Top 5 # Xử Lý Quyết Định Hành Chính Sai Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachkhunglong.com

Xử Lý Văn Bản Hành Chính Sai

Giáo Trình Lý Luận Hành Chính Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Tìm Hiểu Về Cưỡng Chế Hành Chính Và Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính, Các Hành Vi Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Y Dược Và Mức Xử Phạt, Báo Cáo Giải Trình Thi Hành Pháp Luật Về Xứ Lý Vi Phạm Hành Chính, Báo Cáo Kết Quả Thi Hành Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Trong Môi Trường Của Bộ Tài Nguyên Môi Trườn, Bb Tiêu Hủy Tang Vật Vi Phạm Hành Chính Ban Hành Kèm Theo Thoòng Tư Số 34/2014/tt – Bca Ngày 15/8/20, Bb Tiêu Hủy Tang Vật Vi Phạm Hành Chính Ban Hành Kèm Theo Thoòng Tư Số 34/2014/tt – Bca Ngày 15/8/20, Quyết Định Số 3660/qĐ-ubnd Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính Năm 2017., Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của , Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của, Sử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Thi Hành án Dân Sự, Tờ Trình Về Dự án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Hướng Dẫn Thực Hành Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Định Ban Hành Chế Độ Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Định Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính, Quy Trình Xây Dựng Và Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tình Hình Ban Hành Văn Bản Hành Chính ở Địa Phương, Báo Cáo Kết Quả Thi Hành Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Trong Môi Trường, Bài Tập Thực Hành Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính Năm 2019, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Báo Cáo Sơ Kết 3 Năm Thi Hành Luật Tố Tụng Hành Chính 2015, Quyết Định 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị, Tham Luận Nâng Cao Công Tác Tài Chính Trong Hành Chính Sự Nghiệp, Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong, Quyết Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị, Cải Cách Hành Chính Ngành Tài Chính: Thành Tựu 2017 – Kế Hoạch 2018, Quyết Định 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Tr, Quyết Định 438 Của Tổng Cục Chính Trị Trong Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị , Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Quyết Định Số 438 Ngày 21/3/2016của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong, Quyết Định Số 438 Ngày 21/3/2016của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong , Ai Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tiểu Luận Thủ Tục Hành Chính Thi Hành án Dân Sự, Đơn Khởi Kiện Hành Vi Hành Chính, Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị …, Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Tài Chính Công Hướng Tới Gfmis, Luận Văn Tốt Nghiệp Trung Cấp Chính Trị Hành Chính, Tờ Trình Của Chính Phủ Về Dự án Luật Tố Tụng Hành Chính, Báo Cáo Tài Chính Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Thủ Tục Hành Chính Qua Dịch Vụ Bưu Chính Công ích, Mẫu Đơn Khiếu Nại Hành Vi Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành án Hành Chính, Báo Cáo Tài Chính Đơn Vị Hành Chính Sự Nghiệp, Văn Bản Hành Chính Hoàn Chỉnh, Ngày 28/02/2018, Bộ Chính Trị Ban Hành Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính, Ngày 28/02/2018, Bộ Chính Trị Ban Hành Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính , Quản Lý Tài Chính Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Làm Gì, Thủ Tục Hành Chính Một Cửa, Thủ Tục Hành Chính Là, Thủ Tục Hành Chính Kho Bạc, Thủ Tục Hành Chính Là Gì, Thủ Tục Hành Chính Khi Ly Hôn, Thủ Tục Hành Chính Mới, Văn Bản Hành Chính Lớp 6, Thủ Tục Hành Chính Là Gì Ví Dụ, Yêu Cầu Của Một Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Lào Cai, Yêu Cầu Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Là Gì Nêu 01 Ví Dụ, Thủ Tục Hành Chính Kon Tum, Thủ Tục Hành Chính Mua Bán Nhà Đất, Xử Lý Văn Bản Hành Chính Sai, Một Số Văn Bản Hành Chính Mẫu, Một Số Văn Bản Hành Chính, Mẫu Văn Bản Hành Chính Cấp Xã, 6 Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Văn Bản Hành Chính Mới, Mẫu Văn Bản Hành Chính Pdf, Thủ Tục Hành Chính ở Cấp Xã, Văn Bản Hành Chính Van 7, án Hành Chính 08, Thủ Tục Hành Chính Mức Độ 3 4, Thủ Tục Hành Chính Mức Độ 3, Quy ước Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Mức Độ 2, Văn Bản Hành Chính Về Đất Đai, Vai Trò Của Văn Hóa Hành Chính, Mẫu Văn Bản Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Ví Dụ, Thủ Tục Hành Chính Mức Độ 2 Là Gì, Mức Độ 3 Thủ Tục Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Nội Bộ, Thủ Tục Hành Chính Kết Hôn, Văn Bản Hành Chính, Các Văn Bản Hành Chính Cấp Xã, Tải Mẫu Văn Bản Hành Chính, Các Bài Văn Bản Hành Chính, “hành Chính Học”, Bộ Thủ Tục Hành Chính Đề án 30, Ngữ Văn 7 Văn Bản Hành Chính, Đề án 30 Thủ Tục Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Đơn, Văn Bản Hành Chính Gồm, Văn Bản Hành Chính Là, Các Văn Bản Hành Chính Lớp 7,

