định nội bộ. 3. Xử lý hình sự – phạt tù nếu vi phạm nghiêm trọng:

Cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên hay công dân còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Điều 182 của Bộ luật Hình sự.

Việc xử lý hình sự được áp dụng nếu cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm hoặc làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn. Mức phạt từ cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Nếu có thêm các tình tiết tăng nặng như:

Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; Đã có quyết định của Tòa án buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng mà vẫn duy trì quan hệ thì mức phạt có thể lên đến 03 năm tù.

Như vậy, Cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, hay bất kỳ công dân đều có thể bị xử phạt hành chính, xử lý hình sự về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân gia đình – “ngoại tình”.

Chưa Nghiên Cứu Ra Quy Trình Xử Lý Kỷ Luật Hành Chính Ông Vũ Huy Hoàng

Theo ông Nguyễn Hạnh Phúc, Tổng thư ký Quốc hội, vẫn chưa nghiên cứu ra quy trình xử lý ông Vũ Huy Hoàng (ảnh Như Ý).

Theo ông Phúc, sau khi Ban Bí thư có chỉ đạo, Chính phủ giao cho bộ Nội vụ và Quốc hội giao cho Uỷ ban Pháp luật, Ủy ban Tư pháp và đại biểu nghiên cứu quy trình, quy định của pháp luật để xử lý đối với trường hợp của ông Vũ Huy Hoàng.

“Chúng ta nghiên cứu xem trình tự thế nào, bên Đảng đã cách chức Ban cán sự đảng, còn về chính quyền tính pháp lý thế nào khi xử lý một người không còn chức vụ đó nữa, Quốc hội cũng đã miễn nhiệm rồi. Chúng ta phải đảm bảo tính nghiêm minh nhưng cùng phải đảm bảo tính pháp lý, các cơ quan đang nghiên cứu”.

Ông Phúc cũng cho biết, các cơ quan của Chính phủ và Quốc hội cũng đã bàn với nhau nhiều lần, nhưng đến nay vẫn chưa ra được quy trình xử lý. Lý do là quy định của pháp luật dường như chưa có, trước đây chưa có bao giờ cả nên mới khó.

“Tiền lệ pháp luật chưa có quy định nào như thế cả nên bây giờ làm thì phải đảm bảo đúng pháp lý. Các cơ quan đang nghiên cứu để tham mưu cho chính xác. Ban Bí thư giao Đảng đoàn và ban cán sự Đảng Chính phủ nghiên cứu, tìm giải pháp nào cho phù hợp, đúng pháp luật. Ban bí thư không giao phải thế này phải thế kia, mà giao trên cơ sở tính pháp lý để đảm bảo tính nghiêm minh”, ông Phúc cho hay.

Trước đó, Ban bí thư đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương trong thời gian 2011 – 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng. Ban Bí thư cũng đề nghị Ban cán sự đảng Chính phủ phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo thực hiện quy trình xử lý kỷ luật về hành chính đối với ông Vũ Huy Hoàng bảo đảm đồng bộ, kịp thời với kỷ luật Đảng theo quy định.

Sau đó, Thủ tướng cũng đã giao Bộ trưởng Nội vụ, ủy viên Ban cán sự đảng Chính phủ thay mặt Ban cán sự đảng Chính phủ làm việc với Ban Tổ chức TƯ, Văn phòng Chủ tịch nước, Ban Công tác đại biểu của Uỷ ban Thường vụ QH và các cơ quan để thống nhất quy trình xử lý kỷ luật về hành chính đối với ông Vũ Huy Hoàng theo đúng ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư và các quy định của pháp luật, báo cáo Ban cán sự đảng Chính phủ trước ngày 10/11.

Theo Tiền Phong