Giáo Trình Lý Luận Hành Chính Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Tìm Hiểu Về Cưỡng Chế Hành Chính Và Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính, Các Hành Vi Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Y Dược Và Mức Xử Phạt, Báo Cáo Giải Trình Thi Hành Pháp Luật Về Xứ Lý Vi Phạm Hành Chính, Báo Cáo Kết Quả Thi Hành Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Trong Môi Trường Của Bộ Tài Nguyên Môi Trườn, Bb Tiêu Hủy Tang Vật Vi Phạm Hành Chính Ban Hành Kèm Theo Thoòng Tư Số 34/2014/tt – Bca Ngày 15/8/20, Bb Tiêu Hủy Tang Vật Vi Phạm Hành Chính Ban Hành Kèm Theo Thoòng Tư Số 34/2014/tt – Bca Ngày 15/8/20, Quyết Định Số 3660/qĐ-ubnd Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính Năm 2017., Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của , Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của, Sử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Thi Hành án Dân Sự, Tờ Trình Về Dự án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Hướng Dẫn Thực Hành Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Định Ban Hành Chế Độ Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quyết Định Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính, Quy Trình Xây Dựng Và Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tình Hình Ban Hành Văn Bản Hành Chính ở Địa Phương, Báo Cáo Kết Quả Thi Hành Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Trong Môi Trường, Bài Tập Thực Hành Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính Năm 2019, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính, Báo Cáo Sơ Kết 3 Năm Thi Hành Luật Tố Tụng Hành Chính 2015, Quyết Định 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị, Tham Luận Nâng Cao Công Tác Tài Chính Trong Hành Chính Sự Nghiệp, Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong, Quyết Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị, Cải Cách Hành Chính Ngành Tài Chính: Thành Tựu 2017 – Kế Hoạch 2018, Quyết Định 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Tr, Quyết Định 438 Của Tổng Cục Chính Trị Trong Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị , Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Quyết Định Số 438 Ngày 21/3/2016của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong, Quyết Định Số 438 Ngày 21/3/2016của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong , Ai Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Tiểu Luận Thủ Tục Hành Chính Thi Hành án Dân Sự, Đơn Khởi Kiện Hành Vi Hành Chính, Số 438/qĐ-ct Ngày 21/3/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị …, Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Tài Chính Công Hướng Tới Gfmis, Luận Văn Tốt Nghiệp Trung Cấp Chính Trị Hành Chính, Tờ Trình Của Chính Phủ Về Dự án Luật Tố Tụng Hành Chính, Báo Cáo Tài Chính Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Thủ Tục Hành Chính Qua Dịch Vụ Bưu Chính Công ích, Mẫu Đơn Khiếu Nại Hành Vi Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành án Hành Chính, Báo Cáo Tài Chính Đơn Vị Hành Chính Sự Nghiệp, Văn Bản Hành Chính Hoàn Chỉnh, Ngày 28/02/2018, Bộ Chính Trị Ban Hành Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính, Ngày 28/02/2018, Bộ Chính Trị Ban Hành Quy Định Số 126-qĐ/tw Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ Chính ,

Xử Lý Đối Với Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Đã Ban Hành Có Sai Sót

Tuy nhiên thực tiễn thi hành việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vẫn có những trường hợp sai sót xảy ra như: xác định sai thẩm quyền, sai quy trình, thiếu thông tin trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng mức phạt không đúng quy định … Nguyên nhân do quy định của pháp luật chưa thống nhất dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu chính xác, bên cạnh đó một bộ phận cán bộ thực hiện nhiệm vụ chưa nhận thức đầy đủ đúng quy định pháp hoặc còn chủ quan trong việc thiết lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính…

1. Quy định xử lý đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót

Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”. Như vậy, chủ thể có thẩm quyền việc xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót bao gồm Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính do mình ban hành hoặc cấp dưới ban hành. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành gặp nhiều khó khăn do chưa có tiêu chí cụ thể khi nào thì đính chính, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nên việc xử lý đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi có sai sót rất ít được thực hiện trong thực tiễn thi hành. Để khắc phục khó khăn trên, ngày 18/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP bổ sung quy định chi tiết về tiêu chí để thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót; thời hạn thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; hiệu lực thi hành quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; thẩm quyền đính chính, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới ….như sau:

– Quyết định về xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định; có sai sót về nội dung nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định.

– Quyết định về xử lý vi phạm hành chính được đính chính khi có sai sót về kỹ thuật soạn thảo mà không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định.

– Khi phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính tự mình hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người đó có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính những nội dung sai sót trong quyết định.

– Quyết định sửa đổi, bổ sung, văn bản đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính là những văn bản gắn liền với quyết định về xử lý vi phạm hành chính đã được ban hành và được lưu trong hồ sơ xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy có 2 căn cứ để ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót đều là có sự ảnh hưởng nhất định về nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định. Trường hợp đính chính chỉ áp dụng đối với sai sót về kỹ thuật nhưng không ảnh hưởng về nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Thẩm quyền thực hiện là người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính những nội dung sai sót trong quyết định. Quyết định sửa đổi, bổ sung, văn bản đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính là một thành phần gắn liền với hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

– Người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:Có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính; Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp (Tình thế cấp thiết; phòng vệ chính đáng; sự kiện bất ngờ; sự kiện bất khả kháng; Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính; Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt; cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt; chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm; giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính; có quyết định khởi tố vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với vụ việc vi phạm có dấu hiệu tội phạm).

– Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định; Quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được ban hành dẫn đến việc thay đổi căn cứ, nội dung của quyết định về xử lý vi phạm hành chính.

– Trong các trường hợp sau đây, nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới: Các trường hợp có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính; ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc trường hợp pháp luật quy định không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính; có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.

Như vậy, khi xem xét việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính người có thẩm quyền phải dựa vào tính chất, mức độ sai sót để xác định hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định. Trường hợp ban hành quyết định mới phải có căn cứ rõ ràng.

– Quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính, văn bản đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực kể từ thời điểm ký hoặc thời điểm cụ thể ghi trong quyết định.

– Thời hạn thi hành quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 10 ngày làm việc, kể từ ngày cá nhân, tổ chức vi phạm nhận được quyết định. Đối với quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thì cá nhân vi phạm phải thi hành ngay khi nhận được quyết định.

– Thời hiệu thi hành quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ban hành quyết định. Đối với quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thì thời hiệu thi hành là 06 tháng, kể từ ngày ban hành quyết định.”

– Người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót và cơ quan của người đó phải kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành và thực hiện quyết định gây ra.

– Việc xem xét trách nhiệm được thực hiện như sau: Cơ quan của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót phải tổ chức việc kiểm điểm, xác định trách nhiệm của người đã ban hành, tham mưu ban hành quyết định đó, đồng thời xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình ban hành, tham mưu ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung có sai sót của quyết định, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; nếu gây thiệt hại thì phải hoàn trả theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị đề nghị xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Một số khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành

Thứ nhất, về căn cứ sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính chỉ giới hạn trong hai trường hợp có sai sót về kỹ thuật và sai sót về nội dung tuy nhiên quy định pháp luật chưa dự liệu những trường hợp phải sửa đổi, bổ sung do quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc quyết định, bản án của Tòa án nên rất khó khăn khi người có thẩm quyềntiếp nhận quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc quyết định, bản án của toán án có nội dung yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ ba, về thời hiệu thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính. “Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định…“. Việc quy định trên phù hợp với quy định về thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong Luật ” Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội. “. Tuy nhiên nội dung này tách ra hai trường hợp: phần phạt tiền trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính sẽ có thời hiệu thi hành là 01 năm, nhưng trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì không giới hạn thời hiệu để thi hành. Nhưng quy định chung về thời hiệu để sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính trong một năm là chưa phù hợp với quy định trên, nên khi áp dụng vào thực tiễn thi hành gặp nhiều khó khăn nhất là áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong một số lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, môi trường….những trường hợp sau một năm mới phát hiện ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót thì việc xử lý đối với phần tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong quyết định được thực hiện như thế nào. Nếu không xử lý thì không thể thi hành, không đảm bảo hiệu lực của quản lý nhà nước, mà thực hiện xử lý thì không phù hợp với quy định trên.

Thứ tư, về thời hạn ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung, đính chính, ban hành mới: Theo quy định tại điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: “07 ngày đối với vụ việc đơn giảm, 30 đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình và có thể gia hạn thêm 30 ngày đối với trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính “. Vậy việc xử lý khi có sai sót cần phải ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung, ban hành mới thì thời hạn ra quyết định được tính như thế nào khi mà việc phát hiện ra quyết định có sai sót đã hết thời hạn nêu trên kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Hơn nữa hiện nay Luật cũng chưa có quy định cụ thể về thời hạn ban hành quyết sửa đổi, bổ sung, đính chính, ban hành mới kể từ khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót dẫn đến thực tiễn thì hành còn tùy tiện, khiến nhiều vụ việc bị kéo dài thời gian xử lý.

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trên cần phải hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng sau:

– Bổ sung căn cứ để thực hiện sửa đổi, bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm: theo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.

– Căn cứ hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp vi phạm về quy trình cần nghiên cứu xem xét trên hai góc độ: có ảnh hưởng trực tiếp đến bản chất quyết định xử phạt vi phạm hành chính và không ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

– Về thời hiệu xử lý trường hợp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả cần nghiên cứu quy định theo hướng không quy định thời hiệu cụ thể để đảm bảo phù hợp với quy định về việc tổ chức thi hành quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

– Quy định cụ thể về thời hạn xử lý quyết định có sai sót theo từng trường hợp như việc quy định thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với hình thức xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót.

Xử lý Vi phạm Hành chính

Cần Quy Định Rõ Cơ Chế Xử Lý Khi Phát Hiện Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Có Sai Sót

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Cần quy định rõ cơ chế xử lý khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót

Khoản 3, Điều 18 của Luật quy định rõ ràng, cụ thể về cơ chế xử lý các các quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu có sai sót. Tuy nhiên, hiện nay các điều khoản của Luật và các văn bản hướng dẫn mang tính chất chuyên ngành không quy định, hướng dẫn cụ thể tiêu chí như thế nào để áp dụng biện pháp xử lý các quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót cho phù hợp. Nói cụ thể là Luật và các văn bản hướng dẫn Luật chưa quy định cụ thể trường hợp nào thì được áp dụng biện pháp sửa đổi, trường hợp nào được áp dụng biện pháp bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới.

– Đối với hình thức sửa đổi văn bản: Việc sửa đổi văn bản áp dụng trong trường hợp tại thời điểm ban hành thì văn bản đó đúng thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, có nội dung phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, với tình hình kinh tế – xã hội địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội và cần phải có quy định khác thay các nội dung không còn phù hợp đó. Sau khi sửa đổi thì văn bản bị sửa đổi vẫn tiếp tục có hiệu lực, chỉ có những điều, khoản bị sửa đổi là hết hiệu lực và được thay bằng các quy định mới của văn bản sửa đổi. Văn bản sửa đổi phải xác định rõ điều, khoản, nội dung trong văn bản bị sửa đổi. Cơ quan có thẩm quyền sửa đổi văn bản là cơ quan đã ban hành văn bản đó.

– Đối với hình thức bổ sung văn bản: Được áp dụng trong trường hợp văn bản đã ban hành phù hợp với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương. Tuy nhiên, nội dung của văn bản chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa toàn diện… nên cần thiết phải có quy định thêm để cho việc quy định trong văn bản đã ban hành được rõ ràng, toàn diện hơn, hiệu quả thi hành cao hơn. Cơ quan có thẩm quyền bổ sung là cơ quan đã ban hành văn bản đó. Khác với hình thức sửa đổi là thay một số quy định cũ bằng quy định mới do không còn phù hợp, thì hình thức bổ sung không làm mất đi bất cứ quy định nào của văn bản bị bổ sung, mà thêm vào một số quy định cho toàn diện hơn. Khái niệm sửa đổi và bổ sung thường hay đi liền với nhau, tuy nhiên cần phân biệt khi nào thì dùng khái niệm và áp dụng biện pháp sửa đổi, khi nào thì dùng khái niệm và áp dụng biện pháp bổ sung, khi nào có thể dùng khái niệm và áp dụng cả 2 biện pháp này.

– Đối với hình thức ban hành mới (thay thế văn bản): Là việc ban hành văn bản mới để thay văn bản cũ do đa số hoặc toàn bộ nội dung văn bản đó không còn phù hợp với văn bản mới được ban hành có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc không còn phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương. Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản thay thế là cơ quan đã ban hành văn bản đó. Trường hợp này, cần phân biệt hình thức thay thế văn bản với hình thức sửa đổi văn bản: Việc ban hành văn bản thay thế văn bản cũ khi không thể sửa đổi được, vì do đa số nội dung văn bản cũ không còn phù hợp nên nếu ban hành văn bản sửa đổi thì nội dung sửa đổi rất nhiều, làm phức tạp thêm tình trạng của văn bản bị sửa đổi, việc theo dõi, đối chiếu nội dung nào còn hiệu lực, hết hiệu lực khó khăn. Còn trong trường hợp toàn bộ nội dung văn bản không còn phù hợp thì phải ban hành văn bản mới để thay thế.

Từ các nội dung trên, trong việc xử lý các văn bản quy phạm pháp luật thì các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng áp dụng biện pháp phù hợp để xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh trong trường hợp này là các văn bản quy phạm pháp luật, không áp dụng đối với hình thức văn bản áp dụng pháp luật trong đó có quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, trường hợp áp dụng biện pháp xử lý các quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót có được vận dụng nguyên tắc này để giải quyết hay không thì Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn Luật không quy định và cũng không có tiêu chí phân định. Vì vậy, khi tổ chức thực hiện xử lý các quyết định xử lý vi phạm hành chính có sai sót các địa phương đều bị lúng túng, không biết xử lý như thế nào cho phù hợp và đúng Luật.

Dưới góc độ này thì Luật quy định cũng không rõ ràng nên không có cách hiểu và vận dụng thống nhất với nhau và mỗi địa phương, mỗi đơn vị đều áp dụng biện pháp xử lý theo một cách khác nhau. Bởi vì mỗi địa phương, mỗi đơn vị đều có cách giải thích theo quan điểm riêng sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Theo quy định của Luật thì: ” Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền “. Như vậy, Luật chỉ đề cập đến việc phát hiện ” quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót ” mà không đề cập đến toàn bộ quá trình xử lý vi phạm hành chính theo các trình tự, thủ tục như việc lập biên bản vi phạm hành chính, thủ tục xác minh, thủ tục giải trình (nếu thuộc trường hợp giải trình theo quy định)…. Như vậy trong trường hợp này người có thẩm quyền chỉ cần xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành để có biện pháp xử lý. Nếu như, quyết định xử phạt có sai sót thì người có thẩm quyền mới áp dụng các biện pháp quy định tại Khoản 3, Điều 18 của Luật để giải quyết, còn nếu như hình thức, nội dung của quyết định xử phạt không có sai sót thì không cần xem xét đến toàn bộ quá trình xử lý trước khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng với tinh thần của Luật.

Như nội dung đã phân tích nêu trên và theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định rất chặt chẽ, đòi hỏi tất cả các chủ thể thực hiện phải tuân thủ đúng quy định này. Nhìn chung, để xử lý một vụ việc xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền phải tuân thủ theo quy trình, thủ tục khép kín như sau:

Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính đang diễn ra, công chức đang thi hành công vụ phải thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật để buộc chấm dứt ngay hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm; Tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính (trừ trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản không phải lập biên bản vi phạm hành chính); Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính; Xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt ; T iến hành thực hiện thủ tục giải trình (nếu thuộc trường hợp có quyền giải trình); Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự (và/hoặc) chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến người có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính; Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Tống đạt quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để thi hành.

Như vậy, nếu qua kiểm tra, người có thẩm quyền phát hiện một trong những trình tự, thủ tục này có vi phạm, sai sót thì người thẩm quyền có quyền hủy bỏ toàn bộ các tài liệu, hồ sơ đã được xác lập để làm cơ sở cho việc xử phạt hay chỉ hủy bỏ, bổ sung những tài liệu có vi phạm. Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung để khắc phục những sai sót này do người thi hành công vụ lập biên bản vi phạm hành chính hoặc người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay là thủ trưởng của những người này xử lý các sai sót nói trên. Trình tự, thủ tục này được căn cứ theo quy định nào, đến thời điểm này chưa có văn bản hướng dẫn hoặc quy định nên thực tiễn thi hành địa phương, đơn vị không thể xử lý.

Thứ tư: Biện pháp ban hành mới không phù hợp về thẩm quyền xử phạt.

Theo quy định tại Chương II, Phần thứ hai của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì t hẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người có chức danh cụ thể được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51. Điều này, có nghĩa là chỉ những người có chức danh cụ thể được Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định trong từng điều, khoản (kể cả các chức danh được giao quyền) thì mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Còn những chức danh Luật không quy định thì không có thẩm quyền xử phạt cho dù người đó là thủ trưởng trực tiếp của những người có thẩm quyền xử phạt . Trường hợp này thường rơi vào chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc các Sở chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 46 của Luật thì Chánh thanh tra Sở có thẩm quyền: ” Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này” . Đồng thời, tại Khoản 5 của Điều này Luật cũng quy định: ” Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều này” . Như vậy, trong trường hợp này, đối với các chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với tư cách là Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành. Nếu không phải là Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành thì những người này, về nguyên tắc của Luật thì không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho dù những người này là thủ trưởng trực tiếp của chức danh Chánh Thanh tra cấp sở.

Tuy nhiên, trong thực tế thì có trường hợp Chánh Thanh tra cấp sở thông qua chức năng thi hành công vụ của mình theo quy định, phát hiện hành vi vi phạm hành chính và tiến hành ra Quyết định xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức theo thẩm quyền do Luật định đối với chức danh Thanh tra. Nếu Quyết định xử phạt vi phạm hành chính này của Chánh Thanh tra có sai sót cần phải xử lý theo quy định tại Khoản 3, Điều 18 thì Giám đốc (hoặc Phó Giám đốc Sở) không thể ban hành văn bản mới để xử phạt cá nhân, tổ chức đã có hành vi vi phạm vì trong trường hợp này Giám đốc (hoặc Phó Giám đốc Sở) không có thẩm quyền xử phạt vì không phải là cuộc thanh tra chuyên ngành. Như vậy, trong trường hợp này Giám đốc (hoặc Phó Giám đốc Sở) có được quyền ra Quyết định hủy bỏ Quyết định của Chánh thanh tra hay không thì Luật cũng không quy định rõ. Đồng thời nếu không ra quyết định xử phạt thì bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật, còn nếu ban Quyết định thì trái thẩm quyền vì trường hợp này không thuộc trường hợp Giám đốc (hoặc Phó Giám đốc Sở) có thẩm quyền xử phạt theo quy định.

Từ những bất cập, vướng mắc nêu trên trong thực tiễn thi hành biện pháp xử lý những sai sót trong việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 3, Điều 18 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, khi phát hiện có sai sót trong việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, các địa phương gần như “bỏ ngỏ” vấn đề xử lý nên phát sinh tình trạng khiếu nại của cá nhân, tổ chức hoặc không thể tổ chức thi hành Quyết định dẫn đến tình trạng tồn đọng, kéo dài hoặc không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành. Với vai trò được Chính phủ giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xử lý vi phạm hành chính, hy vọng rằng, từ những nội dung này Bộ Tư pháp sớm có những cơ chế hướng dẫn cụ thể nhằm tháo gỡ những vướng mắc như đã nêu trên, góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật của các địa phương./.

Lê Kim Chinh

Những Quyết Định Hành Chính Sai Pháp Luật

Diện tích nhà đất thuộc quyền sử dụng của 47 hộ dân nằm giữa ranh đường Nguyễn Thái Sơn và hàng rào công viên Gia Định được người dân sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993. Để thực hiện Dự án đường TSN-BL-VĐN (DA), ngày 04/01/2008, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Tín ký Quyết định số 19/QĐ-UBND về thu hồi đất trên địa bàn 4 quận, trong đó có 4.488,6m 2 nhà đất của 47 hộ dân theo danh sách được Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường lập ngày 05/11/2007. Nhận thấy quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, 47 hộ dân đã có đơn khiếu nại Quyết định số 19/QĐ-UBND, cũng như các quyết định thu hồi đất từng thửa của UBND quận Gò Vấp. Để hợp thức hóa việc thu hồi nhà đất của 47 hộ dân, ngày 25/8/2008, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí minh Nguyễn Thành Tài ký Quyết định 3659/QĐ-UBND về bổ sung mục đích thu hồi đất của người dân để trồng cây xanh cho DA theo quy hoạch được duyệt. Quyết định 3659/QĐ-UBND là phần không tách rời của Quyết định số 19/QĐ-UBND.

Kết luận số 158/KL-TTCP đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh điều chỉnh Quyết định số 19/QĐ-UBND về thu hồi đất đối với 47 hộ dân. Thay vì ban hành một quyết định điều chỉnh đúng pháp luật để phù hợp với thực tế là nhà đất của 47 hộ dân không thuộc DA thì ngày 27/10/2011, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Tín lại ký Quyết định số 5166/QĐ-UBND chỉ điều chỉnh 2.507,7m 2 nhà đất trong tổng số số 4.488,6m 2 nhà đất thuộc diện đất ở đô thị thuộc quyền sử dụng của người dân từ trước 15/10/1993. Tại điều 2 của quyết định này nêu rõ: Quyết định số 5166/QĐ-UBND là một bộ phận của Quyết định số 19/QĐ-UBND.

Luật sư Phạm Tấn Thuấn – Văn phòng luật sư Quốc Tuấn cho rằng: Nhà đất của 47 hộ dân đã chịu ảnh hưởng của 3 quyết định hành chính của các Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh. Hai quyết định đầu tiên đã được Thanh tra Chính phủ xác định là vi phạm pháp luật. Còn Quyết định số 5166/QĐ-UBND thể hiện sự thiếu nghiêm túc trong chấp hành pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra, sai với ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Khi nào 47 hộ dân hết khổ?

Không đồng tình với cách sửa sai nửa vời này, 47 hộ dân tiếp khiếu đề nghị Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh hủy bỏ các quyết định hành chính sai pháp luật, cũng như kiến nghị các cơ quan chức năng thực hiện đúng Kết luận số 158/KL-TTCP và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản 1753/KNTN-VPCP. Nhận thức được quyền và nghĩa vụ công dân về khiếu nại, 47 hộ dân đã nhiều lần gửi đơn với mong muốn được lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh tiếp xúc, lắng nghe tâm tư, kiến nghị của những hộ gia đình có truyền thống cách mạng hơn 10 năm qua đã chịu nhiều thiệt thòi do việc áp dụng pháp luật chưa phù hợp. Nhưng càng chờ đợi người dân càng thất vọng vì tất cả những kiến nghị mà 47 hộ dân gửi đi chỉ được nhận lại là sự im lặng đáng sợ của các cơ quan chức năng địa phương. Ngược lại, cứ vài tháng, người dân lại nhận được thông báo đo đạc nhà đất, thông báo bàn giao mặt bằng của UBND quận Gò Vấp, thậm chí là thông tin sẽ cưỡng chế thu hồi mặt bằng cho một số hạng mục như đường nối, vòng xoay,… của DA dù sự thật theo Kết luận số 158/KL-TTCP thì toàn bộ 4.488,6m2 nhà đất của 47 hộ dân không thuộc diện thu hồi.

Nếu thực sự công tâm, vì quyền lợi hợp pháp cho những công dân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, nên chăng các Sở, ngành cần kiến nghị lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh nên một lần gặp gỡ để lắng nghe toàn bộ sự việc để hiểu đúng, hiểu đủ về cảnh khổ mà của 47 hộ dân đã chịu đựng hơn 10 năm qua khi buộc phải sống tạm bợ dưới mái nhà đã xuống cấp do không được sửa chữa để đi khắp các cơ quan, gõ tất cả các cửa để gửi đơn khiếu nại với mong ước pháp luật được thực thi. Còn sòng phẳng theo pháp luật thì trách nhiệm tiếp công dân hàng tháng cũng như đối thoại trong giải quyết khiếu nại đã không được Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc kể từ 01/7/2012 khi Luật Khiếu nại có hiệu lực đối với vụ việc của 47 hộ dân dù thẩm quyền giải quyết đến thời điểm này vẫn thuộc về địa phương